PDA

View Full Version : [BDT 04] "Thăng Long bát cảnh"


juukapup
28-09-2010, 08:27 PM
Tên thật:Nguyễn Minh Thu

Nick 2T: juukapup

Nick yahoo:juukapup

Tuổi: 20 T_T


http://truongton.net/forum/picture.php?albumid=13455&pictureid=283080


“Khen ai khéo họa dư đồ

Trước sông Nhị Thủy, sau hồ Hoàn Gươm.”

http://truongton.net/forum/picture.php?albumid=19160&pictureid=862004

Đó là một trong vô vàn lời ca dao mà dân gian dành để tán dương vẻ đẹp của mảnh đất Thăng Long. Thế hệ chúng ta đang sống đây, được nhìn ngắm một Thăng Long thanh bình và tươi đẹp, nhưng không giống với Thăng Long trong những câu ca dao để lại. Có bao giờ bạn tự hỏi… “Những đôi mắt của những người xưa… đã được thấy một Thăng Long như thế nào?”. Câu hỏi đó vẫn đang còn bỏ ngỏ, vì thế những nhà khảo cổ vẫn miệt mài không quản mưa nắng ngày đêm ở Hoàng thành để kiếm tìm, phục dựng những hình ảnh xa xưa, những nhà sử học, Hán Nôm học vẫn bền bỉ nghiên cứu những thư tịch, văn tự cổ mong thấy được bóng dáng ngày nào của Thăng Long được ghi lại đâu đó…
Thật buồn là ta không thể tận mắt chứng kiến kinh thành đệ nhất phồn hoa, đệ nhất thanh sắc ngày ấy, nhưng qua văn chương, ít nhiều ta có thể cảm nhận được.
Sách “Đại Nam nhất thống chí” có nhắc đến một bộ tám bài thơ vịnh những cảnh đẹp của Thăng Long của một người Trung Quốc (đời nhà Thanh), gọi là “Thăng Long bát cảnh”(Tám cảnh đẹp ở Thăng Long). Sách chỉ liệt kê tên các bài thơ mà không dẫn chi tiết, nhưng dân gian vẫn lưu truyền lại tương đối. Cùng cảm nhận xem con mắt của thi nhân Trung Hoa ấy nhìn thấy một Thăng Long như thế nào nhé?

http://truongton.net/forum/picture.php?albumid=19160&pictureid=862002

Cảnh thứ nhất:

Ngự lâu quan đào

Hợp bích song huy điệu vũ mao,
Hải thiên không khoát ngự lâu cao.
Tam tằng chu hộ khai kim toả,
Bát diện thiều quang ánh cẩm bào.
Hoa liễu hàm yên liên khuyết quýnh,
Sơn xuyên thừa khỉ tước nhân hào,
Hoàng long chu tước, tỳ hưu ngoại,
Hạc lệ phong thanh diễn nộ đào.


Lầu ngự xem sóng
(Người dịch: Trần Huy Hân)
Cờ mao, nhật nguyệt rọi vào,
Mông mênh trời biển lầu cao vua ngồi.
Ba tầng cửa tía mở rồi,
Thiều quang tám mặt, ánh soi cẩm bào.
Liễu hoa cửa khuyết gần sao,
Non sông khí tốt anh hào đúc nên,
Quân đi cờ kéo đi liền,
Chim kêu gió hét tiếng rền sóng xô.


Nguồn: Tạp chí Hán Nôm, số 2/2004

Thông tin về “Thăng Long bát cảnh” vốn rất ít, những câu thơ kia cũng chỉ là dân gian truyền lại, độ chính xác cũng chỉ có giới hạn mà thôi. Chẳng ai biết “Lầu ngự ngắm sóng” ấy ở đâu, có thể là gần sông Tô uốn quanh trong trẻo, cũng có thể tọa bên Hồ Tây sóng nước mênh mang, hoặc sông Nhị Hà cuồn cuộn phù sa…Nhưng dù là ở đâu thì bây giờ những cảnh sắc ấy cũng không còn nữa rồi. Khung cảnh diễm lệ nhìn thấy từ trên lầu cao xuống một vùng “mênh mông trời biển”, ráng chiều dát vàng nhạt dần rồi chuyển tối, nhập nhoạng hoàng hôn và sao trời lấp lánh…đó thật là khung cảnh thần tiên khó gặp trong đời.

Và Cảnh thứ hai cũng không kém phần đẹp đẽ.

Khán Sơn tịch chiếu
Tế liễu dư huy tán lạc hà,
Mãn thành thụ sắc bán quy nha.
Lâu đài kỷ xứ kinh uyên ngoã,
Khâu hác thiên trùng phú thố ta.
Quyển thị sơ mang cô tửu điếm,
Dưỡng sinh chung lão điếu ngư gia.
Khán sơn tự bắc tri đường vãn,
Xuân thảo điễn trù ngạn ngạn oa.

