PDA

View Full Version : [ Huế ]- Mỗi ngày một danh lam


iunhoc
18-09-2010, 06:54 PM
Huế là thành phố du lịch gồm nhìu danh lam và thắng cảnh . Bên cạnh đó còn có những di sản nằm trong di sản văn hóa thế giới. Nếu bạn nào đã đến Huế rồi hẳn phải biết khí trời ở Huế thật là tuyệt . Chỉ hít thở thôi cũng cảm thấy sảng khoái . Mình cũng chẳng giỏi văn nên cũng chỉ tả đc đến ngang đấy nhưng mình đảm bảo sẽ rất là tiếc cho các bạn bỏ lỡ tour du lịch đến Huế . Ko chỉ nhìu danh lam thắng cảnh mà cả cả con người Huế cũng rất nhiệt tình.:panda81:

Mỗi ngày mình sẽ giới thiệu vs các bạn 1 trong những danh lam ở Huế

Ôi thân yêu bóng chùa Từ Đàm

Chùa tọa lạc ở phường Trường An, cách thành phố Huế khoảng 2 km về hướng Nam.

Cấu trúc chung của chùa được gọi là "kiểu chùa Hội" phối hợp giữa đường nét nghệ thuật kiến trúc mới và cũ, với yêu cầu rộng rãi, cao ráo, cổ kính nhưng đơn giản, Chùa Từ Ðàm có ba bộ phận quan trọng là tam quan, chùa chính và nhà Hội.

Cổng tam quan chùa cao, rộng, có mái ngói thanh nhã. Phía sau cổng có cây Bồ Ðề nơi Phật đắc đạo, do bà Karpeies, Hội trường hội phật học Pháp, Thỉnh từ Ấn độ qua Việt Nam tặng, được trồng vào năm 1936. Sân chùa rộng, bằng phẳng, thoáng mát, đủ chỗ để tập trung hàng ngàn người về dự lễ.


http://2hue.net/Upload_Data/image/2hue/oi%20than%20yeu.jpg
Chùa Từ Đàm trước khi được trùng tu

Chùa chính gồm tiền đường, chính điện và nhà Tổ. Tiền đường được xây trên một nền móng bằng đá hoa cương, cao 1,5 m, mái xây kiểu cổ lầu nên chùa vốn đã cao lại càng cao hơn. ở các bờ mái và trên nóc chùa là những cặp rồng uốn cong, mềm mại đối xứng nổi lên trên những dẫy ngói âm dương chạy dọc trông cân đối, hài hòa, đẹp mắt.

Dưới mái cổ lầu có những bức đắp nỗi sự tích đức phật, bố cục trọn vẹn trên các khung đúc. Dọc theo các trụ cột tiền đường là các bức nối dài, nét chữ sắc sảo. Tả, hữu sát với tiền đường có hai lầu chuông, trống.

Trong điện có pho tượng Ðức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni ngồi trên tòa sen. Chùa Từ Ðàm thờ độc tôn, cách bố trí và thờ tự trong điện có phần đơn giản so với các ngôi chùa ở Huế. Phiá sau chính điện có nhà tổ, nhà tăng.
Từ Ðàm là ngôi chùa Hội cho nên Hội quán được xây dựng rộng 10m, cao hai tầng, cạnh đường Phan Bội Châu.

Mặc dầu không phải là ngôi chùa cổ nhất Việt Nam, nhưng Từ Ðàm được nhiều người khắp đất nước biết đến do vai trò quan trọng của chùa trong công cuộc chấn hưng, phát triển của Phật Giáo Việt Nam thời kỳ cận đại và cuộc đấu tranh vì hòa bình, tự do tín ngưỡng.

iunhoc
20-09-2010, 09:13 PM
Chùa Thiên Mụ :panda25:

http://baothuathienhue.vn/UploadFiles/baothuathienhue.vn/TinTuc//2010/6/15/chua_thien_mu.jpg

Vị trí: Chùa Thiên Mụ nằm trên đồi Hà Khê, xã Hương Long, Tp. Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế.

Đặc điểm: Chùa là một trong những kiến trúc tôn giáo cổ nhất và đẹp nhất ở Huế.

Tên của ngôi chùa bắt nguồn từ một huyền thoại. Chuyện kể rằng, từ xa xưa, dân địa phương đêm đêm thường thấy một bà già mặc áo đỏ, quần lục xuất hiện trên ngọn đồi nơi chùa tọa lạc ngày nay và nói: rồi sẽ có chân chúa đến lập chùa ở đây để tụ khí cho bền long mạch. Khi nói xong, bà biến mất. Sau khi vào trấn Thuận Hoá, chúa Nguyễn Hoàng một lần đi qua, nghe kể chuyện đã cho xây chùa và đặt tên là Thiên Mụ Tự.

Năm 1601, chùa được xây dựng. Năm 1665, chúa Nguyễn Phúc Tần cho trùng tu. Năm 1710, chúa Nguyễn Phúc Chu cho đúc quả đại hồng chung cao 2,5m nặng 3.285kg, và năm 1715, chúa lại cho xây dựng tấm bia cao 2,58m đặt trên lưng con rùa bằng cẩm thạch. Vào thời Nguyễn, các vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Thành Thái đều cho trùng tu chùa.

Tháp Phước Duyên (ban đầu được đặt tên là tháp Từ Nhân) được vua Thiệu Trị cho xây vào năm 1844. Tháp hình bát giác cao 7 tầng (21m).

Ðiện Ðại Hùng là ngôi chính điện trong chùa, một công trình kiến trúc đồ sộ nguy nga. Trong điện, ngoài những tượng phật bằng đồng sáng chói còn treo một khánh đồng được đúc năm 1677 và một bức hoành phi bằng gỗ sơn son thếp vàng do tự tay chúa Nguyễn Phúc Chu đề tặng năm 1714. Hai bên chùa có nhà trai, nơi các sư tĩnh dưỡng và nhà khách để đón khách đến vãn cảnh chùa.

Trước các điện, quanh chùa là các vườn hoa cây cảnh xanh tươi, rực rỡ. Phía sau cùng là vườn thông tĩnh mịch, phong cảnh nên thơ. Chùa bị hư hỏng nặng năm 1943. Từ năm 1945, Hoà thượng Thích Ðôn Hậu đã tổ chức công cuộc đại trùng tu kéo dài hơn 30 năm.

Ngày nay chùa vẫn được tiếp tục chỉnh trang ngày càng huy hoàng, tráng lệ, luôn hấp dẫn và thu hút đông đảo du khách gần xa.

Ngàn Lần Khắc Tên Em
21-09-2010, 08:17 AM
Bổ sung thêm về Huế
http://a8.vietbao.vn/images/vn855/du-lich/55192979-200861394646_1-6.jpg Lăng Cô là 1 địa phận của tỉnh thừa thiên Huế

Nếu ai đã 1 lần về kinh đô huế xa xưa. miền đất mộng mơ với tà áo dài tím và nhịp cầu trường tiền , sông hương bến ngự , với những bãi biển dài mang vè đẹp hiền hòa thơ mộng thì ko thể không ghé bãi biển lăng cô được mệnh danh là '' Người đẹp làng chài ". nhiều du khách khi tới huế , được đắm mình trong khung cảnh ở lăng cô đã nói rằng " lăng cô đẹp hơn tranh thủy mạc " và không có gì " quá lời " vì đây là thực thế . Tôi là người lăng cô nên mới như thế

Nơi đây không những mang dấu ấn của 1 thời lịch sử trải qua 13 đời vua nhà Nguyễn. nơi có những di tích lăng tẩm đc xem như di sản văn hóa thế giới . nơi có làn điệu dân ca. có nhã nhạc cung đình Huế. được xem là di sản văn hóa phi vật thể thế giới mà nơi đây còn có những bở biển và bãi tắm nổi tiếng nhất việt nam
http://a8.vietbao.vn/images/vn855/du-lich/55192979-lanct20086139404_chinh-12.jpg
hình ảnh lăng cô

Dọc theo chiều dài đất nước. Bãi Biển lăng cô là 1 danh lam thắng cảnh thiên nhiên của tình thừa thiên huế. Bãi Biển lăng cô từ lâu đã nổi tiếng là 1 bãi biển có điều kiện tự nhiên và phong cảnh loại đẹp nhất việt nam . với bãi cát trắng dài tới hơn 10km . làn nước biển xanh bao la tuyệt đẹp bên cạnh những cánh rừng nhiệt đới rộng rãi với các dãy núi nhấp nhô vẫn chưa đủ để mô ta lăng cô. bởi còn thiếu đầm lập an rộng lớn đầy huyền bí
http://a8.vietbao.vn/images/vn855/du-lich/55192979-lanct200861394433_6-11.jpg

Bãi tắm lăng cô dài khoảng 8km . nằm dọc quốc lộ 1A , cạnh đèo hải vân và vườn quốc gia bạch mã 24km . đây là 1 bãi tắm rộng có bờ biển thoải mái , cát trắng, sóng vừa và lớn. rất thích hợp cho loại du lịch tắm biển. nghĩ dưỡng và lặn biển. và được xác định là khu nghĩ mát lý tưởng từ mấy chục năm nay
http://a8.vietbao.vn/images/vn855/du-lich/55192979-lanct200861394457_5-10.jpg


Từ lăng cô, nhìn vào ngày đẹp trời , du khách có thể phóng tầm mắt chiêm ngưỡng cảnh quan khu vườn quôc gia bạch mã . trên tuyến đường quốc lộ 1A từ Huế vào đà nẵng. cách huế khoảng 70km.
http://a8.vietbao.vn/images/vn855/du-lich/55192979-lanct200861394527_4-9.jpg
http://a8.vietbao.vn/images/vn855/du-lich/55192979-lanct200861394554_3-8.jpg
http://a8.vietbao.vn/images/vn855/du-lich/55192979-lanct200861394621_2-7.jpg

iunhoc
21-09-2010, 07:40 PM
bạn nào có các tư liệu hay về điểm du lịch huế post hết lên đây nhé

giogio11
26-09-2010, 08:54 PM
mình đi huế rồi, nhiều cái hay và thú vị lắm

iunhoc
29-09-2010, 08:11 AM
Đại nội Huế
<object width="480" height="385"><param name="movie" value="http://www.youtube.com/v/dBgwyYm0RSI?fs=1&amp;hl=en_US"></param><param name="allowFullScreen" value="true"></param><param name="allowscriptaccess" value="always"></param><embed src="http://www.youtube.com/v/dBgwyYm0RSI?fs=1&amp;hl=en_US" type="application/x-shockwave-flash" allowscriptaccess="always" allowfullscreen="true" width="480" height="385"></embed></object>
http://www.imperial-hotel.com.vn/Upload/Gallery/citadel_lg.jpg


Ðại Nội là khu di tích lịch sử quý nhất trong quần thể di tích Cố đô Huế rộng lớn của Việt Nam, được Tổ chức UNESCO công nhận là di sản văn hoá Thế giới ngày 11-12-1993 và tài trợ trùng tu phần lớn các bộ phận.
Ðại Nội bao gồm Hoàng Thành và Tử Cấm Thành, ngày nay thuộc địa phận Phường Thuận Thành, thành phố Huế.

Sau khi hoà bình Đại Nội đã được mở cửa cho công chúng và trở thành một điểm sáng bậc nhất, hấp dấn hàng triệu khách du lịch trong ngoài nước. Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế, thuộc Sở Văn hoá Thông tin tỉnh Thừa Thiên Huế, hiện đang chịu trách nhiệm quản lý di tích này. Cứ hai năm một lần hàng trăm nghìn người lại đến đây tham dự một lễ hội văn hóa lớn với sự hợp tác tích cực của Cộng hoà Pháp.

Ðại Nội với kiến trúc nghệ thuật cung đình và vườn hào độc đáo đã được khởi công xây dựng vào khoảng hơn hai thế kỷ trước. Hoàng gia nhà Nguyễn bắt đầu bởi vua Gia Long qua 13 đời vua đã sinh hoạt tại Ðại Nội liên tục cho đến khi triều đại kết thúc sau tuyên bố thoái vị của vua Bảo Đại trong cuộc Cách mạng tháng Tám 1945.

Trước đó vào năm 1687, chúa Nguyễn Phúc Trân(1687-1691) đã cho xây dựng thủ phủ của Đàng Trong tại Huế. Rồi cung điện của triều đại Tây Sơn cũng đóng ở đây. Hoàng Thành được chính thức xây dựng năm 1804, nhưng để hoàn chỉnh toàn bộ hệ thống cung điện với khoảng hơn 100 công trình thì phải đến thời vua Minh Mạng vào năm 1833, mọi việc mới được hoàn tất.

Hoàng Thành có 4 cửa được bố trí ở 4 mặt. Cửa chính (phía Nam) là Ngọ Môn, phía Đông có cửa Hiển Nhơn, phía Tây có cửa Chương Đức, phía Bắc có cửa Hòa Bình. Các cầu và hồ được đào chung quanh phía ngoài thành đều có tên là Kim Thủy.

Mặt bằng Ðại Nội xây dựng theo hình gần vuông, mỗi cạnh khoảng 600m, trên một diện tích rộng tới 37,5 ha. Tường thành xây bằng gạch to, cao 4m, dày 1m, ngoài thành là hào vây quanh với 10 chiếc cầu đá bắc qua để ra vào. Trong Ðại Nội có hơn 100 công trình kiến trúc đẹp ở nhiều khu vực khác nhau với các chức năng khác nhau.

Cổng chính ra vào Ðại Nội là Ngọ Môn, nhìn về hướng Nam kinh thành, trước mặt có Cột Cờ và xa nữa là sông Hương.
Ngọ Môn năm cửa chín lầu

Một lầu vàng, tám lầu xanh

Ba cửa thẳng, hai cửa quanh

Chính giữa là Ngọ Môn, dành cho vua
Tiếp theo là Giáp Môn, dành cho quan lại
"Hai cửa quanh" là Dịch Môn, dành cho voi, ngựa và binh lính
"Chín lầu" chỉ lầu Ngũ Phụng (nằm phía trên Ngọ Môn), gồm 2 tầng nhưng có 9 mái. "Lầu vàng" nằm giữa, cao nhất, lợp ngói hoàng lưu ly (men vàng). "Tám lầu xanh" thấp hơn, lợp ngói thanh lưu ly (men xanh).

Hoàng Thành và toàn bộ hệ thống cung điện bên trong là nơi cực kỳ trọng yếu, được phân bố chặt chẽ theo từng khu vực, tuân thủ nguyên tắc (tính từ trong ra): “tả nam hữu nữ”, “tả văn hữu võ”. Ngay cả trong các miếu thờ cũng có sự sắp xếp theo thứ tự “tả chiêu hữu mục” (bên trái trước, bên phải sau, lần lượt theo thời gian). Các khu vực đó là:

Khu vực phòng vệ: gồm vòng thành bao quanh bên ngoài, cổng thành, các hồ (hào), cầu và đài quan sát.
Khu vực cử hành đại lễ: gồm từ Ngọ Môn, cửa chính của Hoàng Thành - nơi tổ chức lễ Duyệt Binh, lễ Truyền Lô (đọc tên các Tiến sĩ tân khoa), lễ Ban Sóc (ban lịch năm mới)... đến điện Thái Hòa - nơi cử hành các cuộc lễ Đại Triều một tháng 2 lần (vào ngày 1 và 15 Âm lịch), lễ Đăng Quang, lễ Vạn Thọ, lễ Quốc Khánh...

Khu vực miếu thờ: được bố trí ở phía trước, hai bên trục dọc của Hoàng Thành theo thứ tự từ trong ra gồm: bên trái có các miếu thờ Nguyễn Kim (Triệu Tổ Miếu), miếu thờ các vị chúa Nguyễn (Thái Tổ Miếu); bên phải có các miếu thờ cha vua Gia Long là Nguyễn Phúc Luân (Hưng Tổ Miếu) và miếu thờ các vị vua nhà Nguyễn (Thế Tổ Miếu).

Khu vực dành cho bà nội và mẹ vua (phía sau, bên phải), gồm hệ thống cung Trường Sanh (dành cho các Thái hoàng Thái hậu) và cung Diên Thọ (dành cho các Hoàng Thái hậu), ngoài ra còn có điện Phụng Tiên thờ các vua Nguyễn, dành cho phái nữ đến lễ vì họ không được phép vào Thế Miếu.

Khu vực dành cho các hoàng tử học tập, giải trí như vườn Cơ Hạ, điện Khâm văn... (phía sau, bên trái).

Ngoài ra còn có kho tàng (Phủ Nội Vụ) và các xưởng chế tạo đồ dùng cho hoàng gia (phía trước vườn Cơ Hạ)

Khu vực quan trọng và rộng lớn nhất bên trong Ðại Nội là Tử Cấm Thành cũng có hình gần vuông, mỗi cạnh trên dưới 300m, vòng tường chung quanh cao 3,50m. Tử Cấm Thành nằm trên cùng một trục Bắc-Nam với Hoàng Thành và Kinh Thành, gồm một vòng tường thành bao quanh khu vực các cung điện như điện Cần Chánh (nơi vua tổ chức lễ Thường triều), điện Càn Thành (chỗ ở của vua), cung Khôn Thái (chỗ ở của Hoàng Quý phi), lầu Kiến Trung (từng là nơi ở của vua Bảo Đại và Hoàng hậu Nam Phương), nhà đọc sách và các công trình khác phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của nhà vua và gia đình như Thượng Thiện Đường (nơi phục vụ ăn uống), Duyệt Thị Đường (nhà hát hoàng cung) ...
Ngoài ra còn có Tôn Nhân Phủ là cơ quan trông coi miếu thờ và quản lý nội bộ Hoàng gia.

Tuy có rất nhiều công trình lớn nhỏ được xây dựng trong khu vực Hoàng Thành nhưng tất cả đều được đặt giữa thiên nhiên với các hồ lớn nhỏ, vườn hoa, cầu đá, các hòn đảo và các loại cây lưu niên tỏa bóng mát quanh năm. Mặc dù quy mô của mỗi công trình có khác nhau, nhưng về tổng thể, các cung điện ở đây đều làm theo kiểu “trùng lương trùng thiềm” (hay còn gọi là “trùng thiềm điệp ốc” - kiểu nhà kép hai mái trên một nền), đặt trên nền đá cao, vỉa ốp đá Thanh, nền lát gạch Bát Tràng có tráng men xanh hoặc vàng, mái cũng được lợp bằng một loại ngói đặc biệt hình ống có tráng men thường gọi là ngói Thanh lưu ly (nếu có màu xanh) hoặc Hoàng lưu ly (nếu có màu vàng). Các cột được sơn thếp theo mô típ long-vân (rồng-mây). Nội thất cung điện thường được trang trí theo cùng một phong cách nhất thi nhất họa (một bài thơ kèm một bức tranh) với rất nhiều thơ bằng chữ Hán và các mảng chạm khắc trên gỗ theo đề tài bát bửu, hay theo đề tài tứ thời.

Điều đáng nói ở đây là sự phân biệt nam nữ, lớn nhỏ, trên dưới theo địa vị, thứ bậc rõ ràng, áp dụng cho mọi đối tượng cho dù đó là thành viên trong hoàng tộc, là mẹ vua hay hoàng tử, công chúa. Nam có lối đi riêng, nữ có lối đi riêng, quan văn một bên, quan võ một bên. Tất cả nhất nhất đều chiếu theo quy định mà thực hiện, thể hiện rõ nét ý thức tập trung quân chủ, mọi quyền lực về tay nhà vua, đặc biệt là dưới triều vua Minh Mạng.

Đến nay, trải qua bao biến động và thời gian, hàng trăm công trình kiến trúc ở Đại Nội chỉ còn lại ít ỏi chiếm không đầy một nửa con số ban đầu. Nhưng với tư cách là tài sản vô giá của dân tộc, là thành quả lao động của hàng vạn người trong suốt một thời gian dài, khu di tích Đại Nội đang dần được trả lại dáng xưa cùng các di tích khác nằm trong quần thể kiến trúc đã được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới. Được sự đầu tư của nhà nước và sự giúp đỡ của bè bạn gần xa trong cộng đồng quốc tế thông qua các cuộc vận động nhằm cứu vãn, bảo tồn và phát huy những giá trị vật chất và tinh thần của di sản văn hóa Huế, nhiều di tích ở hoàng cung Huế đã từng bước được phục hồi, trở lại nguyên trạng cùng nhiều công trình khác đang được bảo quản, sửa chữa, góp phần gìn giữ khu di tích lịch sử thuộc triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam.

các bạn có thể tham khảo đầy đủ hơn tại từ điển trực tuyến Wikipedia

THAM KHẢO TẠI ĐÂY (http://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BA%A7n_th%E1%BB%83_di_t%C3%ADch_C%E1%BB%91_%C4%91%C3%B4_Hu%E1%BA%BF)

maiyeu1nguoi^^
04-10-2010, 12:25 AM
hỳ
tương lai mình sẽ ghé thăm huế
thanks bạn post thông tin về Huế
:x
đẹp lắm:x

iunhoc
08-10-2010, 09:17 AM
Khi nào đi về Huế liên hệ mình -> hướng dẫn viên du lich free :D .

Con Nít*
08-10-2010, 03:50 PM
Cầu Trường Tiền (Tràng Tiền)


Cầu Trường Tiền là cây cầu sắt đầu tiên bắc qua sông Hương nằm giữa lòng thành phố Huế. Cầu được xây dựng từ năm 1897 và hoàn thành vào năm 1899. Khi chưa có cầu, tại đây có một bến đò gọi là bến đò Trường Tiền, và sông Hương chảy qua đoạn này cũng gọi là sông Trường Tiền.


http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/1/16/Truong_Tien_Bridge_.jpg (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/1/16/Truong_Tien_Bridge_.jpg)


Cầu Trường Tiền ban đầu làm bằng gỗ, còn mặt cầu thì lát bằng ván gỗ lim. Đến năm 1904, bão lớn làm hư mất hai vài. Năm 1906 thì cầu được sửa chữa lại bằng sắt và xi măng kiên cố. Đến năm 1938, cầu được mở rộng thêm hai bên cho khách bộ hành đi lại.

Tên cầu thì cũng có nhiều thay đổi. Ban đầu có tên gọi là cầu Thành Thái vì cầu được xây dựng dưới thời vua Thành Thái. Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất thì cầu lại mang tên Clémenceau, tên vị Thủ tướng nước Pháp đương thời. Năm 1945, cầu lại đổi tên là cầu Nguyễn Hoàng. Nhưng rồi tên cầu Trường Tiền vẫn được thông dụng trong dân gian vì vị trí cầu nằm cạnh xưởng đúc tiền cũ nằm sát bờ sông Hương.




http://www.huefestival.com/upload/Image/thuvienanh/cau%20trang%20tien1.jpg (http://www.huefestival.com/upload/Image/thuvienanh/cau%20trang%20tien1.jpg)

http://vybuuluu.vnweblogs.com/gallery/10289/M%C6%B0a%20bay%20tr%C3%AAn%20c%E1%BA%A7u%20Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng%20%20Ti%E1%BB%81n.jpg (http://vybuuluu.vnweblogs.com/gallery/10289/M%C6%B0a%20bay%20tr%C3%AAn%20c%E1%BA%A7u%20Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng%20%20Ti%E1%BB%81n.jpg)

http://support.cauduongbkdn.com/upload/out.php/i3734_CauTruongTien1.jpg (http://support.cauduongbkdn.com/upload/out.php/i3734_CauTruongTien1.jpg)


Cầu Trường Tiền gồm 6 vài, mỗi vài dài 66 thước 8 tấc 5 phân, rộng 6 thước 2 tấc. Tổng chiều dài cây cầu là 401 thước 1 tấc. Cầu có 12 nhịp được thiết kế theo kiến trúc Gô tích, mỗi nhịp có thành hình bán nguyệt. Các nhịp kế tiếp nhau làm thành một dải sóng đều đặn, mềm mại. Với kiểu kiến trúc đẹp, hài hoà lại ở vị trí trung tâm thành phố, nơi rộng lòng nhất của Hương Giang.Cầu Trường Tiền là thắng cảnh nổi tiếng đã đi vào thơ ca dân gian xứ Huế, là đề tài của biết bao ca khúc trữ tình, là biểu tượng của Huế thơ mộng và cổ kính.

Chợ Đông Ba đem ra ngoài giại
Cầu Trường Tiền đúc lại xi-mon
Ơi người lỡ hội chồng con
Về đây gá nghĩa vuông tròn nước non...

Con Nít*
12-10-2010, 11:11 AM
Hồ Tịnh Tâm


Một số công việc chỉnh trang sơ bộ khu vực hồ Tịnh đang được xúc tiến gấp rút hầu tạo thêm một trung tâm “vệ tinh” nữa cho Festival Huế 2004. Hồ Tịnh Tâm đã trở thành một danh thắng quen thuộc nhưng còn nhiều điều thú vị về hồ Tịnh mà ít ai biết được...


http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/f/f3/H%E1%BB%93_T%E1%BB%8Bnh_T%C3%A2m1.jpg (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/f/f3/H%E1%BB%93_T%E1%BB%8Bnh_T%C3%A2m1.jpg)


Đệ nhất Thượng uyển từng là điểm… biệt giam

Vốn là khu thượng uyển nổi tiếng hàng đầu của vương triều Nguyễn, Tịnh Tâm từng được vua Minh Mạng làm thơ ca ngợi 10 bài liền với tiêu đề Bắc hồ thập cảnh. Vua Thiệu Trị lại xếp hạng Tịnh Tâm vị thứ 3 trong danh mục Thần Kinh nhị thập cảnh.


Ngự chế áng thơ Tịnh hồ mạn hứng (Cảm hứng mùa hè ở hồ Tịnh Tâm), vua Thiệu Trị ghi mấy dòng chú dẫn: “Hồ Tịnh Tâm trong veo muôn khoảnh, man mác hai hồ. Một dải đê dài, cầu cao như mống. Vui chơi khúc đàn Nam Phong trên gác Nam Huân, thỏa thích một trời, của nhiều no đủ. Xứng đáng cõi Thọ chốn Tây Trì, rõ ràng là danh thắng kinh đô. Phong quang vô hạn, chưa tận mắt ngắm trông e khó hình dung cảnh trí”.

Ngô Văn Phú chuyển ngữ áng thơ Tịnh hồ mạn hứng như sau:

Trong vắt hồ giăng mấy khoảng xa,
Thềm soi đáy nước, loáng tinh hà.
Cây hoa, lầu gác, dường tiên cảnh,
Đất nước, non sông, thuộc mọi nhà.
Quạt chúa để suông, trời mát mẻ,
Đàn vua tiếng ngọt, nhập thơ ca.
Lâng lâng nhân trí, tình sâu rộng,
Cảnh sắc yêu người, chớ bỏ qua!


Quả thật, Tịnh Tâm không phải một, mà là hai hồ nước hình chữ nhật, cái nhỏ kề cái to; từ trên cao nhòm xuống nom y hệt bức “siêu thư pháp” viết giữa thiên nhiên một đại tự "Minh" – chữ Hán nghĩa là “sáng tỏ”.

Nguyên ủy, đây là khúc sông Kim Long (một chi lưu của sông Hương) chảy qua làng Phú Xuân. Năm Ất Sửu 1805, vua Gia Long quyết định nắn dòng Kim Long để tạo mặt bằng xây dựng Kinh thành Huế. Thoạt tiên là cả dải hồ rộng, mang tên hồ Ký Tế. Vua Minh Mạng nối ngôi, tiếp tục quy hoạch cảnh quan kinh đô, chia hồ Ký Tế làm đôi: một bên là hồ Học Hải – nơi sẽ thiết lập Tàng Thư Lâu; còn một bên là hồ Tịnh Tâm – chỗ dành cho “đấng thiên tử” cùng hoàng thân quốc thích tiêu dao thưởng ngoạn và di dưỡng tinh thần. Vua Minh Mạng lại cho đắp đê Kim Oanh băng ngang hồ Tịnh Tâm và tiến hành kế hoạch sửa sang tôn tạo khu vực này.

Dưới sự chỉ huy của Đô thống hữu quân Nguyễn Tăng Minh và Tham tri bộ Hộ Đào Trí Phú, cả lực lượng 8.000 binh lính đã dốc sức xây dựng Tịnh Tâm thành một công trình to lớn nhất và xinh đẹp nhất so với tất cả ngự viên ở đế đô nói riêng, toàn quốc nói chung.


Trong hồ Tịnh Tâm có ba hòn đảo. Đảo Phương Trượng nằm giữa hồ nhỏ phía bắc, giữa http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/ImageView.aspx?ThumbnailID=32341hồ lớn phía nam là đảo Doanh Châu và đảo Bồng Lai. Trên đảo Bồng Lai có điện Bồng Doanh nguy nga tráng lệ - còn gọi Bồng Dinh - lại là nơi mà về sau, năm Quý Tị 1893, các quan phụ chính tuân lệnh lưỡng tôn cung đã đưa vua Thành Thái ra đó “an dưỡng tâm thần”. Vì sao? Nguyễn Phúc tộc thế phả (Nxb Thuận Hóa, Huế 1995; tr. 391) giải thích lý do: bởi đức vua “ tính tình bất thường, ham chơi bời, ít chịu nghe lời can gián”. Chốn thượng uyển xinh tươi trở thành chỗ biệt giam hoàng đế!

Mấy đặc sản hồ Tịnh Tâm

Hồ Tịnh Tâm còn âm khác là hồ Tĩnh Tâm. Người dân xứ Huế xưa nay quen gọi một cách vắn tắt: hồ Tịnh. Và nhắc tới hồ Tịnh, ai nấy liền nghĩ ngay tới đặc sản lừng danh của địa phương: sen. Ca dao miền Hương Ngự có câu:


Hồ Tịnh Tâm nhiều sen bách diệp,
Đất Hương Cần ngọt quýt, thơm cam…


Sen bách diệp có hoa nhiều cánh nhỏ màu hồng, được thiên hạ tôn vinh là “giống sen quý nhất trong tất cả giống sen”. Có khả năng sen bách diệp chỉ thắm sắc khoe hương vào giai đoạn thịnh thời của thượng uyển Tịnh Tâm. Chứ thực tế bấy lâu, sen trồng trong hồ này chẳng phải giống sen bách diệp, mà là giống sen trắng bình thường.

Lạ thay, sen thường mọc ở hồ Tịnh cũng thành sen quý! Dễ dàng kiểm chứng điều ngỡ http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/ImageView.aspx?ThumbnailID=32340“khó tin nhưng có thật” kia nếu so sánh hạt sen hồ Tịnh với hạt sen nơi khác bằng cách xơi thử đồng thời. Kinh nghiệm ẩm thực kia đã được khá đông người thừa nhận. Chẳng hạn trong sách Nguyễn triều cố sự (Nxb Đà Nẵng in lại, 1997; tr.17), Bửu Kế khẳng định: “Huế nổi tiếng về hạt sen vừa bở vừa thơm, nhưng phải nếm hạt sen Tịnh Tâm mới thưởng thức được mùi vị tuyệt vời của nó”.

Nấu chè sen, cơm sen, súp sen, phụ nữ cố đô kén chọn bằng được hạt sen Tịnh làm nguyên liệu mới mong món ăn đạt phẩm tính ưu việt. Gửi biếu bà con bè bạn sành điệu ở phương xa, bên cạnh nón bài thơ, mè xửng, tôm chua, nem tré, v.v., hạt sen hồ Tịnh tươi hay khô luôn được dân Huế coi là món quà quê hương trang nhã và ý vị vô ngần. Phải chăng nhờ hồ Tịnh có những yếu tố thủy thổ nào đấy phù hợp tối ưu với loài hoa nhị vàng, bông trắng, lá xanh thuộc họ thực vật Nelumbonaceae mà khoa học chưa phân tích thật đầy đủ?

Cùng với hạt sen quá lừng danh, hồ Tịnh còn đôi sản phẩm khác cực kỳ đáo khẩu nhưng ít ai biết, ngoại trừ nguyên người quanh quất đâu xa. Gì thế nhỉ? Xin thưa: rau muống và cá – đặc biệt cá rô.

Ở hồ Tịnh Tâm cũng như nhiều ao hồ khác tại miền Hương Ngự, thời gian trồng và khai thác sen với muống thường tạo thành hai vụ gối nhau. Xuân hè dành cho sen. Thu đông dành cho muống.

Tháng 5 đúng kỳ sen nở rộ. Người ta tranh thủ đổ bông – từ nghề nghiệp chỉ việc hái hoa, để bán cho thiên hạ cắm độc bình đơm cúng bàn thờ hay chưng phòng khách, phòng văn. Rồi phải khẩn trương đổ hột – tức ngắt gương sen về gỡ lấy hạt, thương lái sẽ mua sỉ, đoạn phân phối hạt tươi cho khách nấu ăn ngay hoặc sơ chế hạt khô mà tiêu thụ dần. Hầu như toàn bộ cây sen chẳng có bộ phận nào phải bỏ phí. Nhị sen và tim sen được các cơ sở Đông y Đông dược thu gom làm thuốc. Ngó sen cùng củ sen là thứ mà các tiệm ăn, quán nhậu liên tục đặt hàng. Cả lá sen, người ta cũng cắt bán cho cánh tiểu thương dùng gói cốm, gói bún, gói…hoa sen hay hạt sen. Cuống lá và gương sen sau khi tách hạt lại được dân chúng tận dụng, phơi làm chất đốt.

Cho tới nay, đấu thầu hồ Tịnh Tâm để canh tác sen cùng muống lâu nhất e chẳng ai hơn gia đình ông Nguyễn Văn Vỹ, tên thường gọi là ông Ba Cu. Theo sách Chuyện khảo về Huế của Trần Kiêm Đoàn (Nxb Trẻ, 2000; tr.109 – 110) thì ông Ba Cu đã trồng sen thả muống ở hồ Tịnh suốt 40 năm ròng, kể từ thời điểm 1965 trở về trước. Thập niên kế đó, vài hộ quanh vùng thay nhau đấu thầu hồ Tịnh. Sau năm 1975, Hợp tác xã sản xuất hoa màu hai phường Thuận Thành và Thuận Lộc quản lý hồ này, tiếp tục phân công một số xã viên trồng sen, trồng muống…

Chuyện đắp đập, ngăn thửa liên tục diễn ra. Lòng hồ dần cạn. Các miệng cống bố trí quanh bờ bị tắc nghẽn, nên chức năng điều tiết nước giữa hồ Tịnh với hơn 40 hồ ao khác trong phạm vi Thành Nội 520ha và với hệ thống Ngự hà cũng như Hộ thành hà không còn đảm bảo. Đấy là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây úng ngập cục bộ ở Kinh thành Huế lâu nay mỗi khi mưa lớn kéo dài. Lại thêm tình hình lấn chiếm đất ven hồ để xây nhà, dựng quán, khiến diện tích mặt hồ ngày càng thu hẹp. Nạn ô nhiễm môi sinh ở khu vực này gia tăng là lẽ tất nhiên. Di tích lịch sử bị xâm hại, cảnh quan văn hóa bị triệt tiêu - hiện trạng ấy ai ai cũng đều thấy rõ. Tham quan hồ Tịnh, khách gần xa phải áy náy thốt lên cái câu không mới:

- Tịnh Tâm à! Răng chừ cho tới… ngày xưa?

Muộn còn hơn không. Dự án tu sửa và phục hồi cảnh quan hồ Tịnh Tâm vừa ra đời, do Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế làm chủ đầu tư với các bước thực hiện như sau: quy hoạch chống lấn chiếm, giải tỏa mặt bằng có trọng điểm, sắp xếp lại nhà dân (ở sát khuôn viên Đại học Nghệ thuật Huế tọa lạc cạnh hồ) để lập bãi đậu xe, nạo vét lòng hồ, khôi phục tuyến cấp thoát nước, tiến tới phục chế lần lượt các hạng mục công trình kiến trúc cổ. Dự án đã được chính quyền tỉnh Thừa Thiên – Huế phê duyệt.


* Danh thắng Tịnh Tâm hình thành bao giờ

Đại Nam nhất thống chí (sđd) ghi nhận: trong hồ Ký Tế có hai gò cồn, trên đó là hai kho hỏa dược và diêm tiêu lập từ đời Gia Long, đến năm Minh Mạng XIX thì dời hai kho ấy qua phía đông, lấy chỗ làm hồ Tịnh. Tin tưởng tư liệu kia, nhiều sách báo, nhiều trang web cùng các tài liệu hướng dẫn du lịch thời gian qua vẫn khẳng định danh thắng Tịnh Tâm vốn khởi dựng từ niên hiệu Minh Mạng XIX, tức năm Mậu Tuất 1838. Tiếc thay, chi tiết này chưa chính xác.

Trong bài Quelques coins de la Citadelle de Hué (Vài góc Kinh thành Huế) đăng trên Bulletin des Amis du Vieux Hué năm 1922, Léopold Cadièrre và Nguyễn Đình Hòe đã chứng minh rằng trước thời điểm 1838, một số hạng mục kiến trúc cơ bản ở Tịnh Tâm đã hoàn tất và được đưa vào sử dụng. Bằng cớ là qua hồi ký Souvenir de Hué (Kỷ niệm xứ Huế) công bố năm 1867, Michel Đức Chaigneau từng mô tả cảnh sắc hồ Tịnh Tâm với lầu đài cùng tên, thêm non bộ, những bồn hoa to nhỏ, cầu gỗ sơn màu, v.v., khi ông hân hạnh được vời tới đấy tiếp kiến vua Minh Mạng nhiều lần trong giai đoạn 1821 – 1822.

Con Nít*
13-10-2010, 01:55 PM
Điện Hòn Chén


Vị trí: Điện Hòn Chén tọa lạc trên núi Ngọc Trản, thuộc làng Ngọc Hồ, xã Hương Hồ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế.

Đặc điểm: Ðiện Hòn Chén là nơi ngày xưa người Chàm thờ nữ thần Pô Nagar, sau đó người Việt theo Thiên Tiên Thánh Giáo tiếp tục thờ bà dưới xưng Thánh Mẫu Thiên Y A Na.


http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/f/f7/%C4%90i%E1%BB%87n_H%C3%B2n_Ch%C3%A9n1.jpg


Từ năm 1954, Liễu Hạnh Công Chúa, tức là Vân Hương Thánh Mẫu cũng được đưa vào thờ ở đây. Ngoài ra, tại điện Hòn Chén, người ta còn thờ Phật, thờ Thánh Quan Công và hơn 100 vị thần thánh khác thuộc vào hàng đồ đệ của các thánh thần nói trên. Vua Ðồng Khánh cũng là một trong những đồ đệ ấy. Điện Hòn Chén được vua Minh Mạng cho tu sửa và mở rộng vào tháng 3/1832. Sau đó hai năm, đền lại được trùng tu.

Từ năm 1883 đến năm 1885, vì gặp một giai đoạn éo le của lịch sử triều Nguyễn, vua Ðồng Khánh chờ đợi mãi vẫn chưa được lên nối ngôi cha nuôi là vua Tự Ðức. Ông nhờ mẹ là bà Kiên Thái Vương lên đền Ngọc Trản cầu đảo và hỏi Thánh Mẫu Thiên Y A Na xem mình có làm vua được không. Mẫu cho biết ông sẽ toại nguyện.


http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/a/ae/%C4%90i%E1%BB%87n_H%C3%B2n_Ch%C3%A9n.jpg
Điện Hòn Chén nhìn từ sông Hương

http://vietnamtravelsolutions.com/photos/Image/Tieu%20diem%20VN%20-%20HanhtrinhxuyenViet/H.jpg


Bởi vậy, sau khi tức vị, năm 1886, vua Ðồng Khánh liền cho xây lại đền này một cách khang trang, làm thêm nhiều đồ tự khí để thờ, và đổi tên ngôi đền là Huệ Nam Ðiện để tỏ lòng biết ơn Thánh Mẫu. Huệ Nam nghĩa là ban ân huệ cho nước Nam, vua Nam. Có một điều kỳ lạ, chính vua Ðồng Khánh đưa cuộc lễ hằng năm tại đây vào hàng quốc lễ và tự nhận mình là đồ đệ của Thánh Mẫu, mặc dù nhà vua chỉ gọi thánh mẫu bằng "Chị". Theo nguyên tắc xưa, ông vua nào cũng đứng trên các thánh thần trong cả nước, nhưng ở đây vua Ðồng Khánh lại hạ mình xuống làm "em" của Mẫu. Hiện nay trong đền vẫn còn thờ vài bức tranh ảnh của chính nhà vua.

Ngày nay, điện Hòn Chén được nhiều người biết đến không phải vì đó là một di tích tôn giáo cho bằng đó là một di tích kiến trúc phong cảnh. Công trình kiến trúc tôn giáo ấy đã được người xưa lồng vào trong một cảnh thơ mộng hữu tình của núi sông xứ Huế.

Có một dãy núi thấp ăn từ chân Trường Sơn chạy về phía đồng bằng của Huế, bị một đoạn của sông Hương chặn đầu tả ngạn. Cả dãy núi như bị dồn ép nguồn sinh lực ở đây, tạo thành một ngọn núi có vẻ biệt lập, cây cối mọc xanh um, đứng cheo leo bên bờ vực thẳm, đó là chỗ sâu nhất của sông Hương. Người xưa đã chọn hòn núi Ngọc Trản ấy để dựng đền thờ.

Trên đỉnh núi có một chỗ đất trũng xuống, đường kính vài mét, chung quanh có vòng đá dựng như bờ giếng, hễ gặp mưa thì nước đọng lại trông như cái chén đựng nước trong. Cho nên từ xa xưa, hòn núi được đặt tên Ngọc Trản (núi Chén Ngọc) và dân gian gọi là Hòn Chén.

Trong một tờ thần sắc ban cho đền năm 1886, vua Ðồng Khánh đã ví toàn cảnh thiên nhiên ở đó như hình thế một con sư tử đang nằm thò đầu xuống sông uống nước.

Khoảng 10 công trình kiến trúc xinh xắn của ngôi đền đều nằm ở lưng chừng sườn đông nam thoai thoải của ngọn núi, ẩn mình dưới bóng dâm của một khóm rừng cổ thụ tán lá xum xuê. Những hệ thống bậc cấp chạy từ đền cao xuống tận bến nước trong xanh. Mặt sông phẳng lặng như gương, được dùng cho toàn cảnh thiên nhiên và kiến trúc nghiêng mình soi bóng. Dù thuyền cập bến, đứng nhìn lên, khách dễ tưởng mình đang lạc vào chốn thần tiên.

Mặt bằng kiến trúc của toàn bộ ngôi đền không rộng, gồm điện thờ chính là Minh Kính Ðài nằm ở giữa, mặt hướng ra sông; bên phải là Nhà Quan Cư, Trinh Cát Viện, Chùa Thánh; bên trái là Dinh Ngũ Vị Thánh Bà; bàn thờ Các Quan, động thờ ông Hạ Ban (tức ông Hổ - con cọp), Am Ngoại Cảnh. Dưới bờ sông, cuối đường bên trái là Am Thủy Phủ. Trên mặt bằng kiến trúc ấy, còn có một số bệ thờ và am nhỏ khác nằm rải rác đó đây, như Am Cô Ngọc Lan, Am Trung Thiên...

Nhưng đáng để ý nhất trong tất cả vẫn là Minh Kính Ðài. Xây dựng năm 1886 dưới thời vua Ðồng Khánh với mặt bằng 15mx17m, nó được chia làm 3 cung (theo thứ tự từ cao xuống thấp và từ sau đến trước căn cứ vào chức năng thờ phụng).

Minh Kính Cao Ðài Ðệ Nhất Cung, còn gọi là Thượng Cung hay Thượng Ðiện, chia làm 2 tầng. Tầng trên thờ Thánh Mẫu Thiên Y A Na, Thánh mẫu Vân Hương, ảnh vua Ðồng Khánh và một số thần thánh cao cấp khác trong tôn giáo; tầng dưới dùng làm chỗ tiếp khách và nơi ở của người thủ từ...

Minh Kính Trung Ðài Ðệ Nhị Cung, còn gọi là Cung Hội Ðồng, giữa xây bệ thờ cao và lớn, cung này thờ hàng chục tượng thần thánh khác nhau, có cả tượng Phật nữa, và dùng làm nơi thiết trí các đồ thờ dùng để rước sắc trong những dịp lễ lớn: Võng Cung Nghinh Mẫu, Phụng Liễn, Long Ðình.

Minh Kính Tiểu Ðài Ðệ Tam Cung, còn gọi là Tiền Ðiện - nơi có xây một hương án lớn, hai bên đặt trống chuông, là chỗ cử hành tế lễ. Nơi đứng cúng lạy của khách hành hương còn được nới rộng thêm bằng một mái hiên và cái sân ở mặt trước tòa nhà.

Trên bờ nóc quyết của Minh Kính đài cũng như các công trình kiến trúc khác ở chung quanh, hình ảnh con phụng được dùng nhiều để trang trí, vì con phụng tượng trưng cho đàn bà, ở đây là các nữ thần. Nó cũng được dùng để trang trí rất nhiều trên các đồ tự khí.

Phần lớn các đồ thờ quý báu ở Minh Kính Ðài đều ghi rõ là làm ra dưới thời vua Ðồng Khánh. Nhìn chung thì thấy trang hoàng rất bề bộn, nhưng có nhiều thứ lạ mắt đối với người xem.

Ðứng ở các hệ thống bậc cấp dẫn xuống bến để nhìn ra viễn cảnh trước mặt, người ta thưởng thức được một bức tranh sơn thủy vẽ bằng gam màu xanh với các độ đậm nhạt khác nhau của dòng sông, làng mạc, núi non, hàng hàng lớp lớp trải rộng vươn dài. Gần nhất bên phải là hòn núi Kim Phụng uy nghi đồ sộ. Ngay bên trái đền, vách đá cheo leo trên bờ dốc thẳm, cùng với tượng cọp trừng mắt đứng nhìn dưới vòm động thâm u, dường như được dùng làm mối nguy hiểm đe dọa thường xuyên đối với những người yếu bóng vía và làm tăng thêm vẻ linh thiêng thần bí của các thần thánh đối với "con tôi đệ tử" của Thiên Tiên Thánh Giáo.

Có một điều thú vị nữa đối với du khách, nhất là các nhà nghiên cứu dân tộc học, là trong khi ở Hổ Quyền bên kia sông Hương, con cọp phải đưa ra đấu trường để bị tiêu diệt, thì ở điện Hòn Chén bên này sông, con cọp lại được thờ cúng kính cẩn như một vị thần linh.

Con Nít*
14-10-2010, 08:20 AM
Đồi Thiên An


http://www.khamphahue.com.vn/upload/dvdulich/diemtq/stdn/thongthienan_resize.jpgCó một địa danh mà khi nhắc đến thì có nhiều người đã có thời thanh xuân ở Huế đều dấy lên trong lòng những kỷ niệm khó quên. Ðó là Thiên An - một vùng đồi hoang vắng với những bước chân dài mấy mươi năm để đi vào thơ ca, với những chiếc lá thông rơi vương kín áo tình nhân; Với những giọt nước thủy chung ở Hồ Thủy Tiên huyền thoại; Với những mối tình xanh dưới bóng thông già.

Thiên An là một vùng đồi núi nhấp nhô nằm ở phía Nam thành phố Huế, trên tuyến đường đi thăm lăng Khải Ðịnh, qua khỏi ngã ba Cầu Lim chừng 2km. Thiên An hiện ra trước mặt bạn một màu xanh của ngàn thông , với lô nhô triền đồi, mái lá và con đường dốc ngoằn ngèo chạy vào ký ức.

Quần sơn này gồm 140 ngọn đồi gối đầu lên nhau trong một khu vực rộng khoảng 60ha. Ðường bình đồ, xê dịch từ 60m-125m, điểm cao nhất chính là ngọn đồi có đan viên Thiên An tọa lạc. Chính các đan sĩ người Pháp thuộc dòng tu khổ hạnh Bénedictine đã khai phá và đặt tên cho Thiên An. Ngày 25-1-1935 tu viện Pierre de Vire ở Pháp phái cha Wandrelle đến Việt Nam để xem xét một việc thành lập đan Viện. Cha đã chọn khu Bất động sản Vielle ở Ðà Lạt để xây dựng đan viện vào tháng 10 năm đó. Sau đó Ðức cha tu viện trưởng Fulbert Gloreces ở Pháp đã cử cha Romain Guillaume đến cai quản Ðan Viện ở Ðà Lạt, chính cha Romain là người sáng lập ra đan viện Thiên An vào 3-1940- trong quá trình mở rộng ảnh hưởng dòng Bénédictine lên phía Bắc Việt Nam. Ngày 6-10-1940 Lễ khánh thành Ðan Viện Thiên An bằng một lễ MiSa được cha Romain tổ chức và ông đã chọn Thánh tâm chúa Jêsu như là vị bảo hộ của đan viện . Dòng tu được xây dựng và đặt trên Thiên An.

Song song với việc kiến tạo đan viện, các đan sĩ sư huynh và những người giúp việc đã xúc tiến việc trồng thông, đào hồ, lập vườn, biến vùng rừng núi khô cằn này thành một vùng rừng núi trù phú. Trước 1968 lúc đông nhất tu viện có đến 80 tu sĩ, 250 đệ tử và 60 người giúp việc. Ðan viện lập được ba vườn cam ở ba thung lũng hẹp bao quanh hồ Thủy Tiên.

Những vườn cam này được mua giống từ Angerie về, lại được chăm sóc tốt nên trái lớn và rất sai.Ngày trước trên những sọt hoa trái ở chợ Ðông Ba, có những quả cam có đóng dấu T.A chính là giống cam quý từ Ðan viện Thiên An. Hai hồ nước trong Ðan Viện được các cha Romain và Cadet Phạm Quang Ðiện cho đào vào năm 1940 -1960 đã cung cấp nước cho toàn khu vực và trở thành thắng cảnh đặc biệt là hồ Thủy Tiên và huyền thoại về những giọt nước thủy chung.

Ðến thăm Thiên An bạn sẽ bắt gặp những địa danh một thời nằm sâu trong ký ức giới trẻ Huế. Ðó là đồi Ðức Mẹ rợp bóng thông già mà mỗi góc cây vẫn còn in hằn dấu "Yêu" của những đôi tình nhân xứ Huế. Ðó là dốc "Mạ ơi" quanh co khúc khuỷa. Ðó là hình ảnh đôi chân lạc lối vườn cam tìm đến lăng Ba Vành nơi mà lịch sử vẫn tàng ẩn một nghi vấn. Phải chăng đó là lăng mộ vua Quang Trung Bạn sẽ bắt gặp từng đôi trai gái khóac nhau đi dưới gốc thông già để nhặt đi tìm quả rụng như nhặt tìm kỷ niệm của thời yêu nhau. Bạn sẽ nghe chuông nhà thờ văng vẳng gọi lòng người hướng thiện tâm về với chúa dẫu cánh cửa dòng tu vẫn khép kín và bên bờ hồ Thủy Tiên xanh ngắt là những vũ hội sôi động của đám học trò...

Có lẽ vì thế mà Thiên An đã có nguồn cảm hứng, để nữ thi sĩ học trò Hồ Huê viết lên những vần thơ dễ thương nhất của một thời áo trắng

Không hiểu sao trời hôm ấy mênh mông
Cánh én vẫy tôi ngỡ chừng vô định
Gió luồn qua gốc cây vẳng tiếng chuông thành kính
Tiếng chuông và gió trốn tìm nhau

..........

Chiều Thiên An rất mơ dù rất thực
Ðể đêm về tôi gọi mớ Thiên An.

Đồi Thiên An, xã Thủy Bằng, huyện Hương Thủy, Thừa Thiên Huế.

Con Nít*
14-10-2010, 04:09 PM
Hùng thiêng dòng thác Kazan


Ẩn mình bên vùng đệm rừng quốc gia Bạch Mã, mới đây, thác Kazan hùng vĩ (Thừa Thiên Huế) đã được những đồng bào Tà Ôi ở thôn Dỗi "đánh thức". Đây là điểm du lịch sinh thái kết hợp văn hoá đặc sắc mà đồng bào vùng trung du Thừa Thiên Huế tổ chức khai thác để giới thiệu đến du khách.


http://www.khachsanexpress.com/imagedb/news/143/14312/thac%20Kazan%20hung%20vi.jpg (http://www.khachsanexpress.com/imagedb/news/143/14312/thac%20Kazan%20hung%20vi.jpg)
Thác Kazan


Khởi hành từ thành phố Huế buổi sáng, sau hơn 60 phút đi ô tô vượt đèo La Hy, du khách sẽ tới thôn Dỗi, thuộc xã Thượng Lộ, huyện Nam Đông, Thừa Thiên Huế. Ở đây, du khách được đắm mình trong tiếng chim ríu rít gọi đàn, tiếng hú của bầy vượn, tiếng róc rách của suối… Ở cổng làng, trước sân ngôi nhà Guơl truyền thống, khách sẽ được chào đón bằng những tiết mục múa, hát, thổi nhạc cụ truyền thống rất đặc sắc của đồng bào dân tộc.

Nếu đã quen nghe những âm thanh từ dưới xuôi, chắc hẳn, khách khó lòng nhịn cười khi thấy cảnh ông Trần Văn Đinh, trưởng Ban quản lý khu du lịch, người thổi kèn sừng dê hay nhất thôn Dỗi, nói oang oang bằng một tràng tiếng Việt lơ lớ: "Bà con thôn Dỗi kính chào khách quý. Mời khách quý thưởng thức các điệu múa, lời ca của đồng bào Tà Ôi...".

Tiếng cồng chiêng nổi lên ngay sau lời giới thiệu. Tốp múa của trẻ em thôn Dỗi từ từ tiến ra giữa sân. "Diễn viên" vừa diễn, ông Trần Văn Đinh lại say sưa thuyết minh, khách say sưa hoà mình nhún nhảy trong tiếng nhạc.

Ông Đinh nói nếu chép ra kín cả trang giấy, người phiên dịch chỉ dịch lại có mấy câu cụt ngủn nhưng khách vẫn gật gật đầu xem chừng hiểu và thích thú. Không có vấn đề gì, tiếp nhận văn hoá đôi khi không cần phải có ngôn ngữ! Đến giờ phút này, giữa chủ và khách, khoảng cách về địa lý, ngôn ngữ, văn hoá... chỉ còn lờ mờ như sương khói.

Sau màn "chào hỏi", du khách sẽ giao lưu với người dân địa phương trong ngôi nhà Guơl, đi thăm làng, qua đám lá mục, đi lắt léo qua những tảng đá gập ghềnh để đi chơi thác Kazan, cùng nấu ăn chung với nhau. Đồng bào mời khách những món ăn mà chỉ nghe đã thấy … "khoái", như lợn nướng, cơm ống tre, cá suối nướng … Đặc biệt, tại đây, du khách sẽ được mua sản vật địa phương gồm mật ong rừng, thổ cẩm, hàng đan lát chính hiệu của người Tà Ôi.

Nếu có cơ hội, bạn nên thử nán lại một đêm, ngủ trong nhà Guơl truyền thống. Du khách ngồi quanh bếp lửa bập bùng, nghe chuyện từ thời mở đất của người Tà Ôi ở Nam Đông. Đêm khuya, khi tiếng nói của con người đã bắt đầu hoà trong sương khuya lạnh buốt, thì từ chốn rừng sâu, tiếng tác của con mang, con nai lại cất lên.

Nếu là người may mắn, giữa đêm khuya, bạn có thể nghe được tiếng kèn sừng dê, tiếng gió rít qua vách đá cùng xào xạc của gió rừng… Kết thúc giấc ngủ muộn giữa vùng trung du, bạn sẽ thức dậy cùng tiếng chim muông và hương rừng thoảng trong sương gió…

Con Nít*
14-10-2010, 07:39 PM
Đầm Chuồn đêm ngàn sao...


http://farm3.static.flickr.com/2083/2527230627_e5ced2c338.jpg (http://truongton.net/forum/vcheckvirus.php?url=http%3A%2F%2Ffarm3.static.flickr.com%2F2083%2F2527230627_e5ced2c338.jpg)

Đầm Chuồn không xa lắm, bởi chỉ mười cây số đi xe máy từ trung tâm thành phố Huế là đến nơi. Trên đường đi, tiện thể ghé qua làng Chuồn (xã Phú An, Phú Vang, Huế) đong vài xị “đệ nhất danh tửu”, chọn một vài đòn bánh tét đặc sản lúc nào cũng có ở chợ làng này.

http://www.xaluan.com/images/news/Image/2008/11/15/1226801215.img.jpg
Bình minh trên đầm Chuồn

Ra đến bến đò Đồng Miệu, mấy anh bạn lái thuyền cặp đôi hai chiếc ghe nan, đủ chỗ cho tám người, gắn máy đuôi tôm hẵn hòi. Khuôn mặt khách háo hức, bởi trừ hai anh bạn thuyền “thổ địa”, những người còn lại đều lần đầu được rong chơi giữa vùng đầm phá bao la này.



Con thuyền phăng phăng lướt sóng. Anh bạn lái thuyền khéo léo điều khiển thuyền luồn lách giữa đám “nò” sáo ken dày như bàn cờ trên mặt phá, lúc rẽ phải, lúc rẽ trái, chuyển hướng điệu nghệ như một tay lái “lụa” điều khiển xe hơi giữa thành phố đông đúc với nhiều ngã ba, ngã tư...


http://www.xaluan.com/images/news/Image/2008/11/15/07_DOOL_081107_P1_KGS_3.jpg

Nhà chồ của ngư dân

Nửa giờ sau, thuyền đến nơi và cặp vào một nhà “chồ” (nhà tạm trên sông). Hai ông thổ địa bảo, việc đầu tiên thú vị nhất là đi giở nò (đổ nò). Chiếc nò hình trụ, được làm bằng tre đan, đặt ở đầu chóp hình chữ V của các tấm sáo trên mặt phá với độ sâu chừng hai mét. Anh bạn thuyền khỏe mạnh, bặm môi kéo nò lên, tôm cá thi nhau quẫy đạp. Mọi người háo hức, lăng xăng chuẩn bị cho bữa tiệc đầy hứa hẹn.

Rượu làng Chuồn được rót ra, mùi ngất ngây của loại “đệ nhất danh tửu” này quyện với mùi cá tươi thoang thoảng hình như đã kích thích bụng dạ mọi người đói cồn cào. Vừa nhấm nháp thưởng thức, vừa xuýt xoa khen ngon, anh bạn quả quyết rằng, ăn con cá trên suốt dọc chiều dài đất nước, không ở đâu ngon bằng cá trên phá Tam Giang, bởi nó có mùi... đầm phá.

Một anh khác giải thích thêm, đó là nhờ mùi rong tảo đặc trưng, chỉ có ở vùng nước lợ... Mùi của biển, mùi rong tảo đầm phá vừa quen vừa lạ, phảng phất đâu đây. Đêm khuya, nước trời lồng lộng, không còn xác định được phương hướng nữa.

http://www.xaluan.com/images/news/Image/2008/11/15/07_DOOL_081107_P1_KGS_2.jpg

Thuyền đi giữa nò sáo

“Trăng lên!”. Ai đó reo. Mảnh trăng thượng tuần được mắc sẵn trên bầu trời, ánh bạc lấp lóa trên mặt nước. Phong cảnh đẹp lạ lùng. Không khí loãng ra. Mấy xị rượu và bánh tét làng Chuồn đã đưa mọi người vào trạng thái lâng lâng rồi nhanh chóng rơi vào giấc ngủ sâu.

Gió biển mơn man nhè nhẹ, mang theo cảm giác se lạnh, tưởng chừng như mùa hè oi bức đã rời xa. Giữa vùng đầm phá mênh mông bốn bề sóng nước, đêm trên nhà chồ thoáng mát, hư ảo trong một khung cảnh khá lạ lùng, bỗng quên mùa hè hanh hao miền Trung.

http://www.xaluan.com/images/news/Image/2008/11/15/07_DOOL_081107_P1_KGS_1.jpg

Chiều trên phá Tam Giang

Người Huế gọi đêm ngủ nhà chồ trên phá Tam Giang là đi ngủ “khách sạn nghìn sao”. Ranh giới giữa trời và nước không còn. Chỉ tiếng sóng vỗ về mạn thuyền nghe rì rào, và thi thoảng có tiếng quẫy của con cá hanh, cá kình.

Tam Giang nay đã hòa vào dòng chảy của đời người...

Con Nít*
15-10-2010, 08:23 AM
Những ngọn đồi thiêng


http://i389.photobucket.com/albums/oo337/dongtahdsu/DSC_0483.jpg (http://i389.photobucket.com/albums/oo337/dongtahdsu/DSC_0483.jpg)


Từ những con dốc dẫn dắt chúng ta lên những phố đồi vùng Thuỷ Bằng, Thủy Xuân, Trường An, An Lăng, Ngự Bình,... Trước đây, quanh những vùng đất này là các nghĩa địa. Từ cầu Nam Giao lên đường Điện Biên Phủ là một con dốc dài khiến những người xe thồ, xích lô mất rất nhiều năng lượng để vượt qua. Ngày xưa, vùng đất này là những ngọn đồi nối nhau chập chùng, có thể Đàn Nam Giao thiêng liêng được triều đại nhà Nguyễn xây dựng để làm nơi tế trời xưa kia là một đỉnh đồi lớn. Những vùng lân cận Đàn Nam Giao là những ngọn đồi thấp hơn, khuất dưới những tán cây đại thụ lá xanh um tùm những góc ngọn đồi là các ngôi chùa cổ.
Từ đầu cầu Phủ Cam nhìn lên một đoạn dốc ngắn thuộc đường Nguyễn Trường Tộ, hình ảnh đập vào mắt chúng ta, là hai ngọn tháp chuông phía trước nhà thờ Chánh toà Phủ Cam vút cao dưới nền trời trong xanh. Ẩn núp dưới những tàng cây màu lục là những ô cửa vuông nho nhỏ của người dân xóm đạo hướng về khuôn viên nhà thờ, như một xác tín về sự tồn tại của thượng đế. Trên con dốc Bến Ngự thuộc đường Phan Bội Châu có ngôi cổ tự Từ Đàm, Linh Quang,… có di tích lịch sử về danh nhân văn hoá Phan Bội Châu, bên trong khuôn viên di tích có bức tượng lớn, tạc gương mặt nhân sĩ đang suy tư về con đường canh tân đất nước do nhà điêu khắc Lê Thành Nhơn kỳ công tạo nên. Rồi từ cầu Kho Rèn lên dốc Trần Phú có Dòng mến Thánh Giá và một lối nhỏ dẫn vào ngôi vườn có người thiếu phụ sống ẩn mình trong tàng kinh các như một nữ tu.

http://khamphahue.com.vn/Upload/DVDULICH/DIEMTQ/DTQ/vuonquocgiabachma1.jpgCách xa trung tâm thành phố Huế chưa đến 10 km về phía tây nam có đồi Vọng Cảnh, một trong những góc nhìn dòng Hương lý tưởng nhất mà người xưa đã chọn. Khi mặt trời ngã dần về phía Tây, từ đồi Vọng Cảnh chúng ta sẽ cảm nhận được vẻ đẹp lung linh, kỳ ảo của sông Hương. Thời khắc này, gương mặt của sông gợi lên hình ảnh một thiếu phụ đang che dấu nỗi buồn trong thăm thẳm cõi lòng mênh mang. Từ góc nhìn ở đồi Vọng Cảnh, dòng sông uốn lượn mềm mại như dáng hình một vũ nữ đang hoà mình trong tiết điệu tình yêu một cách cuồng nhiệt. Cách đồi Vọng Cảnh hơn 1 km là khu lăng tẩm của vua Tự Đức toạ lạc trên một ngọn đồi thơ mộng.

Bên kia đồi Vọng Cảnh là điện Hòn Chén linh thiêng tồn tại từ thời xa xưa. Điện Hòn Chén toạ lạc trên sườn núi Ngọc Trản, thực ra Ngọc Trản có hình dáng một quả đồi hơn ngọn núi. Từ đồi Vọng Cảnh chúng ta mất hơn mười phút đi xe máy để đến Thiên An; gồm những ngọn đồi thông rất lãng mạn nối nhau dập dìu, có những con đường quanh co dẫn vào những hồ nước trong xanh và những cánh rừng thông hun hút.
Dọc theo đường Minh Mạng lên Thiên An, xuất hiện lác đác vài ngôi nhà vườn kiểu lai tạp và những trà thất, nhà hàng, biệt phủ,… phục vụ cho du khách. Vừa vào khuôn viên đan viện Thiên An, bên phải có đồi Đức Mẹ, ẩn sâu một cách kín đáo trong rừng thông ở phía trái Thiên An là đồi Thánh Giá và trên đỉnh ngọn đồi cao nhất là một nhà thờ dòng có lối kiến trúc hài hoà với thiên nhiên, phía bên trái trước nhà thờ là tháp chuông vút cao rất kiêu hãnh của đan viện.