Nắng chiều rọi núi Khán Sơn
(Người dịch: Trần Huy Hân)
Ráng bay doanh liễu về chiều,
Đầy thành cây cỏ, tiếng kêu quạ về.
Ngói uyên mấy chỗ lầu che,
Nghìn trùng gò đống thỏ ta hát rền.
Chợ tan hàng rượu hơi phiền,
Thuyền chài thuể thoả được yên phận già.
Bờ ao chùa bắc, Khán San,
Khắp nơi ruộng cỏ, làn làn ếch kêu.

Nguồn: Tạp chí Hán Nôm, số 2/2004

Núi Khán Sơn là một ngọn núi nằm phía Tây Bắc của Hoàng thành Thăng Long. Nơi đây trước kia thường được vua Lê Thánh Tông ngự giá tới xem quân lính thao duyệt võ nghệ nên mới có tên là Khán Sơn. Núi thực ra không lớn, theo Đại Nam nhất thống chí thì núi có chu vi chừng 30 trượng, tức là vào khoảng 90 mét, vậy đường kính chỉ khoảng 30 mét. Năm 1620, vua Lê Thần Tông còn xây dựng một ngôi chùa trên núi, gọi là chùa Khán Sơn. Về sau chùa đổ nát, tượng trong chùa được dời về chùa Huy Văn gần đó. Trải qua bao thăng trầm thay đổi của kinh thành Thăng Long, đến nay núi Khán Sơn đã biến mất chẳng còn dấu tích gì. Theo như vị trí của núi được ghi lại trong sử sách, người ta cũng chỉ phỏng đoán vị trí của núi Khán là ở khoảng cuối đường Hoàng Văn Thụ về phía đường Hùng Vương. Thời gian tàn ác là thế đấy, những cảnh đẹp rung động lòng người của ánh hoàng hôn trên ngọn núi, mái cong ngói uyên, chùa nhỏ thanh tịnh…tất cả đã tan vào hư vô.


Cảnh thứ ba:

Thanh Trì vấn tân

Trúc thu yên vân phú thảo đình
Mãn giang xuân sắc hướng nhân thanh.
Xuân phong tế phất đào hoa lãng,
Dã ngạn sơ phân bạch lộ đinh.
Du quyện bất đồng hành khách lãn,
Tuý mê đa tại biển chu tinh.
Tân đầu mạn vấn thừa ba giả,
Chỉ điểm Thanh Trì bổ Thuỷ kinh.

Hỏi thăm bến Thanh Trì
(Người dịch: Trần Huy Hân)
Trúc mây che phủ đình tranh,
Đầy sông xuân sắc xanh xanh nhuộm người.
Sóng đào gió thổi vơi vơi,
Ngoài đồng cò trắng nơi nơi chia hàng.
Mỏi chơi khác khách đi đường,
Say thôi lại tỉnh nghênh ngang trong thuyền.
Ai người cưỡi sóng đi lên,
Thanh Trì mách hộ "vá" liền Thuỷ kinh.


Nguồn: Tạp chí Hán Nôm, số 2/2004


Bến Thanh Trì nay cũng không còn nữa. Nhiều ý kiến cho rằng bến Thanh Trì chính là bến Quỳnh Đô nằm bên sông Tô Lịch, thuộc địa phận làng Quỳnh Đô. Sông rộng uốn quanh ôm lấy làng xóm và ruộng đồng xanh mát, cảnh sắc nên thơ. Nếu bây giờ đứng trên bến Quỳnh Đô mà ngắm cảnh, chắc chắn sẽ chẳng thể nào thấy được những hình ảnh như ở bài thơ kia. Nhưng mà thật đấy, những cảnh đó đã thực sự tồn tại đấy, nhưng mà giờ tất cả đều theo gió bụi bay đi hết rồi.

Cảnh thứ tư:
Bồ Đề viễn diểu

Viễn diểu Bồ Đề dịch lộ đông,
Vãng lai sinh sỉ tự vô cùng.
Kê minh tàn nguyệt thôi hành khách,
Vân quyển tràng đồ kiến tái ông.
Trúc ám đạm dao thôn lạc vũ,
Thụ phong đê quá miếu tiền phong.
Hoang doanh tuế cửu mê bồng huỷ,
Thuỳ thức đương niên dã chiến công!

Trông xa sang Bồ Đề
(Người dịch: Trần Huy Hân)
Xa trông đường trạm Bồ Đề,
Sinh nhai nhộn nhịp đi về không ngơi.
Trăng tàn, gà gáy giục người,
Tái ông thấy ở đường dài mây quang.
Mưa sa trúc, thớt thơ làng,
Cây cao thấp, gió đưa sang trước đền.
Dinh xưa cỏ mọc ùm lên,
Chiến công ai biết đương niên thế nào.