Một sớm mùa thu, khi màu nắng nhạt mỏng manh choàng lên những ngọn đồi, những lá thông xanh rung rinh óng ánh trong nắng ban mai, những con đường còn dư vị ươn ướt của mùi sương trộn lẫn với xác lá thông già. Lúc này, nhìn những ngọn đồi uốn lượn, nhấp nhô trong màu nắng nhạt trông như một người mẹ đang vỗ về đàn con thơ trong giấc ngủ yên bình. Đa phần, những ngọn đồi ở Huế là nơi an nghĩ cuối cùng của người đã khuất, ngoài ra còn là nơi tĩnh tâm, soi chiếu lại cõi lòng của người đang sống. Thiên An, Vọng Cảnh, Ngự Bình,… và nhiều vùng đất thiêng khác là nơi chốn u linh, tĩnh lặng, mọi người đến viếng để cảm nghiệm và sửa mình, không phải là nơi để khuấy động, ồn ào,…

Cách Thiên An 3 km là nơi yên nghĩ của vua Khải Định, trên đường đến lăng Khải Định, xa xa chúng ta có thể nhìn thấy, thấp thoáng giữa màu xanh cây lá um tùm hiện ra một toà lâu đài thu nhỏ án ngự trên một ngọn đồi, được che đậy bởi vòm trời trong veo, bàng bạc những áng mây trắng hồng đang trình diễn cuộc sắp đặt của gió. Trên đường từ Thiên An đến lăng Khải Định, bên đường phía trái, có một ngọn đồi khiêm cung là nơi an nghĩ của điêu khắc gia Điềm Phùng Thị và phu quân của bà là ông Bửu Điềm. Những ngọn đồi rất gần thành phố Huế là Nam Giao, Phủ Cam. Tiếc rằng, dọc trên những sườn đồi đó, phố thị mọc lên tự do, không theo mô thức nào cả, kể cả những khu phố mới ở Trường An. Nếu được quy hoạch để tạo thành những khu phố đồi, sẽ tạo thêm điểm tham quan cho du khách.
Ngoài các ngọn đồi ở phía nam sông Hương, còn có đồi Hà Khê ở phía bắc sông Hương ở cách trung tâm thành phố khoảng 5 km, một địa danh đi vào trong dân gian qua câu hò:

“Kim Liên ơi hỡi Kim Liên
Đẩy xe cho chị qua miền Hà Khê
Hà Khê nước chảy đường nghê
Chim kêu vượn hú bốn bề nước non”


Qua câu hò trên, chúng ta có thể hình dung, từ thời xưa vùng đồi Hà Khê rất hoang vắng. Tương truyền rằng, trên đồi Hà Khê ngày xưa đã có một ngôi chùa nhỏ của người Champa, sau này được chúa Nguyễn cho xây dựng lại để trở thành ngôi linh tự Thiên Mụ vang tiếng ngày nay. Và xa hơn nữa bên kia sông Bạch Yến là chùa Kim Sơn xưa cổ nằm trên một ngọn đồi đất đỏ, Kim Sơn tự ngày xưa là nơi tạo ra các bậc tăng tài của xứ Huế, dọc theo con đường đất đỏ và bụi mù để vào trong hun hút của núi rừng là Huyền Không Sơn Thượng, một cơ sở Phật giáo Nguyên Thuỷ vừa mới hình thành vài thập niên trở lại.
Ở Huế, ngoài những ngọn đồi bằng đất đá gắn liền với những cơ sở tôn giáo thiêng liêng, trong sâu thẳm của Huế, ẩn chứa ngọn đồi tâm linh tiềm ẩn trong tâm thức mỗi người dân Cố đô, thể hiện lòng tri ân tổ tiên, đất trời qua những nét văn hoá biểu hiện trong các nghi lễ chạp, giỗ, cúng đất, cúng trời,… Một ngày mưa, đi theo dòng người, đưa tiễn người O ruột về nơi an nghĩ cuối cùng trên độn cát trắng của làng quê, tôi nhận ra rằng độn cát đó là một ngọn đồi thiêng của biển, được chọn làm nơi an nghĩ của tổ tiên các dòng họ và cư dân đang cư ngụ trong những ngôi làng ven biển.

nấm lùn 1997
15-10-2010, 08:40 AM
hì mìh mới đi huế vs trường về lên đây coi mà thấy nhớ qá:panda81:
mà ở đây cũg có mấy chỗ hok đc đi! tiếc qá:panda91:
thks bn đã post nhé:panda36:

Con Nít*
15-10-2010, 05:03 PM
Những ốc đảo trên sông Hương


Những ốc đảo trên sông Hương từ lâu đã làm nên những điểm nhấn tuyệt vời trong kiến trúc hài hòa của Huế. Có điều, ít ai có thể ngờ rằng trên sông Hương không chỉ có hai hòn đảo Dã Viên- Cồn Hến từng mệnh danh là “Tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ”, mà có đến 5 ốc đảo xuôi dòng nước xanh, chứa đựng trong nó biết bao dấu tích rêu phong của cố đô Huế và bao số phận con người...


http://www.nld.com.vn/img/3877/19-chot.jpg (http://www.nld.com.vn/img/3877/19-chot.jpg)
Cồn Hến, nơi người dân làm nghề cào hến để nấu cơm Hến


“Dữ dã viên ký” và tâm sự người cồn Hến
Về địa lý phong thủy, cồn Dã Viên cũng như cồn Hến đã đóng vai trò tâm linh trong kiến trúc cố đô, các nhà quy hoạch kiến trúc đầu thế kỷ thứ 19 đã siêu nhiên hóa và hình tượng hóa chúng thành con rồng và con cọp ở trong thế rồng chầu hổ phục để bảo vệ vương quyền. Không hiểu vì đâu mà người Huế gọi “Tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ” là hai cái cồn, song lại gọi những cồn khác cũng trên con sông này là đảo Cũng không biết cồn Dã Viên hình thành từ bao giờ, chỉ biết nó được nhắc đến nhiều trong các văn tự thời Nguyễn và ngày 5-1-1750 đã từng có trận đấu giữa voi và cọp do chúa Nguyễn tổ chức. Hôm đó 40 con voi đã quật chết hết 18 con cọp. Một trong những tư liệu quan trọng khác gắn với Dã Viên là bài “Dữ dã viên ký” do vua Tự Đức viết sau khi vườn ngự trên cồn này xây dựng xong. Trong đó có nói rằng khởi thủy của cồn này có bảy ngôi nhà dân ở, nhỏ hẹp và xiêu vẹo. Lầu ngự của vua nghe nói tồn tại đến năm 1900, còn từ 1925 thì bỏ mặc cho mưa nắng. Ngày nay, trên đảo cũng chỉ có 8 hộ dân sinh sống. Các di tích xưa đều đã biến mất, chỉ có tháp nước Dã Viên cung cấp nước cho dân thành phố là còn đứng sững giữa sông xanh.

Xuôi về phía dưới không xa, cồn Hến lớn hơn nhiều so với Dã Viên, cũng chia sông Hương ra làm hai nhánh. Nhánh phía Đông là ranh giới giữa Vĩ Dạ và cồn Hến, nhánh phía Tây là ranh giới giữa cồn Hến và phường Phú Cát. Ngày xưa, hai khe nước giữa cồn phù sa lấp cạn, tôm cá rất nhiều, đêm đêm người đến đây soi, đơm bắt, đèn đuốc sáng cả góc trời nên người ta còn gọi là “xứ cồn cạn”. Phường Giang Hến ra đời trên đất “xứ cồn cạn” lại không theo nghề tôm cá mà lại làm nghề cào hến dọc sông Hương. Bởi nghề này mà cồn Hến trở thành cái nôi của món cơm không nơi nào có được là cơm hến Huế. Từ một ốc đảo nhỏ thuở xưa, nay cồn Hến đã là một vùng đất đai cao ráo với diện tích gần 33 ha, gồm 5 tổ của khu vực 6, phường Vĩ Dạ. Ở đó dân cư đông đúc, có trường học, đền chùa. Từ sau khi bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử được truyền tụng, với câu: “Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay”, cồn Hến ngoài nổi tiếng cơm hến, còn nổi tiếng món chè bắp với tên gọi “chè bắp xứ cồn” thơm và rất chi thanh ngọt. Kể từ sau khi đất nước mở cửa, kinh tế thị trường tràn ra đảo thì cồn Hến ngoài nơi cào hến và trồng bắp ra, còn là “đảo ẩm thực”. Du khách ra đảo này có thể vừa soi mặt mình xuống sông Hương vừa ăn cơm hến, chè bắp... Bởi vậy năm 1997, UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế dự định mở khu du lịch ở ốc đảo này nhưng chưa thực hiện được do không có vốn. Người cồn Hến mấy năm trở lại đây thất bát vì nghề cào hến không còn cho thu nhập như xưa. Do đánh bắt ráo riết với các dụng cụ không hợp lý, hến trên sông Hương đang ít dần. Một người đàn ông Giang Hến tên là Trai đã khóc trong bóng chiều, nói rằng thật đáng buồn khi một vài năm lại đây hến ở cồn Hến không còn là hến sông Hương nữa, mà người ta đi mua hến từ xứ khác về thay vào. Bây giờ con hến sông Hương đã bỏ đi, biết bao giờ nó sẽ quay về...


Cụm đảo bên cạnh cồn Hến
Phía trên cồn Hến, ngang qua phường Phú Cát có cụm đảo 5 cồn nổi nhỏ, người Huế gọi đó là “Đảo ông Sắt”. Tên gọi này xuất phát từ việc ông Võ Sắt là người dân vạn đò thường xuyên kè chắn, lập miếu thờ Thiên Y A na và lo hương đèn trên đảo rồi sau đó trở thành người vạn đò đầu tiên ở khu vực này lên đảo làm nhà ở. Bây giờ trên đảo này còn có một lớp học tình thương với khoảng 50 chỗ ngồi do UBND phường Vĩ Dạ xây dựng. Có một người thầy đã nhiều năm, dù mưa hay nắng, ngày nào cũng đi ghe ra đảo để dạy những đứa trẻ rất mê học chữ ở đây. Học tập ông Sắt, ông Võ Mốc cũng kè chắn những hòn đảo nhỏ xung quanh, dựng miếu thờ Thiên Y A na và đàn Âm hồn. Năm cụm đảo này bây giờ là đất lành cho 400 thuyền thuộc tổ 21, 22 khu vực 7, phường Vĩ Dạ neo đậu, sinh sống. Các hộ đò ở đây giờ đã biết hình thành các quỹ tiết kiệm, chẳng hạn mỗi đò một ngày đóng 200 đồng, đến cuối năm “đổ ống” ra mổ heo ăn Tết. Cũng có một số chương trình xã hội do thanh niên Huế thực hiện ở đây, đưa được một số thanh niên trên đảo vào đất liền học các nghề may, điện lạnh... Đảo đang ngày càng gắn với đất liền.


Hai ốc đảo khác
Đứng ở Đập Đá nhìn về hướng Đông Nam, cách không xa (khoảng 600 m) có một hòn đảo nhỏ là đảo Bảo An Định. Đảo này nằm giữa dòng sông Như Ý, một nhánh của sông Hương mà cả khởi đầu và kết thúc đều ở sông Hương. Khởi thủy, đảo chỉ là một mô đất cạn giữa dòng, ông Võ Văn Đồng, làm nghề sông nước đã nhọc công lặn đá chắn kè khiến đảo ngày một lớn. Lúc rộng nhất của đảo là 150 m2, ông Đồng đưa cả gia đình ra đảo sống. Năm 1967, ông Đồng xin chính quyền hồi ấy lập miếu thờ thần rắn trên đảo và được chấp nhận. Hiện, con trai ông Đồng là Võ Văn Thư đã xây một ngôi nhà trên đảo. Tuy nhiên, sống ở trên đảo vào mùa lũ là rất nguy hiểm. Năm 1999, lũ đã cuốn trôi 4 mạng người trên đảo Bảo An Định cùng với 50% diện tích đảo (đảo giờ chỉ còn 80 m2). UBND TP Huế đã quyết định cấp tốc giải tỏa các hộ ở trên đảo này và đã cấp đất cho gia đình ông Đồng, ông Thư ở phường Vĩ Dạ. Dù đã nhận đất, dựng nhà, con cháu đã đến ở, ông Thư vẫn cứ sống và làm ăn trên đảo.

http://www.nld.com.vn/img/3877/19-con-da-vien-1.jpg (http://www.nld.com.vn/img/3877/19-con-da-vien-1.jpg)
Cồn Dã Viên, nơi từng tổ chức trận đấu giữa voi và cọp do chúa Nguyễn tổ chức năm 1750

Xuôi dọc sông Như Ý, về đến ngã ba sông Vân Dương có một hòn đảo nhỏ gọi là đảo Phao Võng. Vào thời Gia Long, ông Nguyễn Hữu làm nghề sông nước ở thôn Phao Võng, xã Hiền Vinh (Phú Lộc) cùng 5 gia đình khác chuyển lên vùng đất nổi ở ngã ba sông này làm nơi neo đậu, sinh sống bằng nghề chài lưới, lập nên thôn mới gọi tên là Phao Võng (để nhớ thôn cũ). Hòn đảo nhỏ giữa ngã ba sông này cũng mang tên Phao Võng từ đó. Lâu ngày, đảo hẹp dần, hậu sinh của họ Nguyễn lên cạn làm ăn sinh sống, chỉ còn lại một hòn đảo nhỏ với cây mân trên trăm tuổi và một am thờ Thiên Y A na khá lâu đời.


Lãng mạn cùng ốc đảo
Trên những ốc đảo đó, người ta thờ thần Thiên Y A na, thần rắn cầu mong mưa thuận gió hòa, thuận thuyền xuôi chèo để làm ăn, đánh bắt tôm cá... Lâu ngày, người trên cạn cũng ra đảo thờ cúng các lễ như: cúng bạc vớt, cúng xai-phan (cầu hồn), lễ thành, đám chay... Bởi vậy, những ốc đảo nói trên ngoài việc tạo vẻ mỹ quan độc đáo cho sông Hương, còn là những vùng đất tâm linh trên sông nước.

Năm 1995, giữa lúc các đảo, cồn trên sông Hương mai một dần, có một người chợt nhớ ra là kiến trúc sư Nguyễn Trọng Huấn. Bấy giờ, với tư cách là chủ nhiệm đồ án “Quy hoạch tôn tạo cảnh quan hai bờ sông Hương”, ông Huấn đề nghị đưa cồn Dã Viên vào khai thác văn hóa du lịch. Trong đó, có đề xuất chuyển tuyến đường sắt qua Dã Viên sang hướng khác, giải tỏa tháp nước Dã Viên trên cồn... hình thành một hoa viên trên sông Hương, tháp nước cao 35 m sẽ cải tạo thành một khu vui chơi, giải trí, nhà hàng trên cao... Rất tiếc là những ý tưởng ấy giờ vẫn còn nằm trên giấy. Nhưng rõ ràng trong mắt nhiều nhà du lịch, rất có thể thiết kế một tour du lịch bằng thuyền đến các đảo trên sông Hương. Có thể tận mắt nhìn thấy những phế tích về một lầu đài xưa kia cực kỳ hoa lệ trên Dã Viên, những con người trên các đảo, những làng nghề sông nước ở cồn Hến và tất nhiên, thưởng thức tại đây những món ăn hải sản tươi sống vừa đánh bắt từ sông Hương lên, hay cũng chỉ cần ăn cơm hến, chè bắp xứ cồn là đủ... Nếu may mắn hơn, có thể dự một buổi lễ cúng tâm linh miền sông nước. Đó không phải là những cái thú sao .

Con Nít*
16-10-2010, 07:12 AM
Biển Cảnh Dương

Trên tuyến quốc lộ 1 từ Huế vào Đà Nẵng, cách Huế khoảng 60km, nằm giữa mũi Chân Mây Tây và Chân Mây Đông là bãi tắm và khu nghỉ mát lý tưởng mang tên Cảnh Dương.

http://www.skydoor.net/Download?mode=photo&id=7491

http://www.tinhuyhue.vn/portal/UploadFiles/tinhuyhue.vn/TinTuc/tin_tuc_trong_tinh/Bai%20bien%20canh%20duong.jpg (http://truongton.net/forum/vcheckvirus.php?url=http%3A%2F%2Fwww.tinhuyhue.vn%2Fportal%2FUploadFiles%2Ftinhuyhue.vn%2FTinTuc%2Ftin_tuc_trong_tinh%2FBai%2520bien%2520canh%2520duong.jpg)
Biển Cảnh Dương


Bãi biển Cảnh Dương dài 8km, rộng 200m, hình vòng cung, có độ dốc thoai thoải, cát trắng mịn, tương đối kín gió, rất thuận lợi cho việc tổ chức các loại hình du lịch và thể thao.

Kế bên bãi biển đẹp này là một Chân Mây với làn nước yên ả, bãi tắm rộng, bằng phẳng hòa hợp cùng làn nước biển trong xanh và âm thanh reo ca của rừng dương nằm sát bãi tắm.

Con Nít*
16-10-2010, 11:10 AM
Biển Thuận An


http://vnexplore.net/files/hue/hue_bien_thuanan.jpg (http://vnexplore.net/files/hue/hue_bien_thuanan.jpg)


Vị trí: Bãi biển Thuận An thuộc thị trấn Thuận An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên - Huế.

Đặc điểm: Thuận An là nơi tắm biển thú vị cho du khách sau một ngày tham quan kinh thành, lăng tẩm, chùa chiền, phong cảnh ở Huế.

Bãi biển Thuận An nằm bên cạnh cửa biển Thuận An, nơi dòng sông Hương đổ ra phá Tam Giang rồi thông ra biển. Bãi biển cách Tp. Huế 15km và du khách có thể đi đến đó bằng ô tô.

Chuyến đi bằng ô tô vừa nhanh và thú vị với một bên là cảnh dòng sông còn bên kia là quang cảnh nhà cửa, am miếu, đền chùa và những cánh đồng lúa.

Thuận An là nơi thu hút rất đông người dân xứ Huế về hóng mát và tắm biển vào dịp hè. Thời kỳ tấp nập nhất ở đây thường kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9 lúc tiết trời nóng bức nhất.

Ngoài ra du khách có thể đến tham quan miếu Thái Dương ở gần đó với sự tích nữ thần Thái Dương được dân làng hết sức sùng bái, hoặc thăm miếu Âm Linh thờ thần cá voi, con vật linh thiêng của dân miền biển.

Con Nít*
17-10-2010, 10:53 AM
Thác A-nô

http://s5.60s.com.vn/image/112009/22/TTO_112659754.jpg


Nếu một lần lạc bước đến khu du lịch sinh thái thác A-Nô (xã Hồng Kim huyện A Lưới, Thừa Thiên Huế), du khách có cảm tưởng đang bước vào một thế giới đa sắc màu. Một bên là tiếng suối róc rách chảy từ khe núi, bên kia là dàn hợp xướng hoành tráng, oai nghiêm của muôn loài chim giữa đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ.


http://www.namphuongtourist.com/images/travelnews/Thac%20Na%20no%20%28Custom%29.jpgTheo đường tỉnh lộ 49 và cách Huế 70km về phía Tây, sẽ đưa bạn đến khu du lịch sinh thái thác A-Nô. Có diện tích khoảng10 ha, Khu du lịch A Nô bao gồm ba thác nước nằm không xa nhau tựa như bức rèm voan trắng muốt lung linh trước gió. Cuối thác là những hồ nước nhỏ trong veo in bóng mây trời.

Từ cách xa hàng trăm mét, du khách có thể cảm nhận được những bọt nước trắng xóa, thoảng nghe tiếng tù và của các chàng trai Pa Cô í ới gọi bạn tình. Xung Quanh thác là những lùm hoa dại nhấp nhô khoe sắc, các mỏm đá phủ dày rêu xanh. Sáng sớm, du khách khó nhận ra đâu là thác, đâu là cây cối, núi đồi... bởi tất cả đều ẩn hiện dưới màn sương trắng. Buổi trưa, dưới ánh nắng của rừng đại ngàn, làn sương tan dần để lộ một khung cảnh trong trẻo, tươi xanh. Có lẽ đây là thời điểm đẹp nhất để du khách ngắm nhìn, tận hưởng vẻ quyến rũ của cảnh quan sơn thủy đẹp như tranh. Chiều về, khi bóng mặt trời chìm dần sau đỉnh thác cũng chính là lúc ánh lửa bập bùng dưới khu nhà sàn An Sinh được thấp sáng. Những bình rượu cần và đùi gà nướng cùng với món cơm lam, canh cá hanh nấu măng rừng đang chờ đón mọi người trở về, sau một ngày thả hồn mình bên dòng thác A-Nô.

Đến khu du lịch sinh thái này, du khách không những chiêm ngưỡng vẻ đẹp thiên nhiên tươi mát mà còn được cùng chung sống, sinh hoạt, hòa nhập với đồng bào Pa Cô, Cơ Tu, giúp mọi người hiểu và biết thêm về lịch sử đấu tranh anh dũng, bản sắc văn hóa của người dân vùng cao A Lưới. Đằng sau cái dáng vẻ sơn thủy hữu tình, vùng đất này còn lừng danh một thời là "đất thép" - căn cứ địa cách mạng của khu ủy Trị - Thiên trong kháng chiến chống Mỹ. Một số địa danh nơi đây đã đi vào lịch sử như "Ngã tư giao liên đỏ máu", Suối A-riêng - nơi che giấu khí tài vận tải chi viện chiến trường...

Khu du lịch sinh thái thác A-nô sẽ là điểm hẹn lý tưởng của du khách khi tham quan, khám phá đường mòn Hồ Chí Minh huyền thoại.

co0lguy92
17-10-2010, 11:46 AM
Huế mộng mơ, mong rằng một ngày được đặt chân đến Huế để cảm nhận hương vị tuyệt vời của vùng đất Cố Đô này :x

Con Nít*
17-10-2010, 03:31 PM
Thác Nhị Hồ

http://www.khamphahue.com.vn/upload/dvdulich/diemtq/stdn/thac-nhi-ho.jpgThác Nhị Hồ cách Huế 43km về phía Nam, cách Quốc lộ 1A (tuyến Huế - Ðà Nẵng) 3km đường đất.

Thác Nhị Hồ là một ngọn thác nước nhỏ đổ xuống từ trên vách núi tạo nên hai cái hồ nước gần nhau. Mỗi hồ rộng khoảng 30x30 m, hai hồ nhận nước từ ngọn thác tích nước lại và chảy theo quy trình đập tràn. Vì có hai hồ nên người dân địa phương gọi là Nhị Hồ. Khác với những thác khác, độ dốc của nhị Hồ thấp nên du khách có thể lên đỉnh thác để tắm. Vừa ngâm mình - bơi thỏa thích dưới hai hồ nước mát lạnh vừa tắm mình dưới dòng thác đổ, cảm giác như được massage. Xung quanh thác là rừng nguyên sinh.

Từ bãi đậu xe du khách đi theo con đường mòn nhỏ dưới những tán cây dừng khoảng 200 m là đến Nhị hồ và đỉnh thác. Ở các sườn núi là dãy hàng quán của cư dân địa phương dựng lên những lán trại để phục vụ cho du khách nghỉ ngơi và ăn uống. Vào khoảng tháng 2-4 hoa mua và hoa sim nở tím cả đường đi. Du khách có thể dừng chân nơi cánh rừng sim để thưởng thức những trái sim chín thỏa thích.

Con Nít*
18-10-2010, 07:20 AM
Phá Tam Giang

http://www.khamphahue.com.vn/upload/dvdulich/diemtq/stdn/images93637_phatamgiang281004.jpg (http://www.khamphahue.com.vn/upload/dvdulich/diemtq/stdn/images93637_phatamgiang281004.jpg)

Ðồng bằng ven biển Thừa Thiên Huế có nhiều đầm phá, vũng như phá Tam Giang, đầm Thanh Lam, đầm Thuỷ Tú, đầm Cầu Hai, vũng Lập An. Ðây là tụ hội của hầu hết các con sông trước khi đổ ra biển.


http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/4/40/Tam_Giang_lagoon.jpg (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/4/40/Tam_Giang_lagoon.jpg)

Vị trí: Phá Tam Giang giới hạn phía bắc là cửa sông Ô Lâu, phía nam là cửa sông Hương thông với biển qua cửa Thuận An, thuộc địa phận 12 xã của ba huyện Quảng Ðiền, Phong Ðiền và Hương Trà.

Đặc điểm:
Tam Giang và Cầu Hai là 2 đầm phá nước lợ lớn nhất, tiêu biểu nhất ở Việt Nam với chiều dài gần 70 km đã án ngữ hầu hết chiều dài của tỉnh Thừa Thiên Huế là vùng nước lợ lý tưởng cho nhiều loại thủy sản sinh sống

Phá Tam Giang có độ sâu từ 2 đến 4m, có nơi sâu tới 7m, mặt nước rộng mênh mông là địa bàn hoạt động kinh tế quan trọng mang lại những giá trị tài nguyên to lớn. Hàng năm khai thác trên vùng đầm phá hàng nghìn tấn hải sản, cá, tôm các loại. Những năm gần đây, trên vùng đầm phá đã phát triển nuôi trồng thủy sản, nhất là nuôi tôm và trồng rau câu. Hiện nay tỉnh đang nghiên cứu đầu tư xây dựng cầu qua phá Tam Giang để có điều kiện phát triển kinh tế và du lịch tại vùng này.

Được hình thành và tồn tại hơn 2000 năm. Đây là loại hình thủy vực rất độc đáo, được coi như là một vùng biển - một lagoon ven biển nhiệt đới.

Đã đến Phá Tam Giang thì không nên bỏ qua món hải sản với rất nhiều loại như cá chình, cá lụy, cá lệt khoai, cá lệt cú, cá vượt, cá dìa cá nâu, tôm sú, tôm đất, tôm bạc, trặc (rất hiếm). Cá lệt cú um với măng, chuối chát ăn với bún hoặc cơm. Còn cá chình và cá lụy thì nướng, cuốn bánh tráng chấm nước mắm hay mắm ruốc. Cá trặc kho sệt ăn với cơm rất ngon. Theo người dân địa phương thì canh cá bong thệ nấu với thơm ăn mát cả mùa hè, hoặc đĩa bánh khoái cá kình thì khộng thể nào quên được. Người ta nói không ngoa, cá có rất nhiều suốt chiều dài đất nước, nhưng không có cá nào ngon và thơm như cá Tam Giang

Con Nít*
18-10-2010, 04:00 PM
Suối Voi


http://www.phunuonline.com.vn/dulich/2009/Picture/CN14/lensuoi2.jpg (http://www.phunuonline.com.vn/dulich/2009/Picture/CN14/lensuoi2.jpg)
Tảng đá hình y hệt một con voi thật đang thả vòi uống nước dưới chân thác.

Suối Voi nằm trên địa phận Thừa Thiên - Huế, tên địa phương gọi thân mật là suối Mệ. Theo cách gọi dân gian, mệ có nghĩa là con voi khổng lồ.

Từ thành phố Huế chạy về phía Nam 60 km, hay Đà Nẵng chạy ra 40 km, rồi thêm 3 km chạy lên phía tây, ngang địa phận Thừa Lưu, xã Lộc Tiến, huyện Phú Lộc, Thừa Thiên Huế, men theo con đường nhỏ được phủ lớp bê tông, du khách sẽ đến suối Voi, một con suối thật nhiều nước với nhiều ngọn thác lớn tuôn ra dưới một cánh rừng nguyên sinh khá dày thảm thực vật.

Vào mùa xuân tiết trời ấm áp, mát mẻ, các “mệ” từ đỉnh Bạch Mã, hàng trăm con kéo thành từng đoàn đến đây ăn củ sắn dây rừng, duy nhất vùng này mới có, nhưng sau đó đàn voi đã biến mất hút vào rừng, chỉ còn lại những vũng nước lớn và con suối chảy qua hàng trăm khối đá khổng lồ.

Tại điểm được đặt tên Suối Voi, có một tảng đá hình y hệt một con voi thật đang thả vòi uống nước dưới chân thác, nơi có một hồ nước được đặt tên là Đầm Voi. Đây là một hồ tắm thiên nhiên tuyệt vời rộng chừng 30 m2, sâu trên 2 m, nằm giữa hai ngọn thác. Hồ nước mát lạnh trong xanh có thể nhìn tận đáy.

Từ đây ngược lên khoảng trên 1 km là suối Đá Bàng, hay còn gọi là Hang Nai, nằm dưới chân một rặng núi cao trong dãy Trường Sơn. Đây là một con đường kỳ thú với nhiều hồ thác lách qua những vách đá đủ hình dạng trải dài bên một khu rừng nguyên sinh.

Tại đỉnh đầu của thác Đá Bàng, du khách tha hồ thoả chí “tang bồng” bằng những dự định cùng bạn bè thích mạo hiểm, hoặc vui thú với gia đình, tự mình khám phá thiên nhiên, rồi sau đó đi bắt cá nia, hái lá giang để nấu món canh chua, hay luộc rau tàu bay chấm với nước cá bóng thệ cùng với mọi người.

Ở phía thượng nguồn, du khách sẽ có điều kiện chiêm ngưỡng vẻ đẹp kỳ diệu của khu rừng nguyên sinh. Đây là tài sản vô giá của suối Voi, nơi còn giữ lại những cây sến cổ thụ và quần tụ những loài chim thú quý hiếm như vượn quàng, sơn dương, nai, hoẵng, heo rừng, khướu, sáo, trĩ sao.

Từ khi hình thành du lịch sinh thái Suối Voi (1994), chỉ hoạt động vào mùa nắng, nhưng khu du lịch này đã giải quyết việc làm cho hơn 310 hộ là người dân địa phương trong thời gian nông nhàn. Cả mùa, mỗi hộ lời từ 12-15 triệu đồng.

Theo ước tính của anh Nguyễn Văn Tâm, chủ nhiệm Hợp tác xã Song Thuỷ, đồng thời phụ trách khu vực suối Voi, hàng năm, có khoảng 40.000 lượt khách đến tham quan và nghỉ dưỡng tại đây. Đại đa số là khách nội địa ở Đà Nẵng và Thừa Thiên - Huế. Đông nhất vẫn là những ngày lễ lớn, ngày cuối tuần.

Con Nít*
19-10-2010, 08:55 AM
Khu du lịch Nước khoáng nóng Mỹ An

http://images03.olx.com.vn/ui/2/51/06/26224506_1.jpg (http://images03.olx.com.vn/ui/2/51/06/26224506_1.jpg)

Khu Du Lịch Nước Khoáng Nóng Mỹ An,Huế cách trung tâm thành phố Huế 7km về phía biển Thuận An, là địa chỉ ngâm nước khoáng kết hợp nghỉ dưỡng, tham quan di sản Cố đô Huế được du khách trong và ngoài nước chọn làm nơi nghỉ trong chuyến du lịch tham quan Huế của du khách và gia đình.Tại sao du khách chọn chúng tôi ? Theo các khảo sát gần đây của khách du lịch, chất lượng phục vụ ngày càng được nâng cao, chất lượng dịch vụ khá tốt, đây là nơi duy nhất có nguồn nước khoáng nóng thiên nhiên với hàm lượng lưu huỳnh đặc trưng và các khoáng chất khác có khả năng chữa các bệnh ngoài da, da khô, vảy da, thấp khớp, đau xương, mỏi cơ và nơi rất thuận tiện tham quan các di sản Cố Đô Huế, tắm biển Thuận An trong ngày. Chúng tôi hân hạnh giới thiệu địa chỉ đã và đang thu hút du khách khi đến tham quan Huế với quý cơ quan ban ngành trong và ngoài tỉnh, chúng tôi rất mong được đón tiếp và phục vụ du khách gần xa.

Con Nít*
19-10-2010, 08:43 PM
Ngọ Môn


Mặc dù đã trải qua hơn một thế kỷ rưỡi với bao cơn bão táp của thiên nhiên và chiến tranh tàn phá, nhưng nhờ có kỹ thuật xây dựng khéo léo và nhất là nghệ thuật kiến trúc rất thành thạo, cho nên, Ngọ Môn vẫn còn đứng vững với thời gian để trở thành một trong những công trình kiến trúc cổ tiêu biểu của miền núi Ngự Sông Hương.


Vị trí: Ngọ Môn là cổng chính vào Đại Nội trong kinh thành Huế, Tp. Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế.

Đặc điểm: Ngọ Môn là một trong những công trình kiến trúc cổ tiêu biểu của miền núi Ngự sông Hương.
Ngọ Môn xây dựng vào năm 1833, khi vua Minh Mạng cho quy hoạch lại mặt bằng và hoàn chỉnh hóa tổng thể kiến trúc trong Ðại Nội.

Vì Kinh Dịch quy định, ông vua bao giờ cũng quay mặt về phía nam để cai trị thiên hạ, cho nên, ngay từ thời Gia Long (1802 - 1810), khi xây dựng Kinh đô Huế, các nhà kiến trúc đã cho hệ thống thành quách và cung điện ở vào vị trí thế “tọa càn hướng tốn” (tây bắc đông nam). Hướng này cũng được xem như hướng bắc - nam. Ðối với ngai vàng trong Điện Thái Hòa được xem như vị trí trung tâm của mặt bằng tổng thể, Ngọ Môn nằm ở phía nam của nó. Căn cứ trên la kinh (la bàn) của khoa địa lý phong thủy Ðông Phương, phía nam thuộc hướng "ngọ" trên trục "tý ngọ" (nghĩa là bắc - nam). Do đó, triều Minh Mạng đã đặt tên cho cái cổng mới xây ở chính giữa mặt trước Hoàng Thành là Ngọ Môn, thay cho tên cũ là Nam Khuyết Ðài. Chúng ta nên hiểu Ngọ Môn là cổng phía nam với ý nghĩa mang tính không gian, chứ không nên cho rằng chữ "ngọ" ở đây mang tính thời gian là giờ "ngọ", lúc mặt trời đứng bóng giữa ngày. Thành thử không thể dịch chữ Ngọ Môn ra thành "Noon time gate" như có người đã dịch. Có hiểu đúng ý nghĩa của người xưa khi đặt tên, mới thấy rõ hơn vị trí của Ngọ Môn trong tổng thể kiến trúc Ðại Nội. Ngày xưa, cổng này thường đóng chặt quanh năm, chỉ được mở khi vua ra vào Hoàng Thành có đoàn ngự đạo đi theo, và trong những dịp tiếp kiến các sứ ngoại quốc quan trọng trong hoàng cung...

http://farm1.static.flickr.com/210/491002630_b40e60c3bf.jpg (http://farm1.static.flickr.com/210/491002630_b40e60c3bf.jpg)

Tuy nhiên, Ngọ Môn không phải chỉ là một cái cổng, mà nó là cả một tổng thể kiến trúc khá phức tạp: bên trên còn có Lầu Ngũ Phụng được xem như một lễ đài, dùng để tổ chức một số lễ hàng năm của triều đình, như lễ Truyền Lô (đọc tên các sĩ tử thi đỗ tiến sĩ), lễ Ban Sóc (phát lịch), lễ Duyệt Binh...và đây cũng là nơi diễn ra lễ thoái vị của vua Bảo Ðại vào ngày 30/8/1945.

Về mặt kết cấu kiến trúc, có thể chia tổng thể Ngọ Môn ra làm hai hệ thống: hệ thống nền đài ở dưới và hệ thống Lầu Ngũ Phụng ở trên, mặc dù cả hai đều đã được thiết kế ăn khớp nhau một cách chặt chẽ và hài hòa từ tổng thể đến chi tiết.

Hệ thống nền đài: Cao gần 5m, nền đài Ngọ Môn xây trên một mặt bằng hình chữ U vuông góc, đáy dài 57,77m và cánh 27,06m. Vật liệu kiến trúc chính là gạch vồ, đá thanh và đồng thau. Ở phần giữa của nền đài trổ ra ba lối đi song song nhau: Ngọ Môn (dành cho vua đi), Tả Giáp Môn và Hữu Giáp Môn (dành cho quan văn võ theo hầu trong đoàn Ngự Ðạo). Ở trong lòng mỗi cánh chữ U có trổ một lối đi như đường hầm chạy xuyên suốt từ trong ra ngoài, rồi thẳng góc vào phía đường Dũng đạo. Hai lối đi này được gọi là Tả Dịch Môn và Hữu Dịch Môn (dành cho lính tráng và voi ngựa theo hầu trong đoàn Ngự đạo). Ở phần trên của 5 lối đi đều xây cuốn thành vòm cao, nhưng ở riêng ở hai đầu 3 lối đi giữa thì các kiến trúc thời Minh Mạng lại kết cấu những hệ thống xà ngang và xà dọc bằng đồng thau với tiết diện 15x12 để gia cố cho sự chịu lực từ Lầu Ngũ Phụng nằm trên đài. Nơi nào chịu đựng trọng lượng càng lớn thì số lượng xà ngang càng nhiều và khoảng cách giữa chúng càng thu hẹp lại, nghĩa là mật độ xà càng cao. Và để giữ vẻ thẫm mỹ, họ đã bọc thêm một lớp đồng lá dát mỏng ở ngoài mặt các hệ thống xà đồng này. Họ đã tỏ ra rất thành thạo trong việc tính toán tải trọng, sức bền vật liệu, cũng như trong việc sử dụng thích hợp các phương thức và các loại vật liệu xây dựng.

Còn ở tầng trên thì mặt trước nhà giữa dựng cửa lá sách, chung quanh nong ván, nhưng có trổ nhiều cửa sổ với những dạng khác nhau: hình tròn, hình cái quạt, hình cái khánh...

Có thể chia 9 bộ mái của Lầu Ngũ Phụng ra làm 3 dãy, mỗi dãy gồm 3 nóc: dãy chính chạy ngang theo đáy hình chữ U và hai dãy phụ chạy dọc theo hai cánh hình chữ U. Hai dãy này được gọi là Tả Dực Lâu và Hữu Dực Lâu.

Từ mặt đất thường, người ta đi lên trên nền đài bằng hai hệ thống bậc cấp xây bằng đá thanh ở hai bên, nằm lộ thiên nhưng rất kín đáo. Quanh trên nền đài là hệ thống nữ tường (tường hoa, lan can) được trang trí bằng nhiều kiểu gạch hoa đúc rỗng tráng men ngũ sắc.

Hệ thống Lầu Ngũ Phụng : Lầu Ngũ Phụng có hai tầng, dưới lớn trên nhỏ. Bộ sườn làm bằng gỗ lim. Lầu gồm chín bộ mái ngói ống tráng men vàng và xanh lá cây, gọi là ngói hoàng lưu ly và ngói thanh lưu ly. Ngói được lợp theo kiểu âm dương. Lầu dựng ở một nền cao 1,14m xây trên đài. Tòa nhà lầu có 100 cây cột chẵn, trong đó có 48 cột ăn suốt cả hai tầng. Mái tầng dưới đơn giản, nối liền nhau chạy quanh một vòng khắp tất cả các phía để che mưa nắng cho các dãy hồi lang của tầng này. Nhưng ở tầng trên thì mái lầu chia ra thành 9 bộ khác nhau, trong đó, bộ mái ở giữa cao hơn 8 bộ mái ở hai bên. Quanh các phía tầng dưới đều để trống chỉ trừ chính giữa có hệ thống cửa gương ở mặt trước, dựng đố bản ở hai bên và mặt sau chỗ thiết Ngự tọa để vua ngồi dự lễ.

Sở dĩ tổng thể Ngọ Môn được xây dựng trên một mặt bằng hình chữ U và hệ thống Lầu Ngũ Phụng được chia ra thành 9 bộ mái lớn nhỏ, cao thấp, nằm nhấp nhô trông vui mắt như thế là vì để tránh sự nặng nề của một công trình kiến trúc hình khối tương đối đồ sộ. Hệ thống nền đài đều xây bằng các loại vật liệu cứng (đá, gạch, đồng), nhưng nhờ tạo dáng mềm mại, bố trí hài hòa và trau chuốt khéo léo, nên trông vẫn rất nhẹ nhàng. Ðá thanh mài nhẵn, gạch vồ nung kỹ, vừa trộn mật mía và nhựa cây với tỷ lệ cao, cho nên độ bền rất lớn. Các lối đi trổ xuyên qua thân nền đài thành những đường hầm khá dài, nhưng ánh sáng thiên nhiên vẫn chiếu dọi vào đầy đủ nhờ những dạ cửa được nâng cao và trổ thêm các cửa sổ tròn trang trí hình chữ "thọ". Các hệ thống lan can con tiện bằng gỗ (ở tầng trên Lầu Ngũ Phụng) và bằng gạch hoa đúc rỗng (nữ tường quanh trên nền đài) càng làm cho tổng thể kiến trúc trở nên thanh tú. Ở các ô hộc trên bờ nóc, bở quyết và các đầu hồi của tòa nhà lầu được trang trí nhiều hình ảnh rồng, giao, dơi ngậm kim tiền, thơ văn, hoa lá, làm cho phần mái càng thêm xinh.

Căn cứ vào số đo của mọi kích thước mặt bằng, các mặt đứng và mặt cắt, cố họa sĩ Phạm Ðăng Trí đã chứng minh rằng tổng thể cũng như từng bộ phận kiến trúc Ngọ Môn đều được thiết lập theo “tỷ lệ vàng” của nền mỹ học Tây phương; mặc dù các nhà kiến trúc vào nửa đầu thế kỷ 19 chỉ làm theo mỹ cảm trực giác của mình.

Mặt khác, những số đếm trên kiến trúc Ngọ Môn cũng được áp dụng theo nguyên tắc của Dịch học Ðông phương, chẳng hạn như số 5, số 9, số 100. Năm lối đi tượng trưng cho “ngũ hành”. Chín nóc lầu biểu hiện con số 9 trong hào “cửu ngũ” ở Kinh Dịch, ứng với mạng thiên tử. Một trăm cây cột nhà ở Lầu Ngũ Phụng cho thấy đó là số cộng của “Hà Đồ” và “Lạc Thư” trong sách ấy.

Số của "Hà Đồ" là 55 (do các số từ 1 đến 10 cộng lại : 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10); số của “Lạc Thư” là 45 (do các số từ 1 đến 9 cộng lại: 1 2 3 4 5 6 7 8 9). Như vậy số thành của Hà Đồ và Lạc Thư cộng lại (55 45) là 100. Và nói đến Dịch học là phải nói đến âm dương, vì “Nhất âm nhất dương chi vị Ðạo”.

Số dương của Hà Đồ là 25 (do các số lẻ từ 1 đến 10 cộng lại: 1 3 5 7 9; số âm của Hà Đồ là 30 (do các số chẵn từ 1 đến 10 cộng lại: 2 4 6 8 10) và số dương của Lạc Thư là 25 (do các số lẻ từ 1 đến 9 cộng lại: 1 3 5 7 9); số âm của Lạc Thư là 20 (do các số chẵn từ 1 đến 9 cộng lại: 2 4 6 8)

Hai số dương của Hà Đồ và Lạc Thư cộng lại là 50 (tức 25 25); hai số âm của chúng cộng lại cũng là 50 (tức là 30 20). Thành ra âm và dương của Dịch học là bằng nhau, đều 50. Nghĩa là : (25 25) (20 30)= 100.

Trên thực địa, nếu dùng đường trục chính của Ðại Nội là Dũng đạo để chia mặt bằng Lầu Ngũ Phụng ra làm hai phần thì chúng ta thấy mỗi bên có 50 cột đối xứng nhau.

Ðạo âm dương ngũ hành của nền triết học Ðông Phương đã biểu hiện thật cụ thể trên kiến trúc Ngọ Môn. Cho hay, trong các công trình kiến trúc cổ của chúng ta, người xưa đã gửi gắm nhiều ẩn số, ẩn ngữ, ẩn ý rất sâu xa.

Ngoài ra, sự để trống chung quanh tầng dưới Tả Dục Lâu và Hữu Dục Lâu làm lộ rõ các hàng cột thon nhỏ ở Lầu Ngũ Phụng gây cho người xem một cảm giác, một ấn tượng thanh thoát, nhẹ nhàng, dễ chịu.

Tổng thể Ngọ Môn tuy đồ sộ nguy nga, nhìn từ xa như một tòa lâu đài tráng lệ, nhưng khi tiếp cận, chúng ta thấy các kiến trúc sư thời Minh Mạng đã tỏ ra rất cao tay nghề trong việc thiết kế và trang trí, cho nên, nó trở thành một công trình kiến trúc xinh xắn đáng yêu, gần gũi với phong cảnh thiên nhiên và tâm hồn, tình cảm của con người xứ Huế.

Ngọ Môn xứng đáng được liệt vào hàng những công trình kiến trúc nghệ thuật xuất sắc nhất của triều Nguyễn nói riêng và của nền kiến trúc cổ Việt Nam nói chung.

Mặt bằng kiến trúc của hệ thống Lầu Ngũ Phụng ăn khớp với mặt bằng của hệ thống nền đài, như đã nói trên, tạo thành một vòng tay của chủ nhân dang ra phía trước để đón khách vào.

Con Nít*
20-10-2010, 08:44 AM
Lăng Khải Định (Ứng Lăng)

http://www.thvl.vn/data/upload_file/Image/Truong%20Son%20-%20DSVHTG/Khai%20Dinh%201.jpg (http://www.thvl.vn/data/upload_file/Image/Truong%20Son%20-%20DSVHTG/Khai%20Dinh%201.jpg)

hôn Châu Chữ, Xã Thủy Bằng, huyện Hương Thủy, Thừa Thiên Huế là địa chỉ của lăng Khải Định. Lăng Khải Định là một di tích trong quần thể di tích cố đô Huế được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới ngày 11-12-1993.

So với 6 khu lăng của các vua nhà Nguyễn, lăng Khải Định là lăng sau cùng, và mặt bằng kiến trúc nhỏ nhất, nhưng lại là lăng có thời gian xây dựng dài nhất - 11 năm (1920 - 1931), và chi phí tốn kém nhất.

http://www.vapa.org.vn/vie/images/content/Lang%20Khai%20Dinh.jpg (http://www.vapa.org.vn/vie/images/content/Lang%20Khai%20Dinh.jpg)

Năm 1920, sau khi các thầy địa lý đi coi đất và chọn địa điểm xong, triều đình huy động nhiều tù nhân và binh lính ở Huế lên làm việc khổ sai như mở đường, phá núi, làm toại đạo, tạo ra một mặt bằng xây dựng ở triền phía tây của một ngọn núi thuộc vùng Châu Chữ - là nơi rừng thiêng, nước độc nền tù nhân và binh lính lên xây dựng lăng bị chết khá nhiều.

Triều đình đã đưa tất cả thợ thủ công giỏi nhất trong “Nê ngõa tượng cuộc” lên làm việc dài hạn ở đây, trong số đó có nghệ nhân nổi tiếng nhất về tài trang trí bằng cách vẽ những bức họa long vân trên trần và đắp nổi cảnh vật lên tường là cụ Phan Văn Tánh, về sau được tặng hàm Bát phẩm.

Trong lăng Khải Định có hai pho tượng bằng đồng tạc hình vua: tượng ngồi trên ngai vàng được thực hiện ở Paris vào năm 1920, do hai người Pháp là P.Ducuing tạc tượng và F.Barbedienne đúc tượng, trong lòng rỗng, sau đó đưa về Huế mới mạ vàng bên ngoài. Tượng đứng đúc tại Huế do một người lính thợ quê ở Quảng Nam thực hiện. Làm tượng xong ông được tặng hàm Bát phẩm. Tượng này nguyên đặt trong nhà bát giác trước cổng cung An Định, năm 1960 đưa lên đặt tại Bi đình ở lăng Khải Định, từ năm 1975, cất vào phòng kín trong lăng.

Để thực hiện các công trình kiến trúc và trang trí tốn kém ở lăng Khải Định, nhà nước đương thời đã tăng thuế điền trên toàn quốc lên 30%. Kinh phí lớn nhất là mua vật liệu từ nước ngoài. Sắt, xi măng, ngói ác - đoa phải mua từ Pháp. Sành ngang chở từ Hà Đồng vào, nhưng sành kiểu, sứ tốt, vỏ chai, thủy tinh phải nhập từ Trung Quốc, Nhật Bản.

Dưới thời Khải Định (1916 - 1925), chủ quyền Việt Nam đã lọt hẳn vào tay thực dân Pháp, văn hóa phương Tây đang thâm nhập mạnh vào Việt Nam, nên lăng Khải Định mang nhiều yếu tố kiến trúc phương Tây. Thoạt nhìn, lăng Khải Định giống như một lâu đài ở châu Âu bởi những vật liệu hiện đại đã lấn át những vật liệu truyền thống. Và các yếu tố kiến trúc đã không còn giữ lại được tính đặc trưng của kiến trúc dân tộc nói chung, kiến trúc Nguyễn nói riêng. Hình khối bê tông nặng nề của tổng thể lăng, của các con rồng to lớn, cứng đã làm cho lăng Khải Định khác hắn các lăng vua Nguyễn trước đó.

Tuy nhiên, tất cả núi đồi, khe suối của một vùng rộng lớn chung quanh lăng đều được dùng làm các yếu tố phong thủy địa lý: tiền án, hậu chẩm, hổ phục, rồng chầu, minh đường, thủy tụ, tạo ra cho lăng Khải Định một ngoại cảnh thiên nhiên hùng vĩ, tráng lệ.
Giá trị nghệ thuật kiến trúc đặc trưng nhất ở lăng Khải Định là cung Thiên Định - công trình chính của lăng. Về hội họa: các nghệ nhân xưa đã sử dụng màu xanh sẫm vẽ lên xi măng giả cẩm thạch ở các tường và trần trực phòng. Những bức họa long vân với diện tích hàng chục mét vuông trên trần 3 phòng giữ cung Thiên Định được coi là những bức họa hoành tráng có giá trị nghệ thuật đặc biệt của nền hội họa Việt Nam.

Về nghệ thuật ghép mảnh lên tường, những nghệ nhân đầu thế kỷ XX đã dùng hàng vạn mẫu sành, sứ, thủy tinh đủ màu để đắp nổi thành hàng ngàn hình ảnh cung đình và dân gian sinh động, vui mắt; các bộ tranh tứ thời, ngũ phúc, bát bửu, bộ khay trà, mâm ngũ quả, ngọn đèn dầu hỏa, những chiếc đồng hồ, mấy cái mề đay,... tất cả đều được tạo nên bằng những chất liệu cứng, nhưng dưới bàn tay điêu luyện của các nghệ nhân, chúng đều trở nên mềm mại, lóng lánh, thanh nhã, biểu cảm. Việc tạo hình và tạo dáng chiếc bửu tán che trên ngự tọa cho người xem cảm nhận sự nhẹ nhàng, thanh thoát không nặng nề. Nhiều hình họa trang trí ở pa nô, các chữ “phúc”, chữ “thọ” cách điệu là sự thông minh, sáng tạo và kiên trì của những nghệ nhân xưa tham gia kiến trúc phần mỹ thuật ở lăng Khải Định. Người thợ thủ công tài bà Việt Nam đã thổi một luồng sinh khí mới vào nền mỹ thuật Việt Nam thời Nguyễn với nghệ thuật làm phù điêu bằng sành sứ tinh xảo, độc đáo và hấp dẫn.

Tượng đồng, bia đá, cung Thiên Định nằm trong tổng thể lăng Khải Định là một công trình xây dựng mang hai dòng kiến trúc Á - Âu tuyệt vời giữa cảnh quan thiên nhiên đặc sắc tuyệt mỹ đã làm cho lăng Khải Định trở thành một công trình kiến trúc độc đáo của đất nước Việt Nam nói chung, của các lăng tẩm vua triều Nguyễn nói riêng.

- Quyết định của Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin về việc công nhận di tích số 54QĐ/VHTT ngày 29-4-1979

(Theo tư liệu từ Thư viện Tổng hợp tỉnh Thừa Thiên Huế)

Con Nít*
20-10-2010, 03:32 PM
Cầu Ngói Thanh Toàn


http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/2/25/C%E1%BA%A7u_ng%C3%B3i_Thanh_To%C3%A0n1.jpg (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/2/25/C%E1%BA%A7u_ng%C3%B3i_Thanh_To%C3%A0n1.jpg)

Vị trí: Cầu ngói Thanh Toàn bắc qua một con mương chảy từ đầu làng đến cuối làng Thanh Toàn, thuộc xã Thuỷ Thanh, huyện Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên - Huế, cách trung tâm Tp. Huế chừng 8km theo đường bộ về phía đông.
Đặc điểm: Cầu ngói Thanh Toàn vào loại hiếm và có giá trị nghệ thuật cao nhất trong các loại cầu cổ ở Việt Nam. Cầu ngói Thanh Toàn là một di tích kiến trúc cổ, rất có giá trị về mặt lịch sử, văn hoá và còn là một thắng cảnh.

http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/c/c5/C%E1%BA%A7u_ng%C3%B3i_Thanh_To%C3%A0n2.jpg (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/c/c5/C%E1%BA%A7u_ng%C3%B3i_Thanh_To%C3%A0n2.jpg)

Làng Thanh Toàn được thành lập vào thế kỷ 16. Những di dân từ đất Thanh Hoá theo chúa Nguyễn Hoàng vào Thuận Hoá, có 12 vị tộc trưởng đã dừng chân lập nghiệp ở đây, tạo nên 12 họ khai canh của làng.
Một người cháu gái thuộc thế hệ thứ sáu của họ Trần là bà Trần Thị Ðạo đã cúng tiền cho làng xây dựng chiếc cầu gỗ để dân làng qua lại được thuận tiện. Ðây cũng là nơi cho lữ khách cùng người tha phương tạm dừng chân lỡ bước. Bà Trần Thị Ðạo là vợ một vị quan cao cấp dưới triều vua Lê Hiển Tông nhưng không có con. Bà muốn dùng tiền của mình để làm phúc cho dân làng, cho xứ. Bà được dân làng tôn sùng, thờ phụng. Năm 1776, vua Lê Hiển Tông đã ban sắc khen ngợi bà Trần Thị Ðạo. Năm 1925, vua Khải Ðịnh cũng ban sắc phong thần cho bà là Dực Bảo Trung Hưng Linh Phò và lệnh cho dân lập bàn thờ ngay trên cầu để thờ cúng bà.
Cầu ngói Thanh Toàn là chiếc cầu vồng bằng gỗ, có chiều dài 17m và chiều rộng 4m, hai bên thân cầu có hai dãy bục gỗ và lan can để ngồi tựa lưng. Trên cầu có mái che, lợp ngói ống tráng men chia làm 7 gian.
Chiếc cầu được xây dựng cách đây hơn hai thế kỷ, đã bao lần bị gió bão, lụt lội và chiến tranh tàn phá. Tuy nhiên, sau các lần hư hỏng, nhân dân xã đều chung nhau tu sửa, tôn tạo và gìn giữ nó.
Với tinh thần "uống nước nhớ nguồn" và tôn trọng di sản văn hoá, nhiều thế hệ dân làng Thanh Toàn đã gìn giữ một công trình kiến trúc độc đáo của Huế. Tháng 9/1991, cầu được trùng tu lớn theo qui mô cũ và chính thức được Bộ Văn hoá Thông tin cấp bằng công nhận Di tích quốc gia, trở thành danh thắng quý hiếm của cả nước.

Con Nít*
21-10-2010, 08:57 AM
Cung An Định

http://www.khamphahue.com.vn/upload/dvdulich/diemtq/lt/cuacungandinh.jpg (http://www.khamphahue.com.vn/upload/dvdulich/diemtq/lt/cuacungandinh.jpg)
Cung Môn, Cung An Định

An Định là cung điện riêng của vua Khải Định, tọa lạc bên bờ sông An Cựu, xưa thuộc phường Đệ Bát - Thị xã Huế, nay mang số 97 đường Phan Đình Phùng, Thành phố Huế. Nguyên tại vị trí này từ năm Thành Thái 14 (1902), Phụng Hóa Công Nguyễn Phúc Bửu Đảo (tức vua Khải Định về sau) đã lập phủ, đặt tên là phủ An Định.

Năm Khải Định 2 (1917), vua mới dùng tiền riêng cải tạo lại thành cung theo lối kiến trúc hiện đại. Đầu năm 1919, công việc xây dựng hoàn tất, cung vẫn giữ nguyên tên gọi. Từ ngày 28/2/1922, cung An Định trở thành tiềm để của Đông Cung Thái tử Vĩnh Thụy (vua Bảo Đại về sau). Sau Cách mạng tháng Tám 1945, gia đình cựu hoàng Bảo Đại đã chuyển từ Hoàng cung qua sống tại cung An Định. Sau năm 1954, chính quyền Ngô Đình Diệm đã tịch thu cung An Định. Sau năm 1975, bà Từ Cung đã hiến cung An Định cho chính quyền cách mạng. Đến nay di tích cung An Định đang được phục hồi trùng tu.

http://www.khamphahue.com.vn/Upload/DVDULICH/DIEMTQ/cungandinh1.jpgCung An Định quay mặt về hướng nam, phía sông An Cựu. Cung có địa thế bằng phẳng, tổng diện tích mặt bằng 23.463m2, chung quanh có khuôn viên tường gạch, dày 0,5m, cao 1,8m trên có hàng rào song sắt bao bọc. Khi còn nguyên vẹn cung có khoảng 10 công trình. Từ trước ra sau là: Bến thuyền, Cổng chính, đình Trung Lập, lầu Khải Tường, nhà hát Cửu Tư Đài, chuồng thú, Hồ nước... trải qua thời gian và sự tàn phá của chiến tranh, đến nay cung chỉ còn lại 3 công trình khá nguyên vẹn là Cổng chính, đình Trung Lập và lầu Khải Tường. Cổng chính làm theo lối tam quan, hai tầng, trang trí bằng sành sứ đắp nổi rất công phu. Đình Trung Lập, nằm phía trong cửa, kết cấu kiểu đình bát giác, nền cao. Trong đình nguyên có đặt bức tượng đồng vua Khải Định, tỷ lệ bằng người thật, đúc từ năm 1920.

http://www.khamphahue.com.vn/Upload/DVDULICH/DIEMTQ/noithatcad.jpgLầu Khải Tường nằm phía sau đình Trung Lập, là công trình kiến trúc chính của cung An Định. Chữ Khải Tường (nghĩa là nơi khởi phát điềm lành), tên lầu là do vua Khải Định đặt. Lầu 3 tầng, xây dựng bằng các vật liệu mới theo kiểu lâu đài châu Âu, chiếm diện tích tới 745m2. Lầu được trang trí rất công phu, đặc biệt là phần nội thất của tầng 1 với các bức tranh tường có giá trị nghệ thuật cao.

Cùng với các công trình kiến trúc khác thời Khải Định như lăng Khải Định, lầu Kiến Trung, cửa Hiển Nhơn... cung An Định được xem là một đại diện tiêu biểu của phong cách kiến trúc Việt Nam trong giai đoạn tân - cổ điển (Néo - Classique).


Theo Trung tâm Bảo Tồn Di Tích Cố Đô Huế

Con Nít*
22-10-2010, 07:48 AM
Lăng Minh Mạng (Hiếu Lăng)

http://www.khamphahue.com.vn/upload/dvdulich/diemtq/lt/langminhmang1.jpg (http://www.khamphahue.com.vn/upload/dvdulich/diemtq/lt/langminhmang1.jpg)
Lăng Minh Mạng

Lăng Minh Mạng là một di tích trong quần thể di tích cố đô Huế được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới ngày 11-12-1993. Nằm ở xã Hương Thọ, huyện Hương Trà, Thừa Thiên Huế.

Vị trí: Lăng Minh Mạng thuộc địa phận núi Cẩm Kê, xã Hương Thọ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế, gần ngã ba Bằng Lãng, nơi hợp lưu nguồn Tả Trạch và Hữu Trạch tạo thành sông Hương chảy qua Tp. Huế. Lăng cách Tp. Huế 12km.

Đặc điểm: Lăng Minh Mạng là một tổng thể kiến trúc quy mô gồm khoảng 40 công trình lớn nhỏ. Lăng Minh Mạng toát lên vẻ đường bệ, uy nghiêm nhưng rất hài hòa giữa các công trình kiến trúc và thiên nhiên.

Từ năm Minh Mạng thứ 7 (1826), nhà vua đã sai tìm đất xây lăng, nhưng đến 14 năm sau mới chọn được địa điểm và đồ án thiết kế kiến trúc. Quan Lê Văn Đức là người tìm ra địa cuộc tốt lành đó và đã được nhà vua thăng cho hai cấp.

Tháng 4 - 1840, vua lên xem lại chỗ đất và đổi tên vùng núi Cẩm Kê ở đó thành ra Hiếu Sơn. Vua sai các đại thần Trương Đăng Quế, Bùi Công Huyên đem Giám Thành Vệ (xem như một đơn vị công binh) lên tiến hành khảo sát địa thế, đo đạc đất đai. Họ vẽ toàn bộ núi đồi, khe suối, sông ngòi ở đây, và sơ đồ các dự án kiến trúc từ la thành, Bửu thành, điện, lầu đình, tạ, đường, viện cho đến những nơi đào hồ, làm cầu, dựng cửa... Xem xong, nhà vua rất đắc ý, liền thưởng tiền và vải cho họ.

Đến tháng 9 - 1840, triều đình huy động 3.000 lính và thợ lên điều chỉnh mặt bằng và xây vòng La thành chung quanh khu vực kiến trúc. Hai Đổng lý đại thần Trương Đăng Quế và Hà Duy Phiên thay nhau lên giám sát công trường.

Đầu năm sau 20-1-1841, nhà vua thăng hà giữa lúc mới 50 tuổi.

Một tháng sau (20-2-1841), vua Thiệu Trị cho các đại thần Tạ Quang Cự, Hà Duy Phiên, Nguyễn Hữu Lễ, Nguyễn Tri Phương và Tôn Thất Đường đứng ra lo liệu việc tiếp tục xây lăng. Triều đình điều gần 1 vạn lính và thợ ở Bộ Binh và Bộ Công lên làm việc: 7 viên quản vệ, 140 viên suất đội, 7000 biền binh, hơn 2000 lai dịch và thợ. Riêng binh sĩ cứ hai tháng 1 lần thay phiên nhau về nghỉ. Vua ra lệnh cho Trương Đăng Quế thường xuyên lên kiểm tra đôn đốc để công việc xây lăng được chu đáo.

Quan tài của vua Minh Mạng được đưa vào chôn ở Bửu thành bằng đường toại đạo ngày 20-8-1841, và tấm bia “Thánh đức thần công” dựng ngày 25-1-1842, nhưng công việc xây lăng mãi đến năm sau 1943 mới hoàn tất theo đồ án của vua Minh Mạng để lại.

Lăng Minh Mạng là một tổng thể kiến trúc quy mô gồm 40 công trình lớn nhỏ, nằm trên một khu đồi núi, sông hồ thoáng mát. Toàn bộ lăng giống như một cơ thể con người nằm gối đầu lên một ngọn đồi cao trong vùng, tứ chi duỗi ra ngã ba sông gần đó.

Khu lăng có chiều sâu, từ Đại Hồng Môn đến điểm tận cùng của La thành cách nhau đến 700 mét. Vòng La thành tuy cao nhưng không hạn chế được tầm nhìn từ trong lăng ra đến vùng núi non đẹp đẽ ở bên ngoài, cảnh vật in bóng xuống hồ Trừng Minh trông như bức tranh thủy mặc.

Bên trong La thành, các công trình kiến trúc được bố trí đăng đối, đối xứng nhau từng cặp qua trục chính xuyên tâm lăng. Tất cả được xếp đặt theo một trật tự chặt chẽ, có hệ thống, nói lên cá tính và phong cách của chính vua Minh Mạng. Bửu thành xây theo hình tròn biểu thị vua là mặt trời, là đấng chí tôn có quyền lực chi phối toàn bộ xã hội quân chủ. Ở phần trước lăng, mật độ kiến trúc thưa, thoáng, cành vào sâu, kiến trúc càng dày. Các nhà kiến trúc đương thời đã đưa ba khu kiến trúc ở lăng Gia Long nằm theo chiều ngang nhập làm một, cho nằm theo chiều dọc trong một trục duy nhất ở lăng Minh Mạng. Họ cùng lợi dụng thế đất và các ngọn đồi để nâng dần chiều cao của các công trình kiến trúc.

Ngoài tính cách đăng đối uy nghiêm đường bệ, lăng Minh Mạng còn có những nét quyến rũ của thiên nhiên đã được chỉnh trang lại để làm bối cảnh cho các công trình kiến trúc.

Các kiến trúc sư bậc thầy ngày nay, cũng phải khâm phục trước nghệ thuật tạo hình tuyệt diệu của lăng Minh Mạng.

- Quyết định của Bộ Trưởng Bộ Văn Hóa Thông Tin về việc công nhận di tích số 54-QĐ/VHTT ngày 29-4-1979


(theo tư liệu từ Thư viện Tổng hợp tỉnh Thừa Thiên Huế)


Một số hình ảnh về lăng Minh Mạng :

http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/5/54/Minh_M%E1%BA%A1ng_mausoleum.jpg (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/5/54/Minh_M%E1%BA%A1ng_mausoleum.jpg)
Minh Lâu - Hiếu Lăng


http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/9/9d/Minh_M%E1%BA%A1ng_mausoleum%2C_back.jpg (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/9/9d/Minh_M%E1%BA%A1ng_mausoleum%2C_back.jpg)

http://i14.photobucket.com/albums/a347/kuiensan/11Hue_LangMinhMang_Statues.jpg (http://i14.photobucket.com/albums/a347/kuiensan/11Hue_LangMinhMang_Statues.jpg)

http://files.myopera.com/Hoang%20Ngoc%20Hung/blog/111.jpg (http://files.myopera.com/Hoang%20Ngoc%20Hung/blog/111.jpg)

Con Nít*
22-10-2010, 03:58 PM
Lăng Cơ Chánh

http://www.khamphahue.com.vn/upload/dvdulich/diemtq/lt/langcothanh-netcodo.jpg (http://www.khamphahue.com.vn/upload/dvdulich/diemtq/lt/langcothanh-netcodo.jpg)
Lăng Cơ Chánh

Làng Cư Chánh, xã Thủy Bằng, huyện Hương Thủy, Thừa Thiên Huế là địa chỉ của lăng Cơ Thánh.L ăng Cơ Thánh là di tích lăng mộ của ông Nguyễn Phúc Côn (1733-1765), thân sinh vua Gia Long.

Tục thường gọi là lăng Cao Hoàng, Lăng Sọ. Lăng mộ Nguyễn Phúc Côn được xây dựng từ năm 1765, mặt sau dựa vào núi, mặt trước nhìn ra sông. Năm Canh Tuất (1790) quân Tây Sơn quật hài cốt ngài đổ xuống sông. Một ngư dân tên Nguyễn Ngọc Huyên và con lặn hài cốt đem lên chôn chỗ khác. Đến đời vua Gia Long, do Nguyễn Ngọc Huyên chỉ chỗ, hài cốt được đưa về táng chỗ cũ, đầu đời Gia Long được làm lại. Năm Gia Long thứ 5 (1806) lăng được nâng cấp về quy mô và có tên gọi chính thức là Lăng Cơ Thánh. Vị trí tọa lạc của lăng thuộc làng Cư Chánh, xã Thủy Bằng, huyện Hương Thủy. Kiểu thức xây dựng lăng Cơ Thánh có nhiều điểm tương tự lăng các chúa Nguyễn, tuy nhiên lăng có quy mô lớn hơn và không có vòng la thành bao bọc bên ngoài. Lăng Cơ Thánh toạ lạc ở khu đất bằng phẳng rộng 2000m2, bình phong cao 2,50m, dày 0,47m. Mộ Nguyễn Phúc Luân xây đơn giản gồm 4 tầng.

Năm Minh Mệnh thứ 2, phong tên núi là An Nghiệp sơn và thờ phụ ở đàn Nam Giao.

- Quyết định của Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin về việc công nhận di tích số 874QĐ/BVHTT ngày 12-5-1997.

Con Nít*
23-10-2010, 09:35 AM
Lăng Dục Đức (An Lăng)

http://www.khamphahue.com.vn/upload/dvdulich/diemtq/lt/langvuaducduc-netcodo.jpg (http://www.khamphahue.com.vn/upload/dvdulich/diemtq/lt/langvuaducduc-netcodo.jpg)
Lăng Dục Đức

Lăng Dục Đức là một di tích trong quần thể di tích cố đô Huế được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới ngày 11-12-1993. Lăng được đặt tại Phường An Cựu, thành phố Huế.

Lịch sử xây dựng lăng Dục Đức cũng phức tạp theo những biến động trong nội bộ triều đình và hoàng gia nhà Nguyễn, kể từ khi vua Tự Đức thăng hà vào ngày 19-7-1883. Vì vua Tự Đức không có con để nối ngôi, cho nên ngai vàng của triều đình Nguyễn trở nên đẫm máu do sự thao túng để nắm giữ quyền hành giữa một bên là các Phụ Chính Đại thân Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường, và một bên là Tòa Khâm sứ Pháp. Cái ngai vàng ấy đã được ba đời vua là Dục Đức, Hiệp Hòa và Kiến Phúc thừa kế liên tục chỉ trong vòng 4 tháng, sử gọi là “Tứ nguyệt tam vương”, rồi tiếp tục được chuyển cho 4 đời vua nữa trong vòng thời gian ngắn là Hàm Nghi, Đồng Khánh, Thành Thái và Duy Tân.

Vua Dục Đức tên thật là Nguyễn Phúc Ưng Chân, sinh năm 1852, khi lên 2 tuổi, được vua Tự Đức chọn làm con nuôi và làm Dục Đức Đường trong kinh thành cho ở. Vị hoàng trưởng tử này lấy con gái của đại thần Phan Đình Bình; đến năm 1879, sinh ra Bửu Lân tức vua Thành Thái sau này. Khi vua Tự Đức qua đời, vị hoàng trưởng tử 32 tuổi lên nối ngôi, nhưng chỉ sau ba ngày thì bị phế (23-7-1883) và bị quản thúc tại Thái Y Viện, cuối cùng chết đói ở nhà ngục Thừa Thiên sau 7 ngày không cho ăn uống (6-10-1883); để lại 8 bà vợ, 11 người con trai và 8 người con gái. Mộ chôn tạm tại khe cồn Phước Quả, gần chùa Tường Quang. Mấy hôm sau triều đình mới cho người vợ chính là bà Từ Minh được phép lên thăm mộ và làm lễ chịu tang ở chùa Tường Quang.