Nguồn: Tạp chí Hán Nôm, số 2/2004



Bến Bồ Đề nằm ở tả ngạn sông Hồng, thời chiến tranh Trịnh – Mạc được xây dựng một trạm dịch để tiện thông tin liên lạc. Trạm Bồ Đề trong bài thơ là trạm Bồ Đề được xây trong thời gian đó. Nhưng địa danh này đã quen thuộc với nhân dân ta từ rất lâu rồi. Còn nhớ câu đồng dao thưở nhỏ vẫn nghêu ngao cùng chúng bạn “Nhong nhong ngựa ông đã về./ Cắt cỏ Bồ Đề cho ngựa ông ăn.” Câu ca dao này gắn với chiến công trong kháng chiến chống quân Minh, chiếm lại thanh Đông Quan của nghĩa quân Lê Lợi năm xưa. Khi đó nghĩa quân đóng ở Bồ Đề, nhân dân quanh vùng đã giúp cắt cỏ nuôi ngựa cho nghĩa quân. Có lẽ nhà thơ cũng đã nghe kể về chuyện này nên câu kết bài thơ mới như vậy. Trạm Bồ Đề bây giờ cũng không còn nữa, nhưng trong lòng người dân Việt Nam, có lẽ vẫn vang vọng mãi những khúc ca “Bồ Đề bắn thư – Bồ Đề chăn ngựa – Bồ Đề vượt sông” huyền thoại, oai hùng.

Cảnh thứ năm
Báo Thiên hiểu chung

Tháp sanh kinh hống hám danh khu ,
Vạn tượng yên hàm hỗn độn thô.
Thu sắc phù trầm cung điện hiểu,
Thuỷ quang thượng hạ hải thiên vu.
Liêm lung hoa vũ tiên ngân lậu ,
Sơn ánh trang lâu hoán giá cô .
Thuỳ thị vô ưu cao chẩm ngoạ!
Khẳng vong phạm hưởng tỉnh mê đồ.

Tiếng chuông sớm từ tháp Báo Thiên
(Người dịch: Trần Huy Hân)
Danh khu tháp đấm chuông vàng,
Muôn hình khói toả, hỗn mang những ngày.
Cung đền chìm nổi sắc cây,
Thấp cao nước sáng, xa thay biển trời.
Rèm hoa bình bạc tiêu vơi,
Lầu trang son ánh gọi vời giá cô.
Ai người nằm khểnh không lo,
Đừng quên chuông gọi, mê đồ tỉnh ra!

Nguồn: Tạp chí Hán Nôm, số 2/2004

http://truongton.net/forum/picture.php?albumid=19160&pictureid=862001

Tháp Báo Thiên là ngôi tháp 12 tầng nằm trong khuôn viên chùa Báo Thiên, là một trong An Nam tứ đại khí cùng với tượng chùa Quỳnh Lâm, vạc Phổ Minh và chuông Quy Điền. Bài thơ được làm trong thời Lê, nhưng tháp Báo Thiên sớm đã bị quân Minh phá ra để đúc súng. Tiếng chuông kia thực chất là tiếng chuông của tháp chuông chùa Báo Thiên mà thôi. Chùa Báo Thiên được xây dựng từ năm 1057 và luôn là một trong những trung tâm Phật giáo lớn ở kinh thành Thăng Long trong nhiều thế kỷ. Sau thời gian bị quân Minh chiếm đóng, chùa cũng bị tổn thất nhiều bề mà nặng nề nhất là mất đi Đại Thắng Tư Thiên bảo tháp – Tháp Báo Thiên nhưng đã được triều đình nhà Lê trùng tu bảo tồn, nền tháp cũ được tôn cao lập đàn tràng để cúng tế. Có lẽ thời điểm thi nhân Trung Hoa kia nghe tiếng chuông sớm từ chùa không phải là khi chùa đang cực thịnh, nhưng cũng là một khoảng thời gian yên bình thịnh trị…Đến cuối thế kỷ XIX, một trận hỏa hoạn lớn đã thiêu hủy chùa, người Pháp tới Hà Nội và đã dùng mảnh đất của chùa mà xây nên Nhà thờ chính tòa Hà Nội ta vẫn thấy ngày nay. Chùa Báo Thiên, tháp Báo Thiên nay chỉ còn trong văn sử. Một giếng đá cổ của chùa sót lại trong một ngõ nhỏ của phố Nhà Chung mấy năm trước còn bị người ta đổ đất cát lấp đi. Chính quyền can thiệp và khai quật giếng, mang về khuôn viên của Nhà Thờ Lớn, đặt gần hang đá. Niềm tự hào của đất kinh kỳ ngày nào, giờ còn