Sau nhiều biến cố khó dự đoán, trong điều kiện cụ thể của bối cảnh lịch sử bấy giờ, người con trai của vua Dục Đức là Nguyễn Phúc Bửu Lân được đưa lên ngôi vua vào năm 1889, với niên hiệu Thành Thái. Sau khi lên ngôi, Thành Thái liền cho xây lăng mộ của cha đàng hoàng và đặt tên là An Lăng. Nơi thờ thì có chùa Tường Quang cách 200 mét. Năm 1891, triều đình vua Thành Thái cho xây dựng một ngôi miếu ở phường Thuận Cát, gần bên phải Hoàng thành để thờ vua Dục Đức, đặt tên là Tân Miếu (Năm 1897, đổi tên là Cung Tôn Miếu). Năm 1892, bà Từ Minh Hoàng Thái Hậu - mẹ vua Thành Thái xuất tiền đúc tượng Phật và mở rộng nhà tăng của ngôi chùa Tường Quang, năm sau vua Thành Thái cho đổi tên thành chùa Kim Quang và ban cho chùa tấm hoành phi đề 5 chữ “Sắc Tứ Kim Quang Tự”.

Đến tháng 7 năm Thành Thái thứ 11 (8-1899), nhà vua cho xây dựng điện Long Ân gần khu vực lăng mộ vua Dục Đức để thờ cha. Trong khuôn viên này có xây dựng thêm một số nhà của phụ thuộc như Tả, Hữu phối đường, Tả Hữu tòng viện dành cho 7 bà vợ thứ của vua Dục Đức ăn ở để lo hương khói phụng thờ. Năm 1906, bà Từ Minh tạ thế, triều đình cho quy hoạch lại khu vực lăng mộ vua Dục Đức, làm thành một khu lăng kép, xây mộ bà gần mộ ông theo kiểu “song táng”, “càn khôn hiệp đức” như ở lăng Thế tổ Cao Hoàng Đế và Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu (lăng Gia Long). Cuối năm 1945, ngay sau khi vua Duy Tân tử nạn máy bay ở châu Phi, một cuộc lễ truy điệu nhà vua được tổ chức tại điện Long Ân và thờ chung vua tại đây. Năm 1954, khi vua Thành Thái mất, thi hài được đưa về chôn tại địa điểm hiện nay trong khu vực An Lăng và được thờ ở ngôi điện Long Ân. Năm 1987, hài cốt vua Duy Tân được đưa về an táng cạnh lăng Thành Thái. Gần hai bên lăng vua Thành Thái và Duy Tân còn có lăng mộ của ba bà vợ vua Thành Thái. Và năm 1994, hài cốt bà Mai Thị Vàng (mất năm 1980), vợ vua Duy Tân được đưa vể chôn gần lăng mộ của vị vua yêu nước - Duy Tân.

Ngoài ra, trong khu vực lăng Dục Đức hiện nay còn có 39 lăng mộ các ông hoàng bà chúa và 121 ngôi mộ đất thuộc Đệ tứ Chánh hệ.

Theo địa bộ cũ, lăng Dục Đức chiếm một vùng đất rộng 56.144 m2, trong đó có khoảng 20 công trình kiến trúc lớn nhỏ; chia ra làm hai khu vực: lăng và tẩm, nằm cách xa nhau khoảng hơn 50 mét. Cả hai khu vực kiến trúc đều xây thành bao bọc chung quanh. Lăng quay mặt về hướng tây bắc, dùng một ngọn đồi thấp, thường gọi là cồn Phước Quả làm tiền án; lấy dòng khe chảy ngang trước mặt làm yếu tố "minh đường" và dùng ngọn núi Tam Thai ở đằng sau làm "hậu chẩm".

Đi vào khu lăng mộ - diện tích 3.445m2 bằng một cửa tam quan khá lớn xây bằng gạch, trên làm mái giả. Sau cửa là Bái đình, không có tượng đá như các lăng khác, mà chỉ xây lan can bằng vôi gạch để trang trí. Trung tâm của lăng mộ nằm ngay sau cửa tam quan thứ hai, có ngôi nhà Huỳnh Ốc được xây dựng trên một nền hình vuông mỗi cạch 8 mét. Nhà xây như một phương đình với dạng cổ lầu, mái lợp ngói hoàng lưu ly. Bờ nóc bờ quyết chắp hình rồng và phụng, nội thất trang hoàng đơn giản.

Các công trình kiến trúc nằm trong khu tẩm điện với diện tích mặt bằng 6.245m2. Công trình chính là điện Long Ân là một tòa nhà kép làm theo kiểu cung điện Huế, với 6 bộ vì kèo nóc ở 5 gian nhà trước được kết cấu theo lối “chồng rường giả thủ”, trang trí mặt hổ phù rất tinh xảo. Đây là một công trình kiến trúc gỗ có giá trị nghệ thuật trong hệ thống công trình kiến trúc cung đình triều Nguyễn ở Huế.

- Quyết định của Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin về việc công nhận di tích số 2890/ QĐVH ngày 27-9-1997

(Theo tư liệu từ Thư viện Tổng hợp tỉnh Thừa Thiên Huế)

Con Nít*
24-10-2010, 11:11 AM
Lăng Gia Long (Thiên Thọ Lăng)

http://www.khamphahue.com.vn/upload/dvdulich/diemtq/lt/langgialong.jpg (http://www.khamphahue.com.vn/upload/dvdulich/diemtq/lt/langgialong.jpg)
Lăng Gia Long

Lăng Gia Long là một di tích trong quần thể di tích cố đô Huế được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới ngày 11-12-1993. Lăng được đặt tại xã Hương Thọ, huyện Hương Trà, Thừa Thiên Huế.

Lịch sử xây dựng lăng Gia long rất phức tạp, vì ở đây không phải chỉ có lăng Gia Long, mà lại có cả một quần thể lăng tẩm của nhiều thành viên trong gia đình và dòng họ của nhà vua... Quần thể lăng tẩm ấy nằm rải rác trên địa bàn rộng lớn thuộc làng Định Môn. Tất cả được xây dựng vào nhiều thời điểm khác nhau và trước sau cách nhau gần hai thế kỷ (thế kỷ XVII - XIX).

Riêng Thiên Thọ Lăng, tức lăng vua Gia Long và Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu, việc xây dựng cũng không diễn ra trong một thời điểm đơn giản, mà lại kéo dài nhiều năm dưới 3 đời vua từ Gia Long đến Thiệu Trị.

Vào năm 1814, sau khi người vợ chính của vua Gia Long là Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu mất, nhà vua bàn với đình thần về việc làm một cái “hiệp lăng” để “song táng” bà và ông về sau vào một chỗ theo cái lệ xưa “càn khôn hiệp đức”. Lê Duy Thành (con trai của Lê Quý Đôn) phụ trách công việc coi đất. Tống Phúc Lương, Phạm Như Đăng được giao nhiệm vụ điều khiển xây dựng lăng.

Công tác xây dựng bắt đầu từ ngày 11-5-1814 với 547 người lính lấy trong 3 đơn vị quân đội tại kinh đô Huế. Sau đó, triều đình mới huy động nhiều thợ giỏi ở các địa phương về làm. Sau khi tìm được cuộc đất tốt và trong khi thi công, nhà vua thường đến giám sát việc làm tại chỗ. Vua đã phong cho vùng núi đó là Thiên Thọ Sơn, gồm 42 ngọn núi đồi cao thấp được đặt 42 tên riêng.

Điện Minh Thành nói riêng và khu vực tẩm nói chung được xây dựng năm 1915. Công tác xây dựng lăng tẩm kéo dài trong 6 năm, từ năm 1814 đến năm 1820. Ngoài ra, còn có một số bộ phận kiến trúc được thực hiện sau đó nữa.

Tấm bia “Thánh đức thần công”, ở bên trái do vua Minh mạng viết xong ngày 10-8-1820 và dựng ngày 18-9-1820. Hai hàng văn võ quan viên và voi ngựa bằng đá ở bái đình mãi đến tháng 4-1833 mới hoàn tất. Hai cánh cửa ở “Bửu Thành môn” lúc đầu làm bằng gỗ. Đến đời Thiệu Trị, ông vua này bảo Bộ Công làm hai cánh cửa bằng đồng để thay thế (1845).

Điện Minh Thành mặc dù đã được tu sửa lớn vào năm 1922 thời vua Khải Định và trùng tu nhiều lần sau đó, nhưng thời gian và nhất là chiến tranh đã làm cho nó lâm vào tình trang có nguy cơ sụp đổ hoàn toàn. Hiện nay, ngôi điện vừa được tu sửa lại.

Lăng Gia Long ở vị trí xa nhất, so với các lăng vua Nguyễn ở Huế, nhưng lại là lăng có quy mô hoành tráng nhất về cảnh trí thiên nhiên. Lăng Gia Long hoành tráng, nhưng đơn giản như cuộc đời của một võ tướng. Mật độ kiến trúc tương đối thưa. Các công trình được trải ra theo chiều ngang. Rộng rãi mênh mông, nhưng ở đây không có lầu đài đình tạ và cũng không xây dựng la thành. Núi đồi chung quanh giăng ra như một vòng thành thiên nhiên bao bọc. Đơn giản nhất trong khu mộ táng thi hài vua và hoàng hậu. Hai nấm mộ bằng đá nằm song song, cách nhau chỉ một gang tay, có cùng khuôn khổ và kích thước, bên trên đều có hai mái chảy xuôi trông như những mái nhà mà thời gian đã nhuộm đen thành màu than đá. Không một nét chạm trổ, sơn son thếp vàng, tất cả chỉ là những tấm đá thanh phẳng lỳ, trơ trụi, tạo ra giữa chốn hoàn liêu này một không khí tĩnh mịch và uy nghiêm. Hai ngôi mộ nằm sát bên nhau biểu hiện tình cảm thủy chung cao đẹp giữa vua và hoàng hậu đã từng vào sinh ra tử với nhau trong suốt cuộc đời chinh chiến. Đó là điểm độc đáo của lăng Gia Long mà không tìm thấy ở lăng vua Nguyễn nào khác.

Điện Minh Thành, công trình kiến trúc chính trong khu vực tẩm, nơi thờ vua và hoàng hậu, cũng không hoa mỹ, rườm rà. Sườn điện chạm trổ đơn sơ nhưng chắc khỏe. Các Pa - nô trang trí trong nội thất đều chạm trổ hình chữ “thọ” ở giữa và dây lá cách điệu ở chung quanh. Có một đặc điểm đáng chú ý là tất cả những con rồng ở các tầng sân, bậc thềm ở lăng Gia Long đều được đắp bằng vôi gạch chứ không chạm bằng đá như ở các lăng khác về sau.

Tấm bia “thánh đức thần công” ở lăng Gia Long tuy không lớn, nhưng là một tấm bia đẹp, được trang trí công phu, tỷ mỷ.

Các công trình kiến trúc thành quách, cung điện thời Gia Long thể hiện bản chất của một ông vua có tài về chinh chiến và tổ chức đất nước. Đây là mô thức lăng tẩm đầu tiên ở Huế, để sau đó các vua kế nhiệm tham khảo và phỏng theo để xây lăng của mình. Lăng Gia Long góp phần thể hiện phong cách của một ông vua khai sáng triều đại.

- Quyết định của Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin về việc công nhận di tích số 2890/ QĐVH ngày 27-9-1997.

Nguoi_Soi_Duoi_Trang
24-10-2010, 12:31 PM
sac
nhiu quá
đọc ko hết

Con Nít*
24-10-2010, 04:13 PM
Lăng Thiệu Trị (Xương Lăng)

http://www.khamphahue.com.vn/upload/dvdulich/diemtq/lt/langthieutri1-netcodo.jpg (http://www.khamphahue.com.vn/upload/dvdulich/diemtq/lt/langthieutri1-netcodo.jpg)
Lăng Triệu Trị

Nằm tại thôn Cư Chánh, xã Thủy Bằng, huyện Hương Thủy, Thừa Thiên Huế, Lăng Thiệu Trị là một di tích trong quần thể di tích cố đô Huế được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới ngày 11-12-1993. Trầm mặc mà thanh thoát, lăng Thiệu Trị khiêm tốn ẩn mình giữa chốn núi đồi rộng lớn dưới bầu trời bao la.


Sau khi ở trên ngai vàng được 7 năm, vua Thiệu Trị lâm bệnh mất ngày 4-11-1847, giữa lúc mới 41 tuổi. Trong khi hấp hối, nhà vua đã dặn người con trai sắp lên nối ngôi rằng: “Chỗ đất làm Sơn lăng nên chọn chỗ bãi cao chân núi cận tiện, để dân binh dễ làm công việc. Còn đường ngầm đưa quan tài đến huyệt, bắt đầu từ Hiếu lăng, nên bắt chước mà làm. Còn điện vũ liệu lượng mà xây cho kiêm ước, không nên làm nhiều đền đài, lao phí đến tài lực của binh dân”.

Vị tiên đế ấy vừa thăng hà thì vua Tự Đức liền bảo các thầy địa lý trong triều đi coi đất để xây lăng. Họ tìm được địa cuộc tốt tại chân một dãy núi thấp thuộc làng Cư Chánh, huyện Hương Thủy, cách Kinh thành không xa như hai lăng vua tiền nhiệm. Sau đó núi ấy được đặt là núi Thuận Đạo, còn lăng được gọi là Xương Lăng.

Vào ngày 11 - 2 - 1948, vua Tự Đức sai đại thần Vũ Văn Giai, sung chức Đổng lý, đứng ra trông coi công việc xây dựng lăng. Nhà vua dặn cứ 10 ngày một lần phải báo cáo cho vua biết tiến độ xây dựng lăng.

Theo lời dặn của vua cha, vua Tự Đức căn dặn Vũ Văn Giai phải bắt chước cách làm “toại đạo” giống như trên lăng Minh Mạng, công việc xây dựng các công trình mang tính thờ phụng ở lăng như điện, đình, các, viện... thì phải bắt chước theo quy chế của lăng Gia Long, và tùy theo địa thế tại chỗ để châm chước định liệu mà làm. Toại đạo, tức là đường hầm đưa quan tài nhà vua vào huyệt mộ, được xây vào ngày 24-3-1848.

Số binh lính và thợ thuyền do triều đình huy động lên đây làm việc rất đông, cho nên, chỉ sau 3 tháng thi công, các công trình kiến trúc chính trong lăng đã làm xong. Trong một bài dụ của vua Tự Đức viết vào tháng 5-1848, có đoạn nói: “Nay mọi việc đã đâu vào đấy, sớm báo cáo hoàn thành”. Ngày 14-6-1848, tức là 10 ngày trước khi làm lễ an táng vua cha, vua Tự Đức thân hành lên lăng để kiểm tra công việc một lần cuối. Mặc dù vua Thiệu Trị đã căn dặn là phải làm lăng như thế nào cho “kiệm ước”, không nên quá tốn kém tiền của và sức dân, sức binh. Và trong bài văn bia ở Xương Lăng, vua Tự Đức đã nhắc lại điều đó và nói thêm rằng: “ Lời vàng ngọc văng vẳng bên tai, con nhỏ này đâu dám trái chí”; nhưng hôm ấy khi lên xem công trình lăng, thấy “công trình có phần phiền phức to lớn”, nhà vua vẫn tỏ ra thỏa mãn.

Sau khi vua Thiệu Trị thăng hà, quan tài nhà vua được quàn tại điện Long An trong cung Bảo Định ở bờ bắc Ngự Hà, mãi đến gần 8 tháng sau mới đưa lên an táng ở lăng.

Riêng tấm bia “Thánh đức thần công” với bài bi ký dài hơn 2.500 chữ do vua Tự Đức viết, thì mãi đến 5 tháng sau, tức là ngày 19-11-1848 mới dựng được.

Như vậy, tính từ ngày bắt đầu xây dựng (11-2-1848) đến ngày hoàn tất, lăng Thiệu Trị đã được thi công trong vòng chưa đầy 10 tháng.

Ngoài ra, ở gần lăng Thiệu Trị còn có 3 ngôi lăng mộ khác của những người trong gia đình vua. Nằm chếch phía trước là lăng Hiếu Đông của mẹ vua - bà Hồ Thị Hoa; gần phía sau bên trái là Xương Thọ Lăng của vợ vua - bà Từ Dũ; phía trước bên trái là khu lăng “Tảo thương” là những ngôi mộ của con vua Thiệu Trị chết lúc còn nhỏ.

Vua Tự Đức đã cho xây dựng lăng vua Thiệu Trị theo mô thức kiến trúc và phần lớn ý đồ do vua cha để lại. Trước thời điểm khởi công xây dựng lăng này, ở Huế chỉ mới có hai lăng là lăng Gia Long và Minh Mạng. Khi còn sống vua Thiệu Trị đã tham khảo nghệ thuật kiến trúc lăng tẩm của hai vua tiền nhiệm để đưa ra đồ án xây dựng ngôi nhà vĩnh cửu, nơi mình sẽ an giấc ngàn thu.

So với hai lăng Gia Long và Minh Mạng, lăng vua Thiệu Trị gần Kinh thành hơn, là sự dung hòa hai mô thức kiến trúc của hai lăng vua tiền nhiệm bằng cách thiết kế thành hai trục: Trục lăng nằm bên phải và trục tẩm - khu vực điện thờ nằm bên trái. Hai trục cách nhau khoảng 100 mét. Nói cách khác, các nhà kiến trúc lăng Thiệu Trị đã cắt phần giữ của lăng Minh Mạng - điện thờ đặt riêng ra một bên và nối hai phần trước và sau của lăng ấy lại với nhau làm một. Dĩ nhiên, về các đơn vị công trình kiến trúc riêng lẻ thì có thêm bớt, đổi thay đôi chút, nhưng cách xây Bửu thành, Toại đạo, các cầu bằng đá, nghi môn, nghê đồng và các hồ bán nguyệt thì giống lăng Minh Mạng.

Lăng Thiệu Trị khác lăng Minh Mạng là không xây La thành, nhưng giống lăng Gia Long là lợi dụng những dãy núi đồi chung quanh để làm nên một vòng La thành thiên nhiên rộng lớn. Trong vòng La thành hùng vĩ đó, lăng Thiệu Trị dựa lưng vào chân núi Thuận Đạo, gần trước mặt lăng là một vùng đất bằng phẳng cỏ cây xanh tươi, ruộng đồng mơn mởn trải dài từ bờ sông Hương đến tận cầu Lim. Xét về phong thủy, lăng Thiệu Trị ở vào vị thế “sơn chỉ thủy giao”. Lăng quay mặt về hướng tây bắc, một hướng chưa bao giờ được dùng trong các công trình kiến trúc lớn ở Huế bấy giờ. Phía trước, cách lăng khoảng 1 km có đồi Vọng Cảnh, bên trái có núi Ngọc Trản chầu về trước lăng theo vị thế “tả long hữu hổ”. Ngọn núi Chằm cách đó khoảng 8 km đứng làm “tiền án” cho khu vực lăng, động Bàu Hồ ở gần hơn làm bình phong thiên nhiên cho khu vực tẩm. Ở đằng sau, ngoài ngọn núi Kim Ngọc ở xa, người xưa đã đắp một mô đất cao lớn làm “hậu chẩm” cho lăng. Trong phạm vi lăng có ba hồ bán nguyệt là Hồ Điện, hồ Nhuận Trạch, và hồ Ngưng Thúy cùng dòng khe từ hồ Thủy Tiên chay ra bên phải, giao lưu với nhau bằng những đường cống xây ngầm dưới các lối đi.

Trầm mặc mà thanh thoát, lăng Thiệu Trị khiêm tốn ẩn mình giữa chốn núi đồi rộng lớn dưới bầu trời bao la.

- Quyết định của Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin về việc công nhận di tích số 2890/QĐVH ngày 27-9-1997.

(Theo tư liệu từ Thư viện Tổng hợp tỉnh Thừa Thiên Huế)

congocdacach
24-10-2010, 04:36 PM
trời ơi
sao mà lắm di tích thế này >_<"""

Con Nít*
25-10-2010, 11:05 AM
Lăng Tự Đức (Khiêm Lăng)

http://www.khamphahue.com.vn/upload/dvdulich/diemtq/lt/lang1.gif (http://www.khamphahue.com.vn/upload/dvdulich/diemtq/lt/lang1.gif)
Lăng Tự Đức (Khiêm Lăng)

Lăng Tự Ðức là một trong những công trình đẹp nhất của kiến trúc thời Nguyễn. Ông vua giỏi thi phú Tự Ðức đã chọn cho mình một nơi yên nghỉ xứng đáng với ngôi vị của mình, phù hợp với sở nguyện của con người có học vấn uyên thâm và lãng tử bậc nhất trong hàng các vua chúa nhà Nguyễn. Lăng tọa lạc trong một thung lũng hẹp thuộc thôn Thượng Ba, xã Thủy Xuân, thành phố Huế.

Làm vua trong bối cảnh xã hội khó khăn, bên ngoài giặc ngoại xâm tấn công, bên trong huynh đệ lục đục tranh giành ngôi báu, bản thân nhà vua lại ốm đau, bệnh hoạn nên không có con. Tự Ðức quả là một số phận của những bi kịch éo le. Ðể trốn tránh cuộc đời khắc nghiệt đó, Tự Ðức cho xây dựng khu lăng tẩm này như một hành cung thứ hai để tiêu sầu và phòng lúc ra đi bất chợt.

Khi mới khởi công xây dựng, vua Tự Ðức lấy tên Vạn Niên Cơ đặt tên cho công trình. Nhưng sau khởi nghĩa chày vôi do anh em Ðoàn Hữu Trưng khởi xướng, vua đổi tên thành Khiêm Cung, sau vua mất gọi là Khiêm Lăng.

Toàn cảnh lăng Tự Ðức như một công viên rộng lớn. Yếu tố được tôn trọng triệt để trong lăng Tự Ðức là sự hài hòa của đường nét. Gần 50 công trình trong lăng ở hai khu vực tẩm điện và lăng mộ đều có chữ Khiêm trong tên gọi.

Khiêm Cung Môn là khu vực dành cho vua nghỉ ngơi mỗi khi đến đây. Chính giữa là điện Hòa Khiêm để vua làm việc, nay là nơi thờ cúng bài vị của vua và hoàng hậu. Hai bên tả, hữu là Pháp Khiêm Vu và Lễ Khiêm Vu dành cho các quan văn võ theo hầu. Sau điện Hòa Khiêm là điện Lương Khiêm, xưa là chỗ nghỉ ngơi của vua, về sau được dùng để thờ vong linh bà Từ Dũ, mẹ vua Tự Ðức. Bên phải điện Lương Khiêm là Ôn Khiêm Ðường - nơi cất đồ ngự dụng. Ðặc biệt phía trái điện Lương Khiêm có nhà hát Minh Khiêm để nhà vua xem hát, được coi là một trong những nhà hát cổ nhất của Việt Nam hiện còn bảo lưu.

Ngay sau Bái Ðình với hai hàng tượng quan viên văn võ uy nghi là Bi Ðình với tấm bia bằng đá thanh, nặng 20 tấn có khắc bài Khiêm cung ký 4.935 chữ do nhà vua soạn thảo tự thuật về cuộc đời, vương nghiệp, cũng như những rủi ro, bệnh tật của mình.
Lăng Tự Ðức là một trong những công trình đẹp nhất của kiến trúc cung đình thời Nguyễn.

Theo Festival Hue



Một số hình ảnh về lăng Tự Đức :

http://www.tropicalisland.de/DAD%20Hue%20%20Royal%20Tombs%20-%20Tomb%20of%20Tu%20Duc2_b.jpg (http://www.tropicalisland.de/DAD%20Hue%20%20Royal%20Tombs%20-%20Tomb%20of%20Tu%20Duc2_b.jpg)

http://www.donatourist.com/images/ho%20ha%20khiem%20lang%20tu%20duc.jpg (http://www.donatourist.com/images/ho%20ha%20khiem%20lang%20tu%20duc.jpg)

http://img81.imageshack.us/img81/7758/p1020227qh2.jpg (http://img81.imageshack.us/img81/7758/p1020227qh2.jpg)

Con Nít*
25-10-2010, 03:22 PM
Lăng Đồng Khánh (Tư Lăng)

http://www.khamphahue.com.vn/upload/dvdulich/diemtq/lt/langdongkhanh.jpg (http://www.khamphahue.com.vn/upload/dvdulich/diemtq/lt/langdongkhanh.jpg)
Lăng Đồng Khánh

Lăng Đồng Khánh là một di tích trong quần thể di tích cố đô Huế được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới ngày 11-12-1993. Lăng nằm tại xã Thủy Xuân, thành phố Huế

Quá trình xây dựng lăng Đồng Khánh khá phức tạp. Nhà vua không ngờ mình chết sớm giữa lúc mới 25 tuổi sau khi tại vị chỉ 3 năm (1886-1888), cho nên chưa nghĩ đến việc xây lăng.

Nguyên trước đó, ở gần khu vực lăng Đồng Khánh ngày nay đã có lăng mộ của Kiên Thái Vương (1845 - 1876), cha đẻ của 3 vua Kiến Phúc (1884), Hàm Nghi (1885) và Đồng Khánh (1886 - 1888). Sau khi lên ngôi, thấy lăng mộ cha chưa có điện thờ, vua Đồng Khánh hạ lệnh cho Bộ Công xây dựng điện Truy Tư để thờ cha. Ngôi điện này nằm cách lăng Kiên Thái Vương khoảng 50 mét về phía đông - đông nam, được khởi công làm từ tháng 2-1888. Đến tháng 10 năm ấy, dù công trình chưa hoàn tất, vua Đồng Khánh cũng đã cho tổ chức lễ rước bài vị của Kiên Thái Vương từ một nhà thờ trong Thành Nội lên thờ ở đây. Trong khi công việc xây dựng đang tiến hành thì vua Đồng Khánh ngã bệnh, chết vào ngày 28-1-1889. Vì vậy điện Truy Tư được đổi làm Tư Lăng biệt điện, rước thánh vị nhà vua về thờ, gọi là điện Ngưng Hy. Bấy giờ, bài vị Kiên Thái Vương được đưa về thờ bên Hân Vinh từ đường xây dựng từ tháng 3-1888, bên bờ sông An Cựu, nay vẫn còn, nằm sát cung An Định.

Sau khi vua Đồng Khánh đột ngột mất, vua Thành Thái nối ngôi trong hoàn cảnh lịch sử và kinh tế đất nước khó khăn, phức tạp. Vì vậy, triều đình phải dùng ngôi điện đang xây dang dở làm nơi thờ vua Đồng Khánh và chọn chỗ đất cách đó khoảng 100 mét về phía tây nam để an táng ông luôn.

Sau khi vua Đồng Khánh chết hơn 20 ngày, quan tài nhà vua được đưa lên quàng tại điện Ngưng Hy từ ngày 19-2-1889, đến ngày 18-4-1889 mới đưa qua chôn tại khu lăng mộ đã chọn gần đó, mặc dù các công trình kiến trúc tại khu vực này làm chưa xong.

Phần lớn các công trình kiến trúc còn tồn tại ở lăng Đồng Khánh đều thực hiện dưới thời vua Khải Định (1916 - 1925). Sau khi lên ngôi được 3 tháng, vua Khải Định bảo Bộ Công lo việc tu sửa lăng (tháng 8-1916).

Vào tháng 3-1917, Bái đình mới được làm xong; thiết lập hai hàng tượng văn, võ quan viên và voi ngựa, lát gạch giữ sân chầu, xây lan can chung quanh và dựng cửa Nghi Môn ở mặt trước.

Bài văn bia do vua Khải Định viết xong ngày 8-10-1916 để ca tụng vua cha, được khắc vào hai mặt một tấm bia bằng đá thanh, rồi dựng ở Bi đình vào khoảng tháng 7-1917.

Điện Ngưng Hy và các nhà cửa phụ thuộc cũng đã được vua Khải Định cho trùng tu vào tháng 2-1921 và vào tháng 5-1923.

Tóm lại công việc xây dựng lăng tẩm của vua Đồng Khánh đã được bắt đầu từ cuối đời của chính ông (1888 - xây dựng khu vực điện Truy Tư sau đổi thành điện Ngưng Hy), làm thêm từ đầu đời vua Thành Thái (1889 - khu vực lăng mộ), rồi sửa chữa và mở rộng thêm quy mô dưới thời vua Khải Định các năm 1916, 1917, 1921 và 1923. Thực tế công cuộc xây dựng lăng vua Đồng Khánh diễn ra nhiều đợt, trong thời gian dài 35 năm (1888 - 1923), qua 4 đời vua: Đồng Khánh, Thành Thái, Duy Tân, Khải Định. Điều kiện lịch sử thời bấy giờ đã ảnh hưởng không nhỏ đến các yếu tố kiến trúc nghệ thuật xây dựng lăng, nền nghệ thuật thuần túy dân tộc đã bị phôi pha, trộn lẫn với các giá trị kiến trúc phương Tây.

Về mô thức kiến trúc, lăng vua Đồng Khánh không khác gì các lăng vua Nguyễn trước đó, ở cả hai khu vực lăng và tẩm có khoảng 20 công trình kiến trúc lớn nhỏ với mật độ tương đối dày. Khu vực tẩm quay về hướng đông - nam, ngay trước mặt có đào ao hồ bán nguyệt để làm yếu tố “minh đường”, ngọn đồi Thiên An cách đó khoảng 3 km được dùng làm tiền án. Khu vực lăng mộ quay về hướng đông - đông nam, tiến án là núi Thiên Thai. Tương quan viên ở lăng Đồng Khánh được đắp bằng vôi gạch với dáng cao, nhưng gầy.

Công trình kiến trúc nổi bật ở lăng vua Đồng Khánh là điện Ngưng Hy, có giá trị cao về kiến trúc, hội họa và trang trí. Đây là một tòa nhà kép làm theo kiểu thức chung của loại cung điện Huế, nhưng ở phần sau lại được gia tăng thêm một nhà thứ ba, nhà hậu. Vì vậy, ở đây có ba hệ thống vì kèo được ghép lại với nhau theo hình chữ “tam” với hai hệ thống máng xối ở giữa.

Bên trong điện là không gian nội thất vàng son lộng lẫy. Hàng trăm hình ảnh và câu thơ được chạm khắc hoặc viết vẽ lên các pa-nô và hệ thống liên ba đố bản. Một loạt hình ảnh trang trí độc đáo ở nội điện Ngưng Hy là vẽ cảnh sinh hoạt của 24 câu chuyện trong “nhị thập tứ hiếu”. Điện Ngưng Hy đã bảo lưu được nền nghệ thuật sơn mài truyền thống của dân tộc, phát huy tối đa những hình ảnh nổi bằng đất nung tráng men màu vào trong trang trí ngoại thất để có thể chịu đựng nắng mưa xứ Huế. Và cũng là lăng mở đầu cho sự pha trộn hai nền kiến trúc nghệ thuật Á - Âu.

- Quyết định của Bộ trưởng Bộ Văn Hóa Thông tin về việc công nhận di tích số 2009-1998QĐ/BVHTT ngày 26-9-1998

(Theo tư liệu từ Thư viện Tổng hợp tỉnh Thừa Thiên Huế)


Một số hình ảnh về lăng Đồng Khánh :

http://dulich.tuoitre.com.vn/Tianyon/Cache/Thumbnail/842/276842.jpg (http://dulich.tuoitre.com.vn/Tianyon/Cache/Thumbnail/842/276842.jpg)

http://vnexplore.net/files/hue/hue_lang_dongkhanh.jpg (http://vnexplore.net/files/hue/hue_lang_dongkhanh.jpg)

Con Nít*
26-10-2010, 08:55 AM
Lăng các chúa Nguyễn



Cụm lăng các chúa Nguyễn gồm 9 lăng, nằm tập trung tại xã Hương Thọ, huyện Hương Trà, Thừa Thiên Huế

Cụm lăng các chúa Nguyễn gồm 9 lăng:

- Lăng Trường Cơ - Lăng Thái Tổ Gia Dụ Hoàng Đế Nguyễn Hoàng (1526-1613) ở làng La Khê
- Lăng Trường Diễn - Lăng Hy Tôn Hiếu Văn Hoàng Đế Nguyễn Phúc Nguyên (1563-1635) ở thôn Cát Hải
- Lăng Trường Diên - lăng Thần Tôn Hiếu Chiêu Hoàng Đế Nguyễn Phúc Lan (1601-1648) ở thôn Kim Ngọc
- Lăng Trường Hưng - lăng Thái Tôn Hiếu Triết Hoàng Đế Nguyễn Phúc Tần (1620-1687) ở thôn Cát Hải
- Lăng Trường Mậu - Lăng Anh Tôn Hiếu Nghĩa Hoàng Đế Nguyễn Phúc Thái (1650-1691) ở thôn Kim Ngọc
- Lăng Trường Sanh - lăng Hiển Tôn Hiếu Minh Hoàng Đế Nguyễn Phúc Chu (1675-1725) ở thôn Kim Ngọc
- Lăng Trường Phong - lăng Túc Tôn Hiếu Minh Hoàng Đế Nguyễn Phúc Thụ (1697-1783) ở làng Định Môn
- Lăng Trường Thái - lăng Thế Tôn Hiếu vũ Hoàng Đế Nguyễn Phúc Khoát (1714-1765) ở làng La Khê
- Lăng Trường Thiệu - lăng Duệ Tôn Hiếu Định Hoàng Đế Nguyễn Phúc Thuần (1754-1777) ở thôn La Khê.- Quyết định của Bộ Trưởng Bộ Văn hóa Thông tin về việc công nhận di tích số 2009-1998/QĐ-BVHTT ngày 26-9-1998.

Con Nít*
26-10-2010, 04:31 PM
Lăng Hiếu Đông

http://www.khamphahue.com.vn/upload/dvdulich/diemtq/lt/tongthelanghieudong1.jpg (http://www.khamphahue.com.vn/upload/dvdulich/diemtq/lt/tongthelanghieudong1.jpg)
Tổng thể lăng Hiếu Đông

Lăng Hiếu Đông là lăng mộ của bà Tá Thiên Nhân Hoàng hậu Hồ Thị Hoa, Nguyên Phi của vua Minh Mạng (sau được truy tôn là Hoàng hậu), thân mẫu của vua Thiệu Trị. Dưới thời Nguyễn, lăng Hiếu Đông thuộc đất xã Cư Chánh, huyện Hương Thuỷ, phủ Thừa Thiên; nay thuộc thôn Cư Chánh, xã Thủy Bằng, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Tuy là một di tích quan trọng trong quần thể lăng tẩm hoàng gia Nguyễn nhưng lại không nhiều người biết tường tận về lăng Hiếu Đông. Nhờ những phát hiện qua đợt thám sát khảo cổ học mới diễn ra gần đây (và “nhờ” cả sự kiện chiếc cột hoa biểu báo hiệu lăng bị đập phá ngày 28/4/2005) được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng, người ta mới thực sự quan tâm về khu lăng khá đặc biệt này.

Bà Hồ Thị Hoa vốn người huyện Bình An, tỉnh Biên Hòa, con gái của Phúc Quốc Công Hồ Văn Bôi và bà mẹ họ Hoàng. Bà sinh ngày 30 tháng 11 năm 1791 (ngày 5 tháng 11 năm Tân Hợi). Tiểu sử của bà Hồ Thị Hoa cùng những sự kiện liên quan đến bà được không ít tư liệu sách vở từ thời Nguyễn đến nay đề cập, đặc biệt sách Đại Nam liệt truyện của Quốc Sử Quán triều Nguyễn đã dành đến hơn chục trang để viết về bà, đủ biết bà là một nhân vật quan trọng, dù chỉ hưởng dương xấp xỉ 17 năm.

Được đưa vào cung từ năm 16 tuổi (1806), do đích thân vua Thế Tổ - Gia Long và Thuận Thiên Hoàng Hậu tuyển chọn, bà đã nhanh chóng được chú ý bởi tính dịu dàng, thận trọng và nổi tiếng hiền đức, hiếu thảo. Bà được vua Thế Tổ rất ngợi khen và ban cho tên Thật. Vua bảo: “Phi nguyên có tên Hoa là lấy ý nghĩa ở 4 chữ “ đặc dĩ phương văn” (để truyền hương thơm) sao bằng tên Thật gồm cả phúc lẫn quả."

Tháng 5 năm Đinh mão (1807) bà sinh hoàng tử, người sau này trở thành Hiến Tổ Chương Hoàng Đế-Thiệu Trị. Nhưng mới được 13 ngày thì bà mất (ngày 28.6.1807), lúc mới 17 tuổi.

Tẩm mộ của bà được xây ngay sau đó tại xã Cư Chánh, huyện Hương Thuỷ, nhưng quy mô còn khá khiêm tốn.

Tháng 6 năm Tân tỵ (1812), bà được truy tặng sách Chiêu Nghi, thuỵ Thuận Đức, hợp thờ tại đền Gia Phi (đền thờ họ Phạm).

Tháng 5 năm Bính Thân (1836), bà được truy tặng là Thân Phi. Tháng 10 năm Mậu tuất (1838), được sắc lập nhà thờ tại làng Vạn Xuân phía tây sông Hữu Hộ Thành. Năm Kỷ hợi (1839), bài vị bà được đưa về thờ tại đấy.

Năm Tân sửu (1841), sau khi vua Hiến Tổ-Thiệu Trị lên ngôi đã dâng tôn thuỵ là Tá Thiên Lệ Thánh Đoan Chính Cung Hoà Đốc Khánh Từ Huy Minh Hiền Thuận Đức Nhân Hoàng Hậu (thường gọi tắt là Tá Thiên Nhân Hoàng hậu), đặt tên nhà thờ là Vĩnh Tư Điện, tên lăng là Hiếu Đông.

Ngày 9 tháng 1 năm Quý mão (1843) bài vị của bà được đưa về phối thờ với Thánh Tổ-Minh Mạng ở Thế Miếu, tại gian thứ nhất bên trái.

Bà chỉ sinh được một hoàng tử là Nguyễn Phúc Tuyền (Hiến Tổ Chương Hoàng Đế).

Thân sinh của bà là ông Hồ Văn Bôi, vào năm Bính tuất (1826) đã được truy tặng Nghiêm Vũ Tướng Quân Thượng Hộ Quân Đô Thống, thân mẫu được tặng nhị phẩm phu nhân. Đến năm Tân sửu (1841) Hiến Tổ truy phong ông làm Đặc Tiến Tráng Vũ Tướng Quân Đô Thống Phủ Đô Thống Chưởng Phủ Sự Thái Bảo, thuỵ Trung Dũng, tước Phúc Quốc Công và bà là Nhất phẩm Quốc Công phu nhân, thuỵ Ý Thuận. Ngoài ra cho lập nhà thờ ở xã Xuân Hòa (huyện Hương Trà, phủ Thừa Thiên). Đồng thời cũng lập nhà thờ tại nguyên quán gọi là Hồ tộc từ đường.

Như trên đã nói, sau khi bà Hồ Thị Hoa mất, tẩm mộ bà được xây tại xã Cư Chánh, nhưng quy mô còn khiêm tốn. Chỉ khi vua Thiệu Trị đăng quang (1841), truy tôn bà thành Tá Thiên Nhân Hoàng hậu, việc xây dựng lăng cho bà mới được tiến hành. Sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ của Nội Các triều Nguyễn có chép lại bản Dụ của vua Thiệu Trị nói rõ sự kiện này:
“...dụ rằng: từ xưa Đế Vương lấy hiếu trị thiên hạ, muốn suy tôn nguồn gốc, thì bắt đầu phải tôn xưng huy hiệu, đấy là lệ thường. Vâng lệnh Hoàng khảo Thánh tổ Nhân, Hoàng đế ta đức to nghiệp lớn, rực rỡ xưa nay, hiệu tên sáng tỏ trời đã phú Hoàng tỷ ta (tức mẹ vua) thêm nhiều nguồn phúc, gây nên đức hóa, đức tốt của người mẹ tiêu biểu hơn người. Vừa rồi đặt lễ kính dâng tôn hiệu lên Hoàng khảo Thánh tổ Nhân hoàng đế đã xong, đình thần đều có xin dâng huy hiệu Hoàng tỷ ta, để tỏ đức mẹ vua và thỏa lòng dân nguyện. Trẫm chuẩn y lời đề nghị đó, cho kính chọn giờ lành, đích thân đem quần thần kính đến sân điện Vĩnh Tư làm lễ. Vả lại, đế và hậu cùng suy tôn là lễ chính đáng. Trẫm kính theo chỉ trước, kính cẩn xây dựng lăng tẩm ở đất lành Hiếu Sơn, dâng hiệu lăng là Hiếu Lăng. Nay nên kính dâng hiệu lăng Hoàng tỷ Nhân Hoàng hậu ta là lăng Hiếu Đông.

Lại dụ rằng: Mặt trước lăng Hiếu Đông cần dựng cột hoa biểu, còn bình phong ở mặt sau, bờ suối ở mặt trước, cùng các nơi ngăn cấm đều cần sửa sang. Kính nghĩ đây là việc trọng đại, một phen xây dựng mong sao bền vững nghìn thu. Đã sai Thái sư tra xét phương hướng từng năm, chọn ngày lành cẩn thận, phái thống chế Vũ Văn Giải, chưởng vệ Hồ Văn Lưu đổng lý công việc này”.

Tuy nhiên, ngay sau đó, vua Thiệu Trị lại không yên tâm và phái thêm một vị quan văn là Hữu thị lang Bộ Công Nguyễn Văn Điền cùng sung chức Đổng lý để coi sóc việc xây lăng. Đến năm Thiệu Trị thứ 3 (1843), công việc xây lăng Hiếu Đông mới tạm hoàn chỉnh. Sau khi hoàn thành, lăng trở thành một công trình khang trang, quy mô bề thế: “Tường trong bảo thành cao 6 thước 2 tấc 7 phân, chu vi 14 trượng 2 thước 8 tấc, giữa xây một nhà đá; lần tường ngoài trước cao 9 thước, cao 7 thước 9 tấc 6 phân, chu vi 21 trượng 1 thước 7 tấc, trước xây cửa đá, cánh cửa bằng đồng, bệ cửa 5 cấp, tả hữu lan can rồng, ngoài làm bái đình 3 cấp, lát đá rắn, đường ống xây đá, 6 lan can rồng uốn, tả hữu lan can gạch hoa; bên ngoài bái đình 3 cấp là sân ngoài, đường ống xếp đá, tả hữu lát gạch rắn, trước là hồ nguyệt, bên ngoài hồ tả hữu đều xây cột hoa biểu. Bên tả lăng dựng đài công sở 5 gian".

Từ khi xây dựng xong trở về sau, chắc chắn lăng Hiếu Đông đã được tu bổ nhiều lần. Việc bảo vệ lăng cũng được thực hiện rất chu đáo. Sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc Sử Quán cho biết, quanh chu vi lăng có đến 40 trụ giới cấm (4). Ngoài ra, vào năm Thiệu Trị thứ 2 (1842), nhà vua còn cho dựng ở sát bến sông vào lăng 2 cột hoa biểu để làm mốc báo hiệu khu vực đất thiêng. Năm Tự Đức thứ 24 (1871), triều Nguyễn còn quy định: " Khi đến trụ gạch (tức cột hoa biểu),... đối với lăng Hiếu Đông... là tại chỗ hõm bờ sông, thì xuống võng, cởi dép đi vào. Người gánh võng, binh lính vẫn ở lại nơi đó, còn kẻ tùy tòng đều đến ngoài mô đất có hàng rào cây thì dừng lại mà chờ. Còn lọng đi theo... đến trụ cấm thì ngừng".

Riêng về lực lượng bảo vệ, khu vực lăng Hiếu Đông có một đội lính (Đội 7) thuộc vệ Hộ Lăng làm nhiệm vụ thường xuyên canh trực, giữ gìn lăng.

Trong thời Nguyễn, hàng năm các vua vẫn thường xuyên viếng thăm lăng tẩm tổ tiên. Phương tiện mà họ sử dụng chính vẫn là ngự thuyền. Để phục vụ cho việc dừng chân, nghỉ ngơi của các vua Nguyễn, triều đình cho dựng những hành cung dọc hai bờ sông Hương. Tại khu vực kề cận lăng Hiếu Đông có hành cung Cư Chánh. Dù tư liệu của triều Nguyễn không thấy đề cập cụ thể nhưng ký ức về hành cung này vẫn được lưu truyền trong cư dân sở tại.

Về cuối triều Nguyễn, do không đủ sức quản lý, bảo vệ các khu lăng nên, tình trạng xuống cấp, hoang hóa của các di tích diễn ra rất phổ biến, trong đó có lăng Hiếu Đông. Khu lăng mộ này gần như bị rơi vào quên lãng.

Từ tháng từ tháng 8/2004 đến giữa tháng 1/2005, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế phối hợp với Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tổ chức thám sát khảo cổ học di tích Xương Lăng- lăng Thiệu Trị. Sau đó, theo đề nghị của các nhà chuyên môn, công tác thám sát được mở rộng qua khu vực lăng Hiếu Đông (từ cuối tháng 4/2005-5/2005). Kết quả của đợt thám sát này đã cung cấp nhiều thông tin quan trọng, bổ sung vào các nguồn thông tin tư liệu vốn có.

(theo hue.vnn.vn)

Con Nít*
27-10-2010, 11:22 AM
Thiền viện Trúc Lâm Bạch Mã

http://www.khamphahue.com.vn/upload/dvdulich/diemtq/chua/tvbachma.jpg (http://www.khamphahue.com.vn/upload/dvdulich/diemtq/chua/tvbachma.jpg)
Thiền viện Trúc Lâm Bạch Mã

Chuyến qua phà giữa lòng hồ Truồi mênh mang sóng nước sẽ làm khách hành hương thích thú khi đến thiền viện Trúc Lâm Bạch Mã. Bên kia bờ nước, dưới chân ngọn linh sơn, những tổ đường, chính điện, tăng đường, trai đường, phương trượng, lầu chuông, tháp xá lợi… quần tụ trên khu đồi nguyên sinh bên kia bờ hồ Truồi dưới chân đỉnh Bạch Mã quanh năm chìm trong mây trắng.




Đại đức Thích Tâm Hạnh, trụ trì thiền viện, cho biết trong một lần đi tìm cuộc đất xây thiền viện, từ đỉnh Bạch Mã nhìn xuống chợt gặp một vùng non nước xứ Truồi in bóng trời mây. Thiền viện được khởi công từ tháng 3/2006, sau hai năm thi công trong điều kiện khá khó khăn vì cách trở đường vận chuyển. Với tổng kinh phí gần 15 tỉ đồng từ nguồn đóng góp của giáo hội và phật tử, nay đã nên hình hài một quần thể danh lam giữa vùng sơn thủy hữu tình.
Với khoảng cách chưa đầy 30km từ trung tâm thành phố Huế, xuôi quốc lộ 1A về phía nam đến địa phận xứ Truồi (huyện Phú Lộc) rẽ phải thêm 10km, qua chuyến phà hồ Truồi, bỏ lại sau lưng những bụi bặm trần thế trước khi bước chân lên 172 bậc tam cấp để đứng trước tam quan thiền viện.

Nối dòng thiền phái Trúc Lâm Yên Tử với các thiền viện Yên Tử (Quảng Ninh), Đà Lạt, Tây Thiên (Vĩnh Phúc) và nay thêm thiền viện Bạch Mã ở xứ Huế, Huế có thêm một địa chỉ hành hương không chỉ riêng cho phật tử mà cả du khách khi tìm về cố đô.


Tổng cục Du lịch



Cách thành phố Huế 30km, theo đường quốc lộ 1 xuôi về phía Nam. Đến cầu Truồi (huyện Phú Lộc), rẽ phải thêm 10km, sừng sững trước mắt là đỉnh Bạch Mã quanh năm chìm trong mây trắng, mênh mang dưới chân Bạch Mã là hồ Truồi xanh biết chạy dài hết tầm mắt. Bên kia bờ nước, thấp thoáng giữa ngọn linh sơn là những lầu chuông, phương trượng, chánh điện, tháp xá lợi...sáng rực lên một cách lung linh huyền ảo trong nắng chiều. Bước xuống chuyến phà của nhà chùa luôn luôn chờ sẵn, băng ngang lòng hồ mênh mông nước, bao nhiêu bụi trần như được giũ bỏ hết trước khi đặt chân tới chốn thiền môn.

Sang đến bờ bên kia, cao vút trước mắt là 172 bậc tam cấp như thử thách cuối cùng cho khách hành hương. Sừng sững phía trên cùng là cổng Tam Quan của chùa. Đứng trước cổng phóng tầm mắt nhìn xuống bắt gặp một vùng non nước xứ Truồi in bóng trời mây. Mặt nước hồ Truồi lung linh như dát vàng, dát bạc. Bước chân vào chùa, khách hành hương như ngẩn ngơ trước vẻ hùng vĩ và trang nghiêm của những chánh điện, tổ đường, trai tăng...những mái chùa cong vút in hình trên nền trời xanh hay những ngọn núi mây trắng vờn quanh. Thiền viện Trúc Lâm Bạch Mã nối dòng thiền phái Trúc Lâm Việt Nam với các thiền viện Yên Tử, Tây Thiên, Đà Lạt. Xứ Huế nay có thêm một địa chỉ cho khách hành hương tìm về với cố đô.

Đường vào với đỉnh Bạch Mã với quanh năm mây trắng vờn quanh

http://www.vnphoto.net/data/p12/3066_duong%20vao_02_913.jpg (http://www.vnphoto.net/data/p12/3066_duong%20vao_02_913.jpg)

http://www.vnphoto.net/data/p13/3066_duong%20vao_01_2238.jpg (http://www.vnphoto.net/data/p13/3066_duong%20vao_01_2238.jpg)

Thiền viện Trúc Lâm ẩn hiện giữa mênh mang trời nước

http://www.vnphoto.net/data/p10/3066_toan%20canh_5005.jpg (http://www.vnphoto.net/data/p10/3066_toan%20canh_5005.jpg)

172 bậc tam cấp dẫn lên chùa

http://www.vnphoto.net/data/p8/3066_duong%20len_8362.jpg (http://www.vnphoto.net/data/p8/3066_duong%20len_8362.jpg)

Cảnh non nước hữu tình nhìn từ chùa

http://www.vnphoto.net/data/p10/3066_ho%20truoi_4958.jpg (http://www.vnphoto.net/data/p10/3066_ho%20truoi_4958.jpg)

Chánh điện

http://www.vnphoto.net/data/p13/3066_chanh%20dien_8130.jpg (http://www.vnphoto.net/data/p13/3066_chanh%20dien_8130.jpg)

Điện thờ

http://www.vnphoto.net/data/p13/3066_dien%20tho_2735.jpg (http://www.vnphoto.net/data/p13/3066_dien%20tho_2735.jpg)

Vnphoto

Con Nít*
28-10-2010, 03:22 PM
Chùa Diệu Đế

http://www.khamphahue.com.vn/upload/dvdulich/diemtq/chua/chua%20dieu%20de.jpg (http://www.khamphahue.com.vn/upload/dvdulich/diemtq/chua/chua%20dieu%20de.jpg)

Chùa tọa lạc tại số 100B đường Bạch Đằng, phường Phú Cát, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Điện thoại: 0914114798.

Chùa do Vua Thiệu Trị cho xây dựng vào năm 1844 với qui mô đồ sộ trên nền phủ đệ cũ của nhà vua, nhưng qua nhiều cuộc chiến tranh đã hư hỏng. Năm 1889, Hòa thượng Tâm Truyền được Vua Thành Thái ban tiền để trùng tu. Chùa lại bị hỏng do cơn bão năm 1904. Kiến trúc chùa hiện nay được xây dựng vào năm 1953, ở trần chánh điện có bức tranh vẽ "Long Vân khế hội", nét vẽ điêu luyện.

Ở chùa có tấm bia đá cao 1,90m rộng 1m, đặt trên bệ cao 0,65m dựng trong một nhà bia khắc những bài thơ của Vua Thiệu Trị vịnh về chùa Diệu Đế.

Diệu Đế là ngôi Quốc tự thứ ba ở Huế, được Vua Thiệu Trị liệt hạng là một trong 20 thắng cảnh của đất Thần Kinh.

(theo tư liệu của ông Võ Văn Tường cung cấp)

nguyenthidieuthuy
28-10-2010, 03:45 PM
Cảm ơn pạn nhé!
pài viết hữu ích lắm đấy!
rất muốn tới Huế một lần:)

Con Nít*
28-10-2010, 04:40 PM
Cảm ơn pạn nhé!
pài viết hữu ích lắm đấy!
rất muốn tới Huế một lần:)

Huế còn rất nhiều điểm để du lịch nữa bạn à, từ từ mình sẽ post lên hết những nơi mình sưu tầm được. Ưm, còn cả ẩm thực Huế nữa chứ, có lẽ phải sang box Ẩm Thực post 1 bài về ẩm thực Huế quá :D.

Thăm phủ An Thường công chúa

http://www.khamphahue.com.vn/upload/image/dulich/diemthamquan/diemthamquankhac/congchua.jpgCùng với quần thể kiế trúc cung đình triều Nguyễn, Huế còn có một mảng kiến trúc nghệ thuật vừa mang dấu ấn cung đình, vừa hoà hợp trong lối sống dân dã, đó là những kiến trúc phủ đệ mà các Hoàng Tử, công chúa con của các Vua triều Nguyễn khi đến tuổi trưởng thành được Vua cha cho ra lập phủ để ở riêng

Những phủ đệ ấy, lúc sinh thời là nơi ở của các hoàng tử, công chúa. Khi các bậc ấy mất đi, con cháu dùng làm nơi thờ tự được gọi là phủ thờ. Theo Nguyễn Phước tộc thế phả, ở Huế có tất cả 95 phủ đệ của 62 hoàng tử và 33 công chúa. Hiện nay, số phủ đệ ấy còn lại không nhiều, và một trong số ấy là phủ thờ Công chúa An Thường. An Thường là con gái thứ tư của Vua Minh Mạng- một nàng công chúa nổi tiếng về hiếu hạnh

Công chúa An Thường hiệu là Mỹ Thục, huý Lương Đức, hựu huý Nhật Tam Xuân. Công chúa sinh ngày 13 tháng 6 năm Đinh Sửu ( tức ngày 26 tháng 7 năm 1817). Là con thứ tư cuả Vua Minh Mạng, những người chị của bà đều mất sớm nên bà được xem là công chúa trưởng. Bà lập gia đình với phò mã Phan Văn Uýnh- tước hiệu Cáo Thọ Phấn Dõng Tướng Quân Đô Uý- là con trai của Đô Thống Chưởng Phủ sự Chương nghĩa hầu Tăng Thiếu Bảo Phan Văn Tuý- người để lại dấu ấn là công trình sông đào Đông Ba- Huế . Vợ chồng công chúa và phò mã sinh nhiều con nhưng chỉ còn lại một người đó là Phan Văn Huy và từ đó đến nay, dòng dõi đã được kế tục qua 5 đời.

Trong khi nhiều phủ đệ khác ở Huế bị xuống cấp và không còn giữ được nguyên vẹn kiến trúc ban đầu thì phủ thờ An Thường Công Chúa còn lại cho đến hôm nay là một sự nỗ lực lớn của con cháu trong gia tộc. Đây là chiếc cổng được con cháu phục hồi vào năm 2004 theo đúng như kiểu cách và kích thước ngày xưa. Từ bên ngoài nhìn vào, chiếc cổng gỗ cổ xưa và hai hàng chè tàu xanh mát dẫn vào nhà là một kiểu kiến trúc nhà vườn truyền thống của Huế xưa.

http://www.trt.com.vn//Portals/0/ChuyenDeChuyenMuc/VanHoaHue/VanHoaDuLich/phu-An-thuong-cong-chua.jpg (http://www.trt.com.vn//Portals/0/ChuyenDeChuyenMuc/VanHoaHue/VanHoaDuLich/phu-An-thuong-cong-chua.jpg)
Phủ An Thường công chúa (Nguồn ảnh: internet)

Du khách sẽ ngạc nhiên vì nhà nền cao mà những cánh cửa bàn khoa lại thấp . Đây chính là một đặc điểm riêng biệt của nhà rường Huế. Ngụ ý của chủ nhân xưa muốn rằng khi bước vào nhà, mọi người phải cúi mình, điều đó thể hiện sự tuân thủ theo nếp nhà, sự tôn trọng với gia chủ. Trong ngôi nhà chính này, phần kiến trúc gỗ với những hoa văn hoạ tiết chạm trổ công phu cho thấy đây là ngôi nhà của hàng con vua cháu chúa . Kiểu trang trí chạm lộng và đặc biệt là những hình chạm nổi này thường thấy ở trong các kiến trúc cung đình. Đây là những bức tranh gương mà dấu thời gian đã làm xoá màu, những hình vẽ không còn rõ nét nhưng nhìn kỹ vẫn thấy đề tài mà hội hoạ xưa thường sử dụng , đó là “ Tây Thi bên cầu giặt lụa”. Thời gian đã làm hư hại nhiều hiện vật quý nhưng vẫn còn lại những dấu tích để cho chúng ta hôm nay hiểu về cuộc sống của người xưa. Đây là chiếc hộp dùng để đựng những sắc phong của Vua ban. Con cháu của Công chúa đã cố gắng giữ gìn cẩn thận. Những giá trị vật chất có thể bị mất đi, hư hao theo thời gian nhưng những giá trị tinh thần , nếp nhà vẫn luôn được gìn giữ . Ngay trước cửa nhà là hai câu đối nói về lối sống của gia đình: “ Truyền kinh giáo tử hoán nhơn văn.

Tích thiện bồi căn miên thế trạch” ( ngụ ý của người xưa dạy rằng: Dạy dỗ con cháu lễ nghi để ngày càng sống tốt hơn. Làm điều thiện để bồi đắp cho sự vững mạnh của gia đình mãi mãi).
Sinh thời công chúa An Thường nổi tiếng là người con hiếu thảo. Theo Đại nam liệt truyện kể rằng: : Năm công chúa lên lên chín tuổi, trong dịp lễ Vạn Thọ, Công chúa được đến dùng cơm với vua cha. Có món thịt vú dê rất ngon, vua cha lấy cho con gái, Công chúa chỉ ngậm mà không nuốt. Vua Minh Mạng lấy làm lạ, truyền hỏi. Công chúa khóc mà thưa rằng: “Mẹ con có bệnh, không được đội ơn; con nghe món này bổ lắm nên con giữ đem về để dâng mẹ con.” Vua cha nghe nói, khen công chúa nhỏ tuổi mà có lòng hiếu thảo sâu sắc, liền truyền lấy riêng một khay nhỏ thịt vú dê sai người đưa sang cho mẹ Công chúa là Mỹ nhân Nguyễn Thị Sâm.

Năm 1840, vua Minh Mạng băng hà , công chúa An Thường đã lên ở tại lăng cha trong ba năm để làm tròn chữ
Nhà thơ Tuy Lý Vương, ông hoàng nổi tiếng hay thơ, là em trai cuả Công chúa An Thường đã viết về chị gái của mình :
“Tốt đẹp thay chị ta
dịu dàng thành thục
đội mũ, gài tóc, khoan thai
nói không ra ngoài bực cửa
là con vua tôn quí
mà cần kiệm, khiêm nhường...” .

Cũng giống như các em của mình, công chúa là một người rất yêu thơ văn. Tiếc thay hiện nay không còn lưu nhiều tài liệu nói về điều này. Nhưng may mắn thay hậu duệ của bà vẫn còn cất giữ được một số bản khắc gỗ. Đó là những bản kinh mà trong những năm tháng cuối đời bà đã chuyên tâm vào việc tu hành. Những bản kinh này , bà in ra và đem đi tặng các chùa hay là cho anh chị em, bà con để cùng đọc kinh và làm điều thiện. Dù có cuộc sống của một bà công chúa quyền quý, cao sang nhưng bà luôn sống và làm việc , hành thiện như bao nhiêu người dân bình thường . Phẩm hạnh của bà đã trở nên nổi tiếng trong giới hoàng tộc ở Huế , con cháu cảu bà đã theo gương người xưa mà tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, đã có nhiều người học hành , đỗ đạt thành tài, làm rạng danh dòng họ./.

Phủ thờ An Thường Công chúa- một trong những ngôi nhà rường đẹp của Huế. Kiến trúc là sự hiển hiện ra bên ngoài , còn cái hồn bên trong đó chính là nề nếp gia phong, là tấm gương đạo đức của chủ nhân xưa. Chính giá trị di sản tinh thần, làm tôn thêm vẻ đẹp của giá trị kiến trúc vật chất. Câu chuyện về cuộc đời của An Thường Công Chúa gợi cho chúng ta phải nhớ rằng dẫu chúng ta có cao sang, học vấn thâm hậu hay phú quí cỡ nào đi nữa, thì đạo làm con lễ hiếu phải làm đầu. Đó cũng chính là đạo lý ngàn năm nay của dân tộc ta.


Theo TRT

Con Nít*
29-10-2010, 09:25 AM
Nhà thờ dòng Chúa Cứu Thế

http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/6/6f/Nh%C3%A0_th%E1%BB%9D_D%C3%B2ng_Ch%C3%BAa_C%E1%BB%A9u_Th%E1%BA%BF,_Hu%E1%BA%BF.jpg (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/6/6f/Nh%C3%A0_th%E1%BB%9D_D%C3%B2ng_Ch%C3%BAa_C%E1%BB%A9u_Th%E1%BA%BF,_Hu%E1%BA%BF.jpg)

Nhà thờ bắt đầu được xây dựng vào năm 1937 và đến năm 1942 thì xong. Nhà thờ nằm ở cuối đường Nguyễn Huệ, thành phố Huế. Ðiều đặc biệt của kiến trúc ngôi nhà thờ này là cửa rộng và không có vách. Phần hiên của thánh đường được thiết kế rộng để khi đông người đến dự lễ, có thể mở cửa và tạo cho người ở ngoài hiên vẫn có cảm giác đang ở trong lòng thánh đường.

Bàn thờ chính được làm bằng đá cẩm thạch màu hồng, nguyên phiến dài 3,6m rộng 1,25m và cao 28cm. Cạnh bàn thờ chính còn có hai bàn thờ nhỏ hơn cũng làm bằng đá cẩm thạch hồng nguyên phiến. Trong nhà thờ còn có trống, chiêng mang đậm tính cách Á- Ðông.
Phía ngoài hành lang có một phòng nhỏ đựng tro cốt để khi gia đình của những người theo đạo thiên chúa giáo qua đời thì có thể đốt hài cốt thành tro, cho vào tiểu nhỏ để thờ (có thắp hương).
Tháp chuông gồm có 4 quả chuông được điều khiển bằng điện.
Nhà thờ dòng chúa Cứu Thế, đỉnh có chóp nhọn vươn thẳng lên trời, phần thân nhà thờ được lợp ngói có mái, kết hợp hài hoà giữa kiến trúc Tây phương và Ðông phương. Ðây là một ngôi nhà thờ có kiến trúc đẹp ở thành phố Huế.

Con Nít*
29-10-2010, 03:44 PM
Nhà thờ Phủ Cam

http://www.simplevietnam.com/uploads/Hue/Nha%20tho%20chinh%20toa%20Phu%20Cam/Hue_NhathoPhucam-1.jpg (http://www.simplevietnam.com/uploads/Hue/Nha%20tho%20chinh%20toa%20Phu%20Cam/Hue_NhathoPhucam-1.jpg)

Nhà thờ chính toà Phủ Cam hiện tại thuộc phường Phước Vĩnh, thành phố Huế. Ðây là một thánh đường xây theo lối kiến trúc hiện đại, do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ thiết kế. Ðầu năm 1963, nhà thờ bắt đầu được khởi công xây dựng. Tới năm 1967 mới lên được phần cung thánh. Tiếp đến 1995 phần thân nhà thờ về cơ bản được hoàn thành.

Thánh đường Phủ Cam được xây theo quan niệm vật lý kết cấu mới. Các trụ đỡ được đúc sát vào tường, chạy uốn cong dần về phía trước, mềm mại. Bốn góc mỗi góc có ba trụ đỡ vươn dần ra, tạo thành một không gian đủ rộng ôm kín cung thánh và bàn thờ.

Lòng nhà thờ được xây theo truyền thống cổ điển có hình thánh giá Latin cộng với lòng căn hai cánh mở rộng. Có hai dãy cửa gương màu nằm ở phần trên bên trong lòng nhà thờ, phía giữa có hình thánh giá bằng xi măng cốt sắt.

Cung thánh là một hình tròn có các cấp đi lên, trên cung là một hình tròn nhưng nhỏ hơn với bàn thờ bằng đá cẩm thạch nguyên khối.

Nhà tạm, được xây sát vào phần hậu thân nhà thờ, nằm gọn vào phần lõm phía sau và được đặt trên một bệ cao ngay chính giữa.

Hai bên cánh hình thánh giá nhà thờ, cánh trái là phần mộ Ðức cố Tổng giám mục Philipphê Nguyễn Kim Ðiền (1921 - 1988), cánh phải đối diện là bàn thờ kinh thánh.

Phía trước nhà thờ Chính toà Phủ Cam có hai tượng đúc: bên phải là thánh Phêrô, bên trái thánh Phaolô cũng là những bổn mạng của giáo xứ Phủ Cam.

Tiền đường của Phủ Cam trông giống như hàm con rồng đang há miệng nhìn tổng thể, nhà thờ Phủ Cam với đỉnh nhà thờ vươn thẳng lên trời trông vẫn hết sức thanh thoát nhẹ nhàng, mang đầy tính nghệ thuật và tôn giáo.

Sưu tầm

Con Nít*
30-10-2010, 12:15 PM
Lăng mộ Đặng Huy Trứ

http://www.khamphahue.com.vn/upload/dvdulich/diemtq/lt/huytru.gif (http://www.khamphahue.com.vn/upload/dvdulich/diemtq/lt/huytru.gif)
Tượng Đặng Huy Trứ

Đặng Huy Trứ tự Hoàng Trung, hiệu Vọng Tân, Tỉnh Trai, sinh ngày 16-5-1825. Ông là một nhà yêu nước chống Pháp đứng về phía "chủ chiến" từ những ngày đầu. Đồng thời là một nhà văn, nhà thơ lớn giữa thế kỷ XIX. Lăng Đặng Huy Trứ nay thuộc thôn Hiền Sĩ, xã Phong Sơn, huyện Phong Điền, Thừa Thiên Huế.

Đặng Huy Trứ xuất thân từ một dòng họ thi thư truyền thống yêu nước, ông nội là Đặng Quang Tuấn hay chữ, hay thơ, suốt đời chọn con đường dạy học trong thời Trịnh Nguyễn phân tranh đầy xáo trộn. Bác ruột là Đặng Văn Hoà (Con trai trưởng của Đặng Quang Tuấn) cũng là một nhân vật có danh tiếng đỡ đầu trong khoa thi hương đầu tiên của triều Nguyễn, đã làm quan qua nhiều triều Vua, làm tổng đốc nhiều tỉnh. Nhưng điều đáng chú ý là trong cuộc đời làm quan của mình, ông đã làm được nhiều việc ích nước, lợi dân mà sử sách và đời sau còn ghi công tích: Chăm lo đê điều, mở rộng phố xá ở Hà Nội, tu sửa chùa Một Cột (1938)...Thời thơ ấu, Đặng Huy Trứ sống ở Thanh Lương, Hương Trà, được cha dạy học, sau đó còn được thoe học nhiều thầy có danh tiếng: Nguyễn Ngọc Đình, Trương Quốc Dụng. Đồng thời lại được thừa hưởng một tủ sách gồm hơn 2.000 cuốn của bác Đặng Văn Hòa. Vì thế 15 tuổi Đặng Huy Trứ đã thông kinh sử, đã làm nhiều thơ, nhiều bài còn để lại cho thấy được phần nào chí khí mạnh mẽ, tình thương đối với người nghèo khổ và một tâm hồn thơ phong phú sớm nảy nở ở ông. Năm 18 tuổi (1843) Đặng Huy Trứ đổ cử nhân. Năm 22 tuổi (1847) vào thi hội đổ thứ 7. Thi Đình vì phạm huý nên không được công nhận đổ tiến sĩ và bị cách tuột cả cử nhân cũ. Sao đó ông đi thi hương lại, đổ giải nguyên cùng khoá với Ông Ích Khiêm. Năm 1855 (30 tuổi) ông theo nghề dạy học. Quan điểm giáo dục của ông có những điểm khá mới mẻ, ông chủ trương "Sư hữu tương trưởng" nghĩa là thầy vừa dạy, vừa cùng học, cùng trưởng thành với học trò. Với tâm niệm ấy, người thầy Đặng Huy Trứ đã dạy ở nhiều nơi: Quảng Nam, Quảng Trị, Thừa Thiên... Năm 1856 dưới triều Tự Đức thứ 9, Đặng Huy Trứ bắt đầu cuộc đời làm quan và cũng là lúc bọn xâm lăng của thực dân Pháp đang rập rình cửa ngõ, đất nước nguy nan, dân sinh nghiêng ngã vì lụt lội, đói kém... Có lẽ chính ý thức trách nhiệm với dân, với nước đã thôi thúc ông bước chân vào hoạn trường để gánh vác lấy công việc giúp dân, giúp nước. Đặng Huy Trứ đã làm từ huyện Quảng Xương (Thanh Hoá), Tri phủ Thiên trường (Nam Định) về làm Ngự sử trong kinh, nhận chức Bố chánh Quảng Nam. Vào những năm ấy, tình hình đất nước hết sức bi đát. Thực dân đánh chiếm nhiều nơi: Gia Định, Định Tường, Biên Hoà... giặc giã khắp nơi, bão lụt nặng nề, nhân dân xiêu tán. Trong tình hình đất nước rối bời như canh hẹ, với địa vị "quan mọn" nhưng Đặng Huy Trứ đã làm được những việc không nhỏ: Giữ chức Ngự sử giám sát Đạo tả kỳ, ông đã tham hặc viên hữu Tham tri Bộ Binh...

Tháng 11/1873 giặc Pháp đánh thành Hà Nội, Hà Nội thất thủ, Nguyễn Tri Phương tuẫn tiết. Đặng Huy Trứ lên quan thứ Đồn Vàng, Sơn Hưng Tuyên (Vĩnh Phú) do Hoàng Kế Viêm làm Thống đốc quân vụ để tổ chức căn cứ địa đánh Pháp, nhưng chỉ ít lâu thì ông bị bệnh. Ngày 7/8/1874 (tức ngày 25/6 năm Giáp Tuất) tại xã Cao Dắng, chợ Bến Đồn Vàng Đặng Huy Trứ đã từ trần, thọ 49 tuổi.

Ngày 7/8/1874 Đặng Huy Trứ trút hơi thở cuối cùng tại xã Cao Dắng, chợ Bến, Đồn Vàng (Vĩnh Phú). Với ý nguyện được chôn tại mảnh đất nơi ông và bạn bè đã cùng nhau chiến đấu, nhưng Tự Đức bắt đem thi hài về quê chôn tại Hiền Sĩ, xã Phong Sơn, huyện Phong Điền. Ban đầu mộ ông chỉ được đắp bằng một nắm đất nằm trên khu đồi cao với con sông Bồ uốn khúc ở dưới là tháp, đằng xa là dãy núi Trường Sơn trùng trùng điệp điệp, với một phong cảnh hùng vĩ nên thơ. Lăng được xây theo kiểu hình trứng ngỗng (hình tròn). Bề cao của lăng 0.7m với chất liệu là gạch vồ và xi măng. Hình thức kết cấu của lăng đơn giản như mọi cái lăng khác.

- Quyết định của Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin về việc công nhận di tích số 2307/QĐ ngày 30-12-1991.

Con Nít*
31-10-2010, 03:28 PM
Có ai biết di tích lịch sử - đình Bàn Môn!?

http://www.khamphahue.com.vn/upload/image/dulich/diemthamquan/diem%20tham%20quan%20khac/2009/7/200709dungmkl-2-9-9-2.jpg (http://www.khamphahue.com.vn/upload/image/dulich/diemthamquan/diem%20tham%20quan%20khac/2009/7/200709dungmkl-2-9-9-2.jpg)
Trầm mặc và hiu quạnh, đình Bàn Môn - một di tích cấp Quốc gia nhưng ít ai biết đến nó.

Đình Bàn Môn thuộc làng Bàn Môn, xã Lộc An, huyện Phú Lộc (TT.Huế), nằm cách QL1A khoảng 2km nhưng khó khăn lắm chúng tôi mới dò được đường vào.

http://www.hue.vnn.vn/dataimages/normal/images10474_DinhBanMon.jpg (http://www.hue.vnn.vn/dataimages/normal/images10474_DinhBanMon.jpg)

Là một di tích cấp Quốc gia do Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng theo quyết định số 168-QĐ/VH ngày 2-3-1990, tuy nhiên nếu du khách muốn tham quan thì phải “lần” theo tấm biển chỉ dẫn đặt ngay ngã 3 đầu làng. Ngoài ra, để tìm đúng lối về thì “đi đến đâu hỏi đến đó”, một người dân trong làng nói với chúng tôi như vậy.

Đình Bàn Môn được xây dựng vào đầu thế kỷ XIX với phong cách kiến trúc độc đáo, mang dấu ấn của văn hóa làng quê Việt. Đình được dùng vào việc thờ cúng các vị thân khai canh, để bà con trong làng sinh hoạt cộng đồng. Chính do vậy, ngôi đình trở thành một di sản văn hóa lâu đời có giá trị về mặt lịch sử, đình là biểu tượng tinh thần của người dân trong làng. Không những thế, đình Bàn Môn còn như một “nhân chứng” lịch sử chứng nhân biết bao thăng trầm trong lịch sử Đảng bộ Thừa Thiên Huế. Năm 1930, đình được chọn làm nơi thành lập chi bộ Đảng Cộng sản do đồng chí Lê Bá Dị làm Bí thư. Đây cũng là nơi bỏ phiếu bầu Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (6-1-1946).

Giá trị nhiều mặt là vậy, tuy nhiên ngôi đình ít được ai biết đến để trân trọng và gìn giữ. Ngay lối vào đình có tấm biển giới thiệu đã bị hoen gỉ, không rõ chữ. Thêm vào đó là cột đỡ đã bị gãy, được thế vào đó là cột... tre còn một bên “bám tạm” vào thân cây. Tuy có được sửa sang nhưng đó là kiểu tu sửa nửa vời, chính điện thì khang trang còn nhà tăng thì nhếch nhác, tồi tàn, nhiều thân cột rệu rạo. Nếu dạo một mình quanh đình chắc ít ai có đủ can đảm vì cái không khí ảm đạm, cô quạnh bao trùm.


Theo Báo QDND

Con Nít*
01-11-2010, 05:12 PM
Sông Hương

Sông Hương bắt nguồn từ dãy Trường Sơn hùng vĩ, hai nguồn Tả Trạch và Hữu Trạch hợp lưu nơi ngã ba Tuần (dân gian còn gọi Bảng Lảng). Từ đây sông Hương theo hướng Nam Bắc qua điện Hòn Chén, Ngọc Trản, chuyển Tây Bắc, uốn quanh bãi Nguyệt Biều, Lương Quán, xuôi về phía Ðông Bắc, lặng lẽ trôi về Huế trong dư vang của Trường Sơn, đi qua chốn yên giấc ngàn thu của các vua Nguyễn.

http://www.baothainguyen.org.vn/UserFiles/image/song%20huong.jpg (http://truongton.net/forum/vcheckvirus.php?url=http%3A%2F%2Fwww.baothainguyen.org.vn%2FUserFiles%2Fimage%2Fsong%2520huong.jpg)
Sông Hương


Dòng sông mềm như tấm lụa, sắc nước xanh thẳm, tiếp tục cuộc hành trình đi qua Cồn Hến và những làng quê yên ả, qua ngã ba Sình mảnh đất thủ phủ Châu Hóa xưa rồi đổ ra phá Tam Giang hòa vào lòng biển cả. Dòng sông trắng - Lá cây xanh, Sông Hương như "thanh kiếm bạc dựng giữa trời xanh".


http://farm1.static.flickr.com/213/469760527_b2a28b9e19.jpg

Hoàng hôn trên sông Hương


Biết bao tao nhân mặc khách lênh đênh trên quãng sông này với một "phiến trăng sầu" "Hương Giang nhất phiến nguyệt, Kim cổ hứa đa sầu..." Sông Hương quả là món quà vô giá mà thiên nhiên ban tặng cho Huế. Và nếu bỗng dưng Sông Hương biến mất, thành phố vẫn còn, thì có còn ai buồn nhắc đến Huế nữa không.

Con Nít*
02-11-2010, 11:57 AM
Đồi Vọng Cảnh


Đồi vọng cảnh Nằm ven sông Hương, chỉ cách lăng Tự Ðức và Ðồng khánh chừng 600m, cách trung tâm Thành phố khoảng 7km, không xinh đẹp và nổi tiếng như núi Ngự bình.


http://www.2nmart.com/admin/upload/doanhnghiep/54TC003Doi%20vong%20canh%201.jpg (http://www.2nmart.com/admin/upload/doanhnghiep/54TC003Doi%20vong%20canh%201.jpg)http://img.photo.zing.vn/file_uploads/gallery/w642h/2007/05/09/117868291711.JPG
Đồi Vọng Cảnh


Nhưng đúng như tên gọi, đứng trên đồi Vọng cảnh, du khách có thể bao quát bức tranh phong cảnh thiên nhiên bao la kỳ thú của xứ Huế.


http://www.hue.vnn.vn/dataimages/original/images145633_vongcanh.jpg (http://www.hue.vnn.vn/dataimages/original/images145633_vongcanh.jpg)
Hoàng hôn từ đồi Vọng Cảnh

Con Nít*
03-11-2010, 11:48 AM
Vườn Quốc gia Bạch Mã


Cách Cố Đô Huế 50km về phía nam, vườn quốc gia Bạch Mã với độ cao 1.450m so với mặt nước biển, sừng sững in bóng mình vào trời xanh. Đây là địa điểm du lịch khá lý thú để du khách có thể mang balô, sau bao ngày bộn bề công việc

http://i199.photobucket.com/albums/aa81/nvthieu/Picture030.jpg (http://i199.photobucket.com/albums/aa81/nvthieu/Picture030.jpg)
Núi Bạch Mã


Thời gian tốt nhất để du khách đến thưởng ngoạn Bạch Mã là mùa hạ và đầu thu. Không khí se se lạnh sẽ làm dịu dàng những bước chân để chúng ta chinh phục hết vẻ đẹp của những địa điểm như địa đạo, sân bay, Vọng hải đài, ngũ hồ, thác Đỗ Quyên...

http://www.go2vietnam.eu/images/Image/article/BM_summit.jpg (http://www.go2vietnam.eu/images/Image/article/BM_summit.jpg)
Một góc tại vườn quốc gia Bạch Mã


http://3.bp.blogspot.com/_SvrvbFHRZdA/SJ4jbnHkUWI/AAAAAAAABp0/KtEkXFJPz24/s400/bm+%2821%29.jpg (http://3.bp.blogspot.com/_SvrvbFHRZdA/SJ4jbnHkUWI/AAAAAAAABp0/KtEkXFJPz24/s400/bm+%2821%29.jpg)

http://dulichvietnam.asia/vn/images/aaaaaaaaaa.jpg (http://dulichvietnam.asia/vn/images/aaaaaaaaaa.jpg)
Thác Đỗ Quyên


Ở đây thắng cảnh và di tích hòa quyện vào nhau tạo cho Bạch Mã một địa điểm du lịch có nét duyên riêng. Chinh phục Bạch Mã, du khách có thể liên hệ các tour du lịch từ các tỉnh, hoặc ở dưới chân núi cách đỉnh 15km sẽ có xe của vườn đưa đón. Giá cả hợp túi tiền (đặc biệt, ở đây không được chinh phục Bạch Mã bằng môtô).

Đến với vườn quốc gia Bạch Mã, du khách sẽ thấy những thảm mây mang hình những chú ngựa trắng (nên gọi là Bạch Mã) luôn song hành cùng chúng ta, tạo nên một cảm giác như đang sống ở chốn tiên bồng. Thả bước dưới rừng nguyên sinh, tựa mình vào cội cây già, chúng ta như được sống trong vòng tay của người mẹ thiên nhiên.

Nhìn những cây cổ thụ, thân cây to đến 3-4 vòng tay ôm, chúng ta càng thấm thía hơn công lao của một đời người đời cây. Nơi đây có khách sạn, nhà hàng, quán bar nằm trên đỉnh núi, ngày xưa là biệt thự nghỉ mát của người Pháp và vua Bảo Đại, nay được xây dựng lại theo khuôn mẫu cũ rất khang trang. Đó là nơi nghỉ lưng tốt nhất để du khách yên tâm thong dong thu hết vẻ đẹp Bạch Mã vào lòng.

Tất cả mở ra khi chúng ta đặt chân đến Hải vọng đài. Thả mắt xuống khắp nơi, ta sẽ thấy “Đường vô xứ Huế quanh quanh/ Non xanh nước biếc như tranh họa đồ”. Một phá Tam Giang no tròn mùa hải sản. Hay hồ Truồi uy nghi bên Thiền viện Trúc Lâm - bầu sữa tươi mát cho vườn Truồi “mít ngọt dâu thơm”...

Vườn quốc gia Bạch Mã có rất nhiều cây gỗ quí hiếm được người Pháp đem qua trồng. Rừng núi nên đường đi có nhiều dốc võng, thế nhưng du khách không hề thấy mệt mỏi mà ngược lại trên môi luôn nở nụ cười. Bởi ở đây có hướng dẫn viên rất tài hoa biết “nói tiếng loài vật”. Anh có thể gọi sao la hoặc hơn mười loài chim về bên chúng ta. Mỗi loài một giọng hót khác nhau, đồng thanh hòa tấu lên những bản nhạc núi rừng líu lo trìu mến. Đêm đến, mọi du khách ở đây không phân biệt lạ quen, màu da, tiếng nói, chỉ biết là đang cùng chung sống dưới mái nhà nguyên sinh Bạch Mã. Và cứ thế họ cùng nhâm nhi trà, rượu, hát cho nhau nghe hoặc thả hồn lắng đọng trong màn đêm Bạch Mã.

Trước khi rời Bạch Mã, điểm cuối cùng mà mọi du khách không thể bỏ qua là thác Đỗ Quyên. Bởi đây là nguồn cảm xúc thăng hoa của du khách đối với Bạch Mã. Để được chiêm ngưỡng thác Đỗ Quyên trọn vẹn, du khách phải đi xuống 689 bậc đá. Thác Đỗ Quyên là dải lụa trắng, là món quà mà Bạch Mã sẽ quàng mãi trong trí nhớ của mọi người đến đây.

maiyeu1nguoi^^
03-11-2010, 02:43 PM
bài viết có ích lắm nhé
:D
mình thích Huế lắm :x
có cơ hội sẽ ra đó cho bit

Con Nít*
04-11-2010, 02:25 PM
Phong Điền - Điểm hẹn cho du lịch sinh thái

http://www.khamphahue.com.vn/upload/image/dulich/diemthamquan/sinhthaidangoai/2009/8/phongdien.jpg (http://www.khamphahue.com.vn/upload/image/dulich/diemthamquan/sinhthaidangoai/2009/8/phongdien.jpg)
Suối nước ở Khu BTTN Phong Điền. (Ảnh: Khu BTTN Phong Điền)

Nằm sâu ở vùng rừng phía Tây Thừa Thiên Huế, Khu bảo tồn thiên nhiên Phong Điền như một cô gái ngủ quên trong rừng, với vẻ đẹp hoang sơ và chất chứa nhiều giá trị tài nguyên sinh thái, môi trường cùng với những nét văn hóa đặc sắc của đồng bào dân tộc thiểu số nơi đây.

Được thành lập từ năm 2002, với diện tích 41.433ha, thuộc địa bàn hai huyện Phong Điền và A Lưới, giáp ranh với khu bảo tồn Đakrong (Quảng Trị), Phong Điền là một trong số những khu bảo tồn có tiềm năng phát triển du lịch sinh thái. Tuy nhiên, cũng không ít những thách thức sẽ đặt ra cho Phong Điến trong công tác quản lý, bảo tồn thiên nhiên nhiên nơi đây.

Phong Điền là nơi ẩn chứa bao nhiều điều kì thú,hấp dẫn du khách và các nhà nghiên cứu bởi sự phong phú và độc đáo của các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Khu bảo tồn thuộc vùng núi thấp miền Trung Việt Nam nằm ở phía đông bắc của bán đảo Đông Dương nên hệ sinh thái tự nhiên nơi đây chứa nhiều giá trị về đa dạng sinh học. Những phát hiện kỳ thú về các loài động, thực vật quý hiếm đã được ghi nhận tại đây.

Năm 1924, khi nhà tự nhiên học người Pháp – Cean dela Coul phát hiện ở vùng rừng phía Tây huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế một cặp gà lôi lam mào trắng và đưa về nuôi tại Pháp, từ đó về sau giới chuyên môn về chim trên thế giới cho rằng gà lôi lam mào trắng đã tuyệt chủng tại Việt Nam. Cho đến 72 năm sau, gà lôi lam mào trắng mới xuất hiện trở lại tại vùng rừng phía Tây huyện Phong Điền. Đây cũng là vùng duy nhất trên thế gới có gà lôi lam mào trắng sinh sống.

Nhiều loài chim quý khác cũng được phát hiện ở đây như gà so Trung bộ, gà so ngực gụ, trĩ sao... Từ những phát hiện mới trên cùng với công tác nghiên cứu vùng rừng đặc hữu, các nhà điểu học trên thế giới xác định đây là vùng chim quan trọng của thế giới. . Bên cạnh đó nhiều loài thú quý hiếm cũng liên tục được phát hiện tại khu bảo tồn này như: Sao la (Pseudoryx nghetinhensis), Mang lớn (Megamuntiacus vuquangensis), Hổ (Panthera tigris), Báo gấm (Pardofelis nebulosa), Gấu ngựa (Ursus thibetanus), Vượn đen má hung (Hylobates gabriellae),...

Trong số các loài thú ghi nhận được có hai loài lần đầu tiên ghi nhận cho khu vực Phong Điền là Sao la và Mang lớn. Hai loài này là hai loài thú lớn hiện tại chỉ được biết từ Việt Nam và Lào. Kết quả khảo sát đã ghi nhận tại đây có 44 loài Thú, trong 7 bộ và 20 họ trong tổng số loài thú có 19 loài được ghi trong sách đỏ (IUCN,1996) chiếm 43% và 16 loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam (Anon, 1992) chiếm 34%.

Thành phần loài bò sát - ếch nhái ở Phong Điền cũng phong phú so với toàn khu Bắc Trường Sơn. Kết quả khảo sát đã ghi nhận có 34 loài Bò sát và 19 loài ếch nhái. Trong đó, có 20 loài nằm trong sách đỏ của IUCN và Việt Nam.

Bên cạnh đó, các loài chim ở đây cũng khá đa dạng với 172 loài. Nhiều loài trong đó nằm trong danh sách bị đe dọa toàn cầu, với 3 loài đặc hữu cho Việt Nam.

Với thế mạnh về tài nguyên cùng với nhiều thắng cảnh tự nhiên và những nét văn hóa của đồng bào dân tooch thiểu số sống ở vùng đệm, Khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Phong Điền hoàn toàn có tiềm năng và lợi thế để phát triển du lịch sinh thái.

Tuy nhiên, trong thời gian qua, do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, việc khai thác du lịch ở đây chưa đúng mức. Vì vậy, để khai thác thành công du lịch sinh thái tại Khu BTTN Phong Điền cần ưu tiên cho việc phát triển đa dạng, có chất lượng các sản phẩm du lịch sinh thái và khai thác tối ưu các tài nguyên du lịch trong khu bảo tồn, đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường nhưng không nằm ngoài mục đích bảo tồn.

Thiên nhiên đã ưu đãi cho Phong Điền những vẻ đẹp kì thú, những loài động thực vật đa dạng, và nhiều nét văn hóa của cộng đồng dân tộc. Đó là những thế mạnh để phát triển du lịch sinh thái.Nếu được quan tâm, quản lý đúng mức thì Phong Điền sẽ là điểm hứa hẹn khám phá nhiều điều kì thú đối với du khách qua đó sẽ nâng cao chất lượng sống của người dân trong vùng đồng thời bảo tồn được tính đa dạng sinh học của khu vực Trung Trường sơn nói chung và Khu BTTN Phong Điền nói riêng.


Theo Báo Thanh Niên

tranthucuyen
04-11-2010, 05:40 PM
mình rất thích huế...nếu có dịp sẽ ra chơi

Con Nít*
05-11-2010, 10:12 AM
Lầu Tàng Thơ


http://www.khamphahue.com.vn/upload/dvdulich/diemtq/dtq/lau%20tang%20tho.jpg (http://www.khamphahue.com.vn/upload/dvdulich/diemtq/dtq/lau%20tang%20tho.jpg)
Lầu Tàng Thơ

Lầu tàng thơ là một trong những kho lưu trữ tài liệu mang tính quốc gia của triều đình Nguyễn tại Huế. Theo sách Ðại Nam Thực Lục và Ðại Nam Nhất Thống Chí cho biết, Lầu Tàng Thơ được xây dựng vào mùa hè năm 1825.

Toà nhà được xây dựng bằng gạch, đá, tầng dưới 11 gian, tầng trên 7 gian , 2 chái trên hòn đảo hình chữ nhật giữa hồ Học Hải, cạnh hồ Tịnh Tâm. Ðảo nằm giữa hồ nước chỉ nối với đất liền bằng một chiếc cầu đá. Không gian thoáng đãng và đẹp đẽ.

Lầu Tàng Thơ gồm có 2 tầng , tầng dưới 11 gian, tầng trên 7 gian 2 chái, mặt trước quay về hướng tây đối diện với hồ Tỉnh Tâm , bên trái là Mang Cá , bên phải hướng ra cửa Thượng Tứ còn gọi là cửa Chính Đông , sau lưng là Lương Y , nó tọa lạc cách biệt trên một đảo nhỏ hình chử nhật với diện tích khoảng non 5 sào nằm giữa ao Ngọc Hải , chung quanh có tường gạch bao bọc cao 2m , chính diện có một cổng tam quan đi vào nối liền với một con đường lát gạch dài khoảng 50m , bên trái của Lầu Tàng Thơ có một đảo nhỏ khác , trên đó có một kiến trúc khác nối liền bởi một cây cầu gổ , nay thì kiến trúc này bị phá hủy người ta đã xây lên đó một ngôi chùa vảo khoảng thâp niên 1960.

Ðể xây dựng công trình này, triều đình Huế đã điều 1000 binh lính, giao cho Thượng thống chế Ðoàn Ðức Nhuận điều khiển công việc thi công. Sau khi xây dựng xong, nhà vua đã lệnh cho các quan chuyên trách kiểm kê, lựa sổ sách, chọn ngày lành, chuyển đến tầng trên của toà nhà tàng trữ tại đây...

Theo tài liệu thời Nguyễn thì tất cả sổ sách của 6 bộ và các nha tại kinh đô sau mỗi năm đưa đến đây để lưu giữ. Sổ sách của bộ Hộ, chỉ riêng sổ điền bạ thời Gia Long và Minh Mạng ở đây đã lưu giữ được 12.000 tập. Ðây quả là kho tư liệu quý giá, giống như cục lưu trữ.

Theo di tích lịch sử - văn hoá và danh thắng Huế

Con Nít*
06-11-2010, 03:12 PM
Làng rèn Hiền lương

http://www.khamphahue.com.vn/upload/image/dulich/diemthamquan/diemthamquankhac/65968227_hgjtibmv_ren.jpg (http://www.khamphahue.com.vn/upload/image/dulich/diemthamquan/diemthamquankhac/65968227_hgjtibmv_ren.jpg)

Hiền Lương là một làng cổ hình thành từ giữa thế kỷ XV, dưới thời Hậu Lê, nay thuộc xã Phong Hiền, huyện Phong Điền, ở bờ Bắc trung lưu sông Bồ. Nơi đây dân làng vốn thành thạo nghề rèn truyền thống, một nghề quan trọng chuyên sản xuất các loại nông cụ rèn từ sắt như cày, cuốc, liễn, hái, dao, rựa, phăng, mỏ xay…

Ngược về quá khứ, ngoài nghề rèn nông cụ, vào cuối thời chúa Nguyễn bước qua thời Tây Sơn và triều Nguyễn, với tay nghề rèn khéo léo, các dân đinh làng thường được tuyển mộ, trưng tập vào Dã Tượng cuộc (một tổ chức thợ rèn nhà nước chuyên chế tác vũ khí, vật dụng của phủ chúa, vương triều). Một số người xuất sắc đã trở thành những vị quan quản lý, đốc công ở tổ chức này hay ở sở vũ khố của bộ Công (sở sản xuất binh khí và vật dụng) như các ông Hoàng Văn Gia, Hoàng Văn Cẩn, Hoàng Văn Lịch. Đặc biệt ông Hoàng Văn Lịch, giữ chức Đốc công sở vũ khí tại Kinh thành Huế, vào năm 1838 đã tổ chức đóng thành công chiếc tàu thủy với cỗ máy hơi nước tái tạo từ bộ máy và chiếc tàu thủymua của Tây phương đã bị hỏng. Hai năm sau, lại đóng thành công 2 chiếc tàu thủy lớn hơn, được vua Minh Mạng ban thưởng. Điều đó khẳng định tay nghề xuất sắc của các hiệp thợ rèn Hiền Lương, và hướng phát triển mới của nghề này.

Do nhu cầu phát triển nghề nghiệp, cư dân làng tỏa đi sinh sống, làm nghề khắp các làng xã ở Thừa Thiên Huế, và đặc biệt là khắp các thị xã, thị trấn từ Quảng Trị vào Nam. Một số ít vẫn giữ nghề rèn nông cụ, và đa số đã mở rộng, chuyển đổi nghề nghiệp thích ứng với nhu cầu mới của xã hội, như các nghề cơ khí, sửa chữa ô tô, nghề kim khí như làm đinh, khóa, lề, làm cửa sắt, cửa nhôm…Ngay tại Huế, cư dân làng còn tập trung thành một xóm nghề rèn, nghề sắt tại làng Bao Vinh, xã Hương Vinh.

Dẫu lập nghiệp nơi đâu, hằng năm vào ngày 18 tháng 2 âm lịch, dân nghề rèn Hiền Lương vẫn trở về, nô nức tập trung làm lễ tế tổ sư và tiên sư của nghề tại làng cũ

Theo Báo Cinet

Con Nít*
07-11-2010, 04:59 PM
Chùa Huyền Không Sơn Thượng bên đồi suối chảy thông reo

http://www.khamphahue.com.vn/upload/dvdulich/diemtq/chua/huyen%20ko.jpgMột chiều đẹp trời, từ bờ nam của đất cố đô, bạn vòng qua cầu Tràng Tiền, dọc theo con đường rợp bóng phượng vĩ ngược lên vùng ngoại ô Kim Long, đi ngang chùa Thiên Mụ rồi vòng qua ngôi làng bình dị với thông reo vi vu, theo con đường đất gập ghềnh sẽ dẫn đến núi Chằm, nơi có ngôi chùa nhỏ nằm ở lưng chừng núi với vẻ đẹp kỳ lạ, huyền ảo - đó là chùa Huyền Không Sơn Thượng.

Con đường lên chùa Huyền Không Sơn Thượng cách đây vài năm vẫn còn hiu quạnh, nhưng rừng đi mãi cũng thành đường dẫu còn gập ghềnh trắc trở. Dưới chân núi cao 309m so với mực nước biển, là cả một rừng thông hàng vạn cây nên gọi là vạn tùng sơn. Đây là một vùng rừng gần 56 hécta do Nhà nước giao cho nhà chùa từ năm 1989. Trung tâm sơn lũng mở ra tả thanh long là một triền đồi thoai thoải, hữu bạch hổ là một dãy núi cao liền với khối núi mẹ cây cối mọc um tùm. Hướng tây nam có một mỏm núi với cây cổ thụ mọc cheo leo trên đá gọi là độc thụ sơn. Lên thăm Huyền Không Sơn Thượng nơi lưng chừng non xanh chưa phải là xa cố đô nhưng vẻ đẹp hoang sơ của ngôi chùa đã níu chân nhiều du khách mỗi lần ghé Huế. Từ cổng chùa bạn đã bị thu hút bởi một tảng đá lớn trên đó khắc những dòng thư pháp bay bổng. Bước vào khuôn viên, du khách có cảm giác như lạc vào chốn bồng lai. Không gian thiên nhiên được bàn tay con người chăm chút, tạo dáng nên ẩn trong sự hoang dã là nét tinh tế của kiến trúc sân vườn Huế. Nhiều loài hoa và thảo mộc quý được đưa về trồng trong vườn chùa tỏa hương thơm phảng phất xa gần. Những giò phong lan treo lủng lẳng, những cội mai già, những gốc tùng, bách bên thảm cỏ rêu phong khoe vẻ đẹp tao nhã. Dưới gốc cây cổ thụ là bức tượng đá mang dáng vẻ ưu tư của thiền sư trong bóng núi mây ngàn. Những am cốc ẩn cư nằm rải rác sâu trong rừng thông hay quanh quẩn bên sườn núi tạo ra một quần thể kiến trúc tuyệt đẹp. Phật điện bằng gỗ thanh thoát, mộc mạc trên nền xanh hùng vĩ của núi rừng, tuy khiêm nhường về tầm vóc song lại gần gũi với nhân gian, tạo nét thanh thoát giữa chốn hồng trần.

http://www.khamphahue.com.vn/Upload/small_P9200013_KhamphaHue_boho.JPG (http://www.khamphahue.com.vn/Upload/small_P9200013_KhamphaHue_boho.JPG)

http://www.khamphahue.com.vn/Upload/small_DSC05230_KhamphaHue_hohoasung.JPG (http://www.khamphahue.com.vn/Upload/small_DSC05230_KhamphaHue_hohoasung.JPG)

http://www.khamphahue.com.vn/Upload/small_DSC05289KhamphaHue_hoalan.JPG (http://www.khamphahue.com.vn/Upload/small_DSC05289KhamphaHue_hoalan.JPG)


Du khách đến chùa Huyền Không Sơn Thượng là được thưởng thức những bài thơ tuyệt tác. Với nét thư pháp bay bổng tài hoa, những bài thơ được các nhà sư sáng tác, thơ của bằng hữu xướng họa hay của du khách tức cảnh sinh tình khi ghé thăm được chép trang trọng bằng mực tàu giấy trắng treo trên vách các am cốc. Thả bước trên thảm lá mục theo thời gian, lắng nghe trong không gian hương thơm trinh bạch của đóa sen, tiếng gió vi vu qua rừng thông như tiếng đàn tranh vọng lại từ xa xưa là những gì mà du khách được thưởng thức khi đến thăm chùa Huyền Không Sơn Thượng. Ở đây, giữa đất trời bao la, con người như được trải lòng mình ra với thiên nhiên phiêu bồng và sống thật với mình nhất.

Theo Công An Thành Phố Hồ Chí Minh

Con Nít*
08-11-2010, 10:27 AM
Bảo tàng và hệ thống di tích của Bác Hồ ở Huế - Điểm đến lí tưởng của du lịch Văn hóa lịch sử

http://www.khamphahue.com.vn/upload/image/dulich/diemthamquan/diemthamquankhac/dthcm_batanghcm.jpgNgoài những danh làm thắng cảnh, quần thể Cố đô Huế là di sản văn hoá Thế giới thì di tích lịch sử, văn hoá và hệ thống di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh ở nơi đây là địa chỉ tìm đến của không ít du khách một lần đến Huế.

Có thể nói di sản văn hoá vật thể và phi vật thể ở Thừa Thiên Huế đang là thế mạnh, tạo đà cho sự phát triển kinh tế tỉnh nhà. Ngoài những danh làm thắng cảnh, quần thể Cố đô Huế là di sản văn hoá Thế giới thì di tích lịch sử, văn hoá và hệ thống di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh ở nơi đây là địa chỉ tìm đến của không ít du khách một lần đến Huế.
Hoà chung vào không khí của cuộc vận động " Học tập và làm theo tấm gương đạo đức HCM" mà toàn Đảng và toàn dân ta đang tích cực thực hiện. Các bảo tàng, di tích lưu niệm chủ tịch Hồ Chí Minh trong cả nước nói chung và TTHuế nói riêng đã phát huy tính chủ động, sáng tạo, tổ chức nghiên cứu , tuyên truỳên, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh bằng những hình thức sinh động, phong phú, thu được những kết quả thiết thực trong các hoạt động như hướng dẫn khách tham quan, đổi mới cách trưng bày, sưu tầm hiện vật và các loại tài liệu quý khác ...
Mỗi một hiện vật, tài liệu về cuộc đời và sự nghiệp của Bác là một tài sản quý của nhân dân Việt nam bởi chủ tịch Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ vĩ đại của nhân Việt nam. Di sản văn hoá mà người để lại cần được lưu giữ và bảo tồn dưới nhiều hình thức khác nhau để nhân dân trong nước và bạn bè gần xa trên thế giới có thể đến tham quan và chiêm ngưỡng.

Tại bảo tàng Hồ Chí Minh nhiều du khách cảm thấy xúc động trước tình thương bao la ấy của Bác khi nghe kể về chiếc radio mà Bác vẫn dùng hàng ngày nhưng đã dành tặng lại cho bà Kanlich người dân tộc A lưói khi Bà ra Hà nôị dự lễ báo công với Bác trong phong trào Diệt Mỹ, chiếc áo bông bác đã gửi tặng công an TThuế vì đã lập thành tích xuất sắc trong năm 1949, rồi những vật dụng Bác được tặng hay chính phủ trang cấp đều được Người gìn giữ cẩn thận để tặng thưởng cho đồng bào chiến sĩ vì Bác nghĩ rằng chính họ đã làm nên thành công trong mỗi chíen thắng của dân tộc, là nền tảng của cách mạng. Tất cả những hiện vật và tư liệu về cuộc đời và nhân cách của Bác đã làm xúc động du khách đến tham quan , đặc biệt là các bạn trẻ.
Thực tế trong những năm qua cho thấy lượng khách đến Huế tham quan ngày một tăng, trong đó bảo tàng và di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh thu hút ngày càng đông lượng khách đến tham quan nghiên cứu, học tập. Tuy nhiên, nếu so với số lượng khách của các Tour du lịch đến Huế thì lượng khách đến Bảo tàng và di tích Bác Hồ còn quá khiêm tốn, vài năm trở lại đây chỉ dừng lại con số 65.000 đến 68.000 lượt khách trong năm. Trong khi đó lượng khách đến các lăng tẩm, các địa điểm thuộc quần thể di tích Cố đô Huế lên tới trên dưới 1.600.000 người lượt/năm. Vì vậy, cần tìm ra những giải pháp tích cực để phát huy mạnh mẽ giá trị của di tích là làm sao bảo tàng và các di tích của Bác thực sự trở thành những điểm tham quan hấp dẫn của nhiều du khách trong nước và quốc tế, đó là điều trăn trở hiện nay của những người trực tiếp quản lí các di tích của Bác Hồ ở Thừa Thiên Huế.
Với những định hướng như vậy chắc chắn trong thời gian đến công tác giáo dục, tuyên truyền, giới thiệu về tư tưởng Hồ Chí Minh thông qua hệ thống bảo tàng và các di tích của chủ tịch HCM ở TTHuế - nơi Bác đã có nhiều năm gắn bó và có tình cảm sâu nặng sẽ được đẩy mạnh và có những kết quả tích cực để đây sẽ là điểm dừng chân đầy ý nghĩa của người dân và du khách mỗi lần đến thăm Huế.


Theo TRT

Con Nít*
09-11-2010, 12:11 PM
Nam Châu hội quán và 7 ngôi nhà vườn - Huế

http://www.khamphahue.com.vn/upload/dvdulich/diemtq/nv/nha%20vuon.jpgKhu ẩm thực văn hoá Kim Long sẽ khôi phục lại ý nghĩa và hình ảnh của Nam Châu hội quán xưa, nơi gặp gỡ và vui chơi giải trí của các quan lại phía nam xưa trước lúc vào triều. Cùng với 7 ngôi nhà vườn ở Kim Long, đây sẽ là một tour du lịch trọng điểm, nhằm giới thiệu nghệ thuật ẩm thực và văn hoá nghệ thuật Huế.


Khu văn hoá ẩm thực Kim Long

Với diện tích hơn 8000m2 ở số 7 Vạn Xuân, Huế, khu ẩm thực văn hoá Kim Long được Cty du lịch Huế đầu tư với tổng số vốn giai đoạn 1 hơn 2,5 tỉ đồng. Theo chị Lê Thị Nhân - Giám đốc Cty du lịch Huế, Cty xây dựng khoảng 3-4 ngôi nhà rường cổ, khu văn hoá trung tâm, khu ẩm thực dân dã và nhiều cảnh quan, vườn cây ăn quả. Về ẩm thực, du khách sẽ được thưởng thức ẩm thực lễ hội, ẩm thực cung đình, ẩm thực dân dã và các món ăn của Huế xưa. Sau phần ẩm thực, du khách được thưởng thức các hoạt động văn hoá, nghệ thuật của cung đình, văn nghệ truyền thống và văn hoá dân gian. Ở đây còn là nơi giới thiệu và bán các mặt hàng như thêu, may, dệt, chằm nón... do các phụ nữ trực tiếp sản xuất tại chỗ.

Với mục đích xã hội hoá du lịch từng bước và khai thác tiềm năng du lịch cộng đồng, dịp này, Cty du lịch Huế sẽ phối hợp với CLB Nữ công gia chánh, Hội Phụ nữ phường Kim Long (thuộc Thành hội Phụ nữ Huế) sẽ làm sống lại nghệ thuật ẩm thực và văn hoá truyền thống của Huế bằng những sản phẩm đạt chất lượng cao. Dự kiến mở đầu cho hoạt động của của khu ẩm thực văn hoá Kim Long sẽ là Hội chợ ẩm thực khéo tay tổ chức trong dịp khai mạc lễ hội.

7 ngôi nhà vườn

Khu ẩm thực văn hoá Kim Long chỉ là một mắt xích khá quan trọng trong tour du lịch nhà vườn mà Cty du lịch Huế chuẩn bị đưa vào khai thác. Thực tế, đưa nhà vườn Huế vào khai thác du lịch là việc làm không phải mới. Năm 2000, tỉnh TT-Huế đã đưa tour nhà vườn đầu tiên gồm 4 nhà như vườn An Hiên, Lạc Tịnh Viên, Ngọc Sơn Công chúa từ... vào khai thác rất thành công. Nhưng nhược điểm của tour này là các nhà vườn nằm rải rác rất xa nhau. Lợi thế lần này là các ngôi nhà vườn ở Kim Long đều nằm sát nhau trong một quần thể, có kiến trúc cổ điển hình của Huế và những vườn cây, cảnh quan rất đẹp. Đáng chú ý là ngôi nhà rường trên 150 năm tuổi của ông Nguyễn Ngọc Trình do tú tài Nguyễn Lương Chánh xây dựng - một trong rất ít nhà ở Huế còn lại hai câu đối được sơn thếp bằng vàng thật và một án thờ nội phủ có hình rồng năm móng. Có một thuận lợi bước đầu là chủ nhân những ngôi nhà vườn nói trên rất đồng tình ủng hộ, họ sẽ tham gia vào việc biểu diễn thư pháp, tổ chức các câu lạc bộ thơ, ca Huế, câu cá... Để hỗ trợ, bước đầu, phường Kim Long sẽ đứng ra tín chấp, thành phố hỗ trợ lãi vay cho các hộ vay vốn để chỉnh trang nhà cửa, vườn tược... theo yêu cầu của tour du lịch. Theo chị Lê Thị Nhân, sắp tới, tour này sẽ được hoàn chỉnh hơn bằng việc Cty du lịch Huế cho khơi thông sông Lấp - một nhánh của sông Hương rẽ vào Kim Long - đã bị bồi lấp từ nhiều năm nay. Và như thế, du khách muốn tham quan nhà vườn Kim Long có thể đi bằng đường bộ và đường sông tuỳ theo sở thích.

Theo Báo Du Lịch

co0lguy92
10-11-2010, 01:43 AM
Huế đẹp và mộng mơ. Cùng vs đó là n~ danh lam, thắng cảnh đẹp nổi tiếng trong và ngoài nước. Hy vọng 1 ngày nào đó, đc đến Huế vs t/y :x

Con Nít*
10-11-2010, 02:59 PM
Chùa Báo Quốc

http://www.khamphahue.com.vn/upload/dvdulich/diemtq/chua/055%20cbqhue.jpg (http://www.khamphahue.com.vn/upload/dvdulich/diemtq/chua/055%20cbqhue.jpg)

Chùa tọa lạc trên đồi Hàm Long, kiệt 1, đường Báo Quốc, phường Phường Đúc, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Điện thoại: 054.3822287.


Chùa Báo Quốc ban đầu có tên là Hàm Long Sơn Thiên Thọ Tự, do Thiền sư Giác Phong dựng vào cuối thế kỷ XVII, đời chúa Nguyễn Phúc Tần, nơi ngài Liễu Quán đến học đạo và ở lại trong 11 năm. Tổ Giác Phong viên tịch năm 1714.

Đến năm 1747, Võ vương Nguyễn Phúc Khoát cho trùng tu chùa và ban cho chùa tấm biển chữ Hán “Sắc Tứ Báo Quốc Tự”, bên trái có ghi hàng chữ Quốc Vương Từ Tế đạo nhân ngự đề, bên phải có dòng lạc khoản Cảnh Hưng bát niên hạ ngũ nguyệt cát nhật.

Vào thời Nguyễn, chùa đã được trùng tu nhiều lần. Năm 1808, Hoàng hậu Hiếu Khương cho tái thiết ngôi chùa, xây tam quan, đúc đại hồng chung (nặng 836 cân), bảo khánh... và đổi tên là chùa Thiên Thọ. Thiền sư Phổ Tịnh được cử làm trụ trì trong thời gian này.

Năm 1824, Vua Minh Mạng ngự thăm chùa và sắc lấy tên “Báo Quốc Tự”. Nhà vua đã tổ chức đại giới đàn tại chùa nhân lễ tứ tuần khánh thọ vào năm 1830.

Đến năm 1858, do chùa bị hư hỏng nhiều, Vua Tự Đức và Hoàng Thái hậu Từ Dũ đã ban tiền trùng tu ngôi chánh điện và các công trình khác. Chùa đã được liên tiếp trùng tu, mở rộng đến thế kỷ XIX.

Trong phong trào chấn hưng Phật giáo, vào những năm 1930, chùa đã có nhiều đóng góp về mặt đào tạo tăng tài cho Phật giáo. Năm 1935, Trường sơ đẳng Phật học được mở tại chùa. Đến năm 1940, Trường cao đẳng Phật học cũng lại được mở tại đây. Chùa trở thành một trung tâm đào tạo Tăng Ni cho đến ngày nay.

Năm 1957, Giáo hội Tăng gia Thừa Thiên và Ban Quản trị chùa đã tổ chức đại trùng tu ngôi chùa. Hòa thượng Thích Trí Thủ, vừa là Giám đốc Phật học đường, vừa là trụ trì chùa, đã có những đóng góp to lớn cho Phật giáo nói chung và cho việc tái thiết ngôi tổ đình trang nghiêm với nét kiến trúc cổ kính nói riêng.

Chùa là ngôi cổ tự nổi tiếng ở Huế xưa nay.

(theo tư liệu của ông Võ Văn Tường cung cấp)

Con Nít*
11-11-2010, 02:20 PM
Điện Voi Ré

http://www.khamphahue.com.vn/upload/dvdulich/diemtq/dtq/dien%20voi%20re%202.jpgĐịa chỉ: Thôn Trường Đá - xã Thủy Biều - Tp Huế
Nằm cách trung tâm thành phố Huế khoảng 5 km về phía Tây-Nam, trên địa phận thôn Trường Đá thuộc xã Thủy Biều, điện Voi Ré vừa là chứng tích một thời của đội Kinh tượng nhà Nguyễn, vừa là một di tích độc đáo thuộc quần thể di tích cố đô Huế.

Theo truyền thuyết, dưới thời Trịnh - Nguyễn phân tranh, trong một trận giao tranh với quân đội Đàng Ngoài, một dũng tướng của Đàng Trong hy sinh giữa trận tiền. Đau buồn trước cái chết của chủ, con voi của vị dũng tướng đã chạy trên một quãng đường dài hằng trăm dặm từ chiến địa về tận thủ phủ Phú Xuân, đến địa điểm phía đông của đồi Thọ Cương, nó đã rống lên một tiếng vang trời như phẫn uất, như đau thương cùng cực rồi phủ xuống trút hơi thở cuối cùng. Cảm động trước sự trung thành của một con vật có nghĩa, dân địa phương đã làm lễ an táng, xây mộ cho nó, nguời ta vẫn gọi một cách mộc mạc là mộ Voi Ré. Sau khi lên ngôi, vua Gia Long đã cho xây dựng bên cạnh mộ con voi một ngôi điện thờ với tên gọi là Long Châu Miếu để thờ các vị thần bảo vệ và miếu thờ bốn con voi dũng cảm nhất trong chiến trận của triều Nguyễn. Từ truyền thuyết và sự kiện lịch sử như vậy, dân gian quen gọi ngôi miếu này là điện Voi Ré.

Điện Voi Ré tọa lạc trên một khu đất rộng, diện tích chừng 2.000m2, nằm về phía Đông-Nam đồi Thọ Cương. Cũng theo những nguyên tắc chung về thuật phong thủy của Đông phương, người ta vận dụng Thành Lồi (thành cũ của người Chàm) có sẵn để làm bình phong che chắn cho ngôi điện; tiếp đến là hồ Điện tạo nên yếu tố thủy (minh đường) và tăng thêm giá trị mỹ học cho công trình. Với diện tích khoảng 1.000m², độ sâu chừng 3m, hai bên không kè đá, mặt hồ từng tràn ngập những đóa sen thơm ngát. Tương truyền các Quản tượng ngày xưa thường đưa voi đến uống nước ở chiếc hồ này trước mỗi trận đấu giữa voi và cọp tổ chức tại Hổ Quyền. Đây là một hành động mang tính lễ nghi và tâm linh, có thể người ta nghĩ rằng làm như vậy khiến những con voi sẽ tăng thêm dũng khí và sự may mắn sẽ đến với chúng trong trận quyết đấu.

Theo Trung tâm bảo tồn di tích Cố Đô Huế

Con Nít*
12-11-2010, 11:31 AM
Phu Văn Lâu


http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/a/a6/Phu_van_lau.jpg (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/a/a6/Phu_van_lau.jpg)
Phu Văn Lâu


Phu Văn Lâu được xây dựng vào năm 1819 dưới thời vua Gia Long, dùng làm nơi niêm yết những chỉ dụ quan trọng của nhà vua và triều đình hoặc kết quả các kỳ thi do triều đình tổ chức.

Năm 1829, vua Minh Mạng dùng nơi đây làm địa điểm tổ chức cuộc đấu giữa voi và hổ. Năm 1830 ông lại tổ chức cuộc vui chơi, yến tiệc suốt 3 ngày để mừng sinh nhật của mình.

Phu Văn Lâu là ngôi nhà hai tầng duyên dáng, quay mặt về hướng Nam. Dưới thời vua Thiệu Trị, triều đình cho dựng ở hai bên hai tấm bia đá khắc 4 chữ "khuynh cái hạ mã", nghĩa là bắt buộc ai đi qua đều phải cởi mũ và xuống đi bộ.

Phía trước mặt Phu Văn Lâu có một ngôi nhà thuỷ tạ nằm kế bên sông Hương tên là Nghinh Lương Ðình. Ðây là nơi dùng để các vua tắm sông, hóng gió, ngắm cảnh.

Theo nhohue.net

Con Nít*
15-11-2010, 02:42 PM
Duyệt Thị Đường

http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/6/6b/Duy%E1%BB%87t_Th%E1%BB%8B_%C4%90%C6%B0%E1%BB%9Dng.JPG (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/6/6b/Duy%E1%BB%87t_Th%E1%BB%8B_%C4%90%C6%B0%E1%BB%9Dng.JPG)

Duyệt Thị Đường (Duyệt : xem xét để phân biệt điều phải trái; Thị : xem; Đường: ngôi nhà) là một nhà hát dành cho vua, hoàng thân quốc thích, các quan đại thần và là nơi biễu diễn các vở tuồng dành cho quan khách, sứ thần thưởng thức. Tuồng biễu diễn trong Duyệt Thị Đường là các vở tuồng cung đình. Đây được xem là nhà hát cổ nhất của ngành sân khấu Việt Nam.

Quá trình xây dựng : Duyệt Thị Đường được xây dựng vào năm Minh Mạng thứ 7 (năm 1826) nằm bên trong Tử Cấm Thành

Miêu tả :

Duyệt Thị Đường có tổng diện tích 11.740 m². Diện tích xây dựng nhà hát 1.182 m². Toàn bộ khuôn viên nhà hát trước đây được dùng để trồng các loại cây thuốc Nam quí hiếm. Bên hữu nhà hát là Ngự y viện, nơi để sao chế thuốc chữa bệnh cho nhà vua và hoàng gia. Bên tả là sở Thượng Thiện, nơi dùng để chế biến các món ăn phục vụ nhà Vua. Tất cả đều được ngăn với nhà hát bằng bức tường.

Nhà hát hình chữ nhật rộng rãi với bộ mái có những bờ quyết cong giống như những đình chùa ở Huế, được chống đỡ bởi hai hàng cột lim sơn son có chiều cao 12 m, vẽ rồng ẩn mây cuốn chung quanh chia làm 2 tầng. Ở lưng chừng mỗi cột treo thêm một bức tranh sơn thuỷ vẽ cảnh Huế với khung chạm rồng nổi thiếp vàng. Trên cao hơn, mặt trời, mặt trăng, tinh tú tượng trưng cho vũ trụ được vẽ hoặc chạm nổi lên trần nhà màu xanh lơ. Tòa nhà nối liền với các cung điện của nhà vua và các bà hoàng bằng một dãy hành lang có mái khúc khuỷu, quanh co.

Sân khấu chính làm nơi biễu diễn ở giữa nhà hát, vị trí tốt nhất dành cho vua ngồi là ở vị trí lầu hai, phía trước hai bên vòm có treo hai câu đối bằng chữ Hán của vua Minh Mạng:

Âm nhạc tinh trần hòa kỳ tâm dĩ dưỡng kỳ chí
Nghiên xuy tề hiến thủ kỳ thị nhi giới kỳ phi

Dịch nghĩa:

Âm nhạc cùng phô bày, hoà lòng người để nuôi dưỡng chí khí
Thiện ác đồng trình diện, khiến giữ được cái tốt (cái đúng) mà giới hạn cái xấu (cái sai).

Sân khấu có ba mặt. Phần bức tường ở cuối sân khấu trổ hai cửa. Các diễn viên vào ở phía phải và ra ở phía trái. Phía sau bức tường là một phòng rộng đựng tủ kệ để chứa các bản tuồng, hia, mão và đạo cụ biểu diễn. Ở vị trí cao nhất trong phòng là một khám thờ hai ông làng tổ sư của nghề hát bội. Phòng này lại trổ cửa hướng ra sân ở mé đông Tử Cấm Thành (các nghệ nhân ra vào bằng lối này). Ðối xứng với bức tường qua sân khấu là một đài cao chia ra làm hai bậc. Bậc cao nhất nằm sát tường phía tây dành cho các bà hoàng và cung tần mỹ nữ. Bậc thấp đặt ngự tọa, nơi nhà vua ngồi xem hát. Hai bậc này được ngăn bởi một lớp sáo trúc thưa làm cho người ngồi bên trong nhìn rõ được người bên ngoài, nhưng người xem ở bên ngoài không thấy mặt người đẹp trong cung cấm. Hai bên chỗ tả và bên hữu của chỗ vua ngồi là dành cho quốc khách, các quan của triều đình ngồi hai bên .

http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/0/0e/S%C3%A2n_kh%E1%BA%A5u_ch%C3%ADnh_c%E1%BB%A7a_Duy%E1%BB%87t_Th%E1%BB%8B_%C4%90%C6%B0%E1%BB%9Dng.JPG (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/0/0e/S%C3%A2n_kh%E1%BA%A5u_ch%C3%ADnh_c%E1%BB%A7a_Duy%E1%BB%87t_Th%E1%BB%8B_%C4%90%C6%B0%E1%BB%9Dng.JPG)
Sân khấu chính của Duyệt Thị Đường

Tình trạng :

Duyệt Thị Đường được tu bổ nhiều lần dưới thời các vua Nguyễn. Năm 1962, khi chính quyền Sài Gòn cải tạo, sửa chữa Duyệt Thị Đường để làm cơ sở giảng dạy của Trường Quốc gia âm nhạc Huế, các công trình chung quanh bị triệt hạ để xây chỗ ở cho giáo viên và sinh viên, cấu trúc của nhà hát bị thay đổi không còn như cũ. Trải bao năm chiến tranh, thiên tai và cả sự vô ý thức của con người, Duyệt Thị Đường bị xuống cấp nghiêm trọng. Từ năm 1995 đến năm 2002, nhà hát được trùng tu, phục chế hoàn chỉnh lần cuối, và chính thức đi vào hoạt động thường xuyên từ tháng 3/2003. Phần ghế của quan khách và phần ghế dành cho các quan xưa kia nay được sữa chữa lại để phục vụ khách du lịch .

Từ năm 2004, Duyệt Thị Đường được trung tâm bảo tàng di tích cố đô Huế khôi phục và đưa vào hoạt động phục vụ khách du lịch với thể lại nhã nhạc cung đình Huế khá thu hút du lịch. Nhà hát đã sưu tầm và khôi phục 8 trong số 11 điệu múa cổ, 40 bài nhã nhạc và nhiều trích đoạn tuồng cổ, trong đó có nhiều tiết mục được dàn dựng công phu như Trống Thái Bình, Tam luân cửu chuyển (đại nhạc), Phú lục địch, Kim tiền (Tiểu nhạc), Vũ phiến, Lục cúng hoa đăng và các trích đoạn tuồng Kỷ Lan Anh, Ôn Đình chém Tá , Lục cúng hoa đăng, Nữ tướng xuất quân, Lân mẫu xuất Lân nhi... các trích đoạn Tuồng Cung đình tiêu biểu trong vở Sơn Hậu, Tam Nữ Đồ Vương ,.. ,.. Nhà hát cũng đã sáng tạo, dàn dựng hàng chục tác phẩm mới trên chất liệu cổ, phù hợp với thị hiếu người xem, trong đó có vở "Người khởi nghiệp đàng trong" được công chúng đánh giá cao.
● Giờ biễu diễn trong nhà hát Duyệt Thị Đường :Sáng:
Xuất 1: 9h00 - 9h45
Xuất 2: 10h00 - 10h45
Chiều:
Xuất 1: 14h30 - 15h15
Xuất 2: 15h30 - 16h15
● Giá vé :Từ 2- 20 khách xem trong 50- 60 phút giá 6.000.000 đồng
Từ 2- 50 khách xem trong 50 -60 phút giá 8.000.000 đồng

- Sưu tầm -

..R[O]N..
16-11-2010, 12:46 PM
đã đy huế và đà nẵng gòi ;)) cảnh rất đẹp và có biển tuyệt vời :x biển trong vắt à :x nhất là huế á :x biển đẹp lém :x

Con Nít*
18-11-2010, 03:55 PM
Trường Quốc Học

http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/3/35/Qu%E1%BB%91c_H%E1%BB%8Dc_Hu%E1%BA%BF.jpg (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/3/35/Qu%E1%BB%91c_H%E1%BB%8Dc_Hu%E1%BA%BF.jpg)
Lầu chuông - Cổng trường Quốc Học

Trường Quốc Học là một ngôi trường nổi tiếng ở Huế. Trường được thành lập vào ngày 23 tháng 10 năm 1896 theo chỉ dụ của vua Thành Thái giao cho Ngô Đình Khả làm trưởng giáo và được Toàn quyền Đông Dương ký quyết định ngày 18 tháng 11 năm 1896. Trường được xây dựng ngay trên mảnh đất của dinh Thuỷ sư cũ- một trại thuỷ quân Hoàng gia làm năm Gia Long thứ 5 ( 1806).

Trường đặt dưới quyền kiểm soát của viên Khâm sứ Trung Kỳ. Trong nghị định của Phủ Toàn quyền Ðông dương cũng quy định rõ điều kiện của học sinh được nhận vào trong trường Quốc Học là:
- Công tử con các Hoàng thân
- Tôn sanh con các Hoàng gia
- ấm tử con các quan
- Học sinh các trường Thành nhơn và Quốc tử giám

Năm 1915 khi có sắc lệnh bãi bỏ các kỳ thi hương hội ở Bắc Kỳ thì trường Quốc Học được xây dựng lại. Những dãy nhà tranh được phá bỏ, thay thế vào đó là hai dãy lầu xây gạch, lợp ngói kiên cố đầy đủ tiện nghi theo kiểu Tây Âu. Về cơ bản các kiến trúc đó được duy trì đến ngày nay.

Trường Quốc học có biệt tích là trường trung học đệ nhất cấp đầu tiên ở Huế. Ngay từ lúc sáng lập, giáo trình được dạy bằng tiếng Việt cùng với tiếng Pháp.

Trường đã đổi tên qua nhiều thời kỳ: École Primaire Supérieure, tức Trường Cao đẳng Tiểu học nhưng thường gọi là Quốc Học (1896-1936), Trung học Khải Định (1936-1954), Trung học Ngô Đình Diệm (1955-1956) và được trở về với tên gốc vào năm 1956 cho đến nay. Tên lúc mới thành lập là "Pháp Tự Quốc Học Trường Môn", đến nay vẫn còn bảng ghi tên đó được lưu tại Phòng Truyền thống của trường.

Thành tích

Quốc Học Huế là ngôi trường đào tạo rất nhiều học sinh ưu tú và sau này là những lãnh tụ nổi tiếng của Việt Nam như: Nguyễn Sinh Cung (sau là Chủ tịch Hồ Chí Minh của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa), Ngô Đình Diệm (sau là Tổng thống Việt Nam Cộng hòa), Trần Phú (sau là Tổng bí thư đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam), Hà Huy Tập (sau là Tổng bí thư của Đảng Cộng sản Việt Nam), Phạm Văn Đồng (sau là thủ tướng), Võ Nguyên Giáp (sau là đại tướng), Nguyễn Chí Diểu (bí thư Thành uỷ Sài Gòn), Hải Triều Nguyễn Khoa Văn (nhà lí luận Marxist) và nhiều nhà khoa học, văn hóa, nhà văn, nhà thơ như: Tạ Quang Bửu, Tố Hữu, Đặng Thai Mai, Nguyễn Lân, Nguyễn Khánh Toàn, Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Thúc Hào, Võ Liêm Sơn, Lê Văn Miến, Hoàng Ngọc Cang, Lê Trí Viễn, bác sĩ Tôn Thất Tùng, bác sĩ Đặng Văn Ngữ, nhà sử học Đào Duy Anh, nhà thơ Xuân Diệu, nhà thơ Huy Cận, nhà thơ Lưu Trọng Lư, nhà điêu khắc Điềm Phùng Thị, nhạc sĩ Trần Hoàn, nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương, nhạc sĩ Tôn Thất Tiết... Trường có rất nhiều học sinh đoạt giải cao ở trong các kỳ thi quốc tế như: Hồ Đình Duẩn, Lê Bá Khánh Trình,...

Nhiều giáo sư đầu ngành đã từng giảng dạy ở đây như GS Nguyễn Thúc Hào, Nguyễn Lân. Bên cạnh truyền thống học tốt, dạy tốt, Quốc Học Huế còn là nơi xuất phát các cuộc đấu tranh yêu nước với tên tuổi các thầy giáo Hoàng Thông, Lê Văn Miến, Võ Liêm Sơn...

Hiện nay, trường được Chính phủ Việt Nam chọn để xây dựng thành một trong ba trường phổ thông trung học chất lượng cao của Việt Nam (cùng với trường Lê Hồng Phong tại Thành phố Hồ Chí Minh, trường Chu Văn An tại Hà Nội).

Lịch sử

http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/4/46/Bia_Chien_si_tran_vong.jpg (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/4/46/Bia_Chien_si_tran_vong.jpg)
Đài tưởng niệm chiến sĩ Trận Vong thường gọi là "Bia Quốc Học" nằm đối diện với cổng trường

Quốc Học được thành lập trên nền của Dinh Thủy Sư (nơi huấn luyện binh lính đường thủy của quân đội triều Nguyễn), ban đầu trường được xây dựng theo kiểu cũ, nhà tranh vách đất, tổng cộng có 3 tòa nhà. Trường Quốc Học hiện nay là công trình được xây dựng theo kiểu kiến trúc Pháp, được xây dựng chủ yếu trong thời gian sau này.

Nguyễn Sinh Cung (Hồ Chí Minh) từng là học sinh của trường, ông học tại Quốc Học năm 1908, tham gia nhiều vào các phong trào của sinh viên và học sinh chống Pháp vào thời gian đó. Tháng 9 năm 1989, trong sân trường có đặt bức tượng Nguyễn Tất Thành (tức Nguyễn Sinh Cung) bằng thạch cao ở giữa sân trường để tưởng nhớ người học trò này. Bức tượng hiện nay đã được phủ đồng.

http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/f/f4/T%C6%B0%E1%BB%A3ng_Nguy%E1%BB%85n_T%E1%BA%A5t_Th%C3%A0nh_t%E1%BA%A1i_Qu%E1%BB%91c_H%E1%BB%8Dc_Hu%E1%BA%BF.jpg (http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/f/f4/T%C6%B0%E1%BB%A3ng_Nguy%E1%BB%85n_T%E1%BA%A5t_Th%C3%A0nh_t%E1%BA%A1i_Qu%E1%BB%91c_H%E1%BB%8Dc_Hu%E1%BA%BF.jpg)
Tượng Nguyễn Tất Thành tại sân trường

Con Nít*
22-11-2010, 09:30 AM
Đàn Nam Giao

Đàn Nam Giao được xây dựng từ đời vua Gia Long, cách kinh thành Huế về phía nam 3 km, song song với núi Ngự Bình. Khi xưa, đây là một thắng cảnh của kinh đô Huế.

http://www.simplevietnam.com/uploads/DI%20SAN%20VIET%20NAM/QUAN%20THE%20DT%20HUE/dannamgiao/dannamgiaotc-1.jpg
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/b/b1/Dan_Nam_Giao_Hue.jpg (http://truongton.net/forum/vcheckvirus.php?url=http%3A%2F%2Fupload.wikimedia.org%2Fwikipedia%2Fvi%2Fb%2Fb1%2FDan_Nam_Giao_Hue.jpg)

Khuôn viên đất Đàn Nam Giao hình chữ nhật, chiều dài 390 mét, chiều rộng 265 mét, giới hạn bởi một vòng tường thành xây bằng đá bọc xung quanh. Đàn có bốn cửa quay ra bốn hướng. Trong khuôn viên trồng toàn thông, mỗi vị đại thần trồng một cây. Trong ngày tế, các cây thông đều đeo tên các vị đại thần đã trồng.

Đàn tế được xây dựng thành 3 tầng, dưới lớn trên nhỏ chồng lên nhau, tượng trưng cho thuyết tam tài: Thiên, Địa, Nhân. Mỗi tầng có hình dạng và màu sắc riêng: trời tròn, đất vuông, thiên thanh, địa hoàng. Tầng trên cùng hình tròn, gọi là Viên Đàn, tượng trưng cho trời. Tầng kế có hình vuông, gọi là Phương Đàn, tượng trưng cho đất.

Tế Nam Giao là lễ tế trời, đây là lễ tế quan trọng nhất của vua chúa ngày xưa trong dịp xuân về. Trong lễ tế Nam Giao, nhà vua giữ địa vị chủ tế. Ba ngày trước khi tế, nhà vua phải xa giá tới Trai cung cho thanh tịnh.

Trong những ngày diễn ra cuộc lễ, từ triều đình cho đến dân chúng ở kinh đô đều nô nức hớn hở. Người ta kéo nhau đi xem đông như hội. Hiện nay, Đàn Nam Giao đã trở thành một di tích lịch sử và văn hóa của cố đô Huế và của đất nước.

funnylove123
22-11-2010, 12:33 PM
những bài bạn post hay lắm, rất hữu ích
những tấm hình lớn bạn nên làm nhỏ lại [vừa màn hình thôi cũng ko phải nhỏ quá]
nếu hình quá lớn sẽ làm vỡ giao diện và khó xem
ý kiến của mình mong bạn đừng giận

katrjna
27-04-2011, 09:26 AM
nghe tới những danh lam thắng cảnh ở Huế rất nhiều, nhưng mình chỉ được đi ngang qua mà thôi, vì mình đi du lịch ra Hà Nội bằng tàu SE mà. Nhưng sẽ có dịp mình ra Huế chơi ...

vivicorp.com
27-04-2011, 10:27 AM
Mình cũng có ông anh họ ở trong Huế mà mình chưa có dịp nào vào Huế chơi
Mặc dù bên mình đã thiết kế website du lịch cho mấy công ty rồi mà mình lại ít đi du lịch.
Thật là tiếc.

nghiemhao
05-05-2011, 06:55 PM
Mình cũng được ra Huế 2 lần, quả thực rất thú vị! Nếu có dịp năm nay sẽ đi chuyến nữa!

distance_mylove
11-06-2011, 10:11 AM
rất hay ...cố gắng phát huy nhé các bạn !!

utcrazy
11-06-2011, 09:26 PM
huế quê hương đất nước ta mà sao k thú vị đc :X
yêu huế lắm :X
đôi lúc thấy huế bt`
nhưng đứng ở gốc độ nào đó thì rất tuyệt :X

tuntravel
02-07-2011, 03:27 PM
Huế mộng mơ

Tũn nhõ
03-07-2011, 11:36 AM
quê ngoại of Tũn ở Huế
:x
cảnh đẹp lắm
;))

boyhn01
17-08-2011, 12:40 PM
Mình ở Hà Nội, tháng 9 này vào du lịch Bụi ở huế 1 tuần. Rất mong được làm quen và nhận được sự giúp đỡ từ các bạn, theo kinh nghiệm bạn bè truyền lại, mình vào đây nhờ các bạn 2 việc :)
1/ Nghe nói phòng trọ SV ở Huế chỉ 550k/tháng, khép kín, Vậy ai bít phòng nào trống thì nhớ địa chỉ giùm mình :)
2/ Hi vong đc làm quen và có nhóm bạn nào đó yêu và hiểu về Huế, làm hướng dẫn viên du lịch, Rất cảm ơn.

MỌi thông tin xin pm vào yahoo: xaydung_hn

katahuma
05-11-2011, 09:23 AM
Nhớ Huế quá, hồi trước mình có dịp đi chơi ở đây, rất thích nhịp sống từ từ của thành phố này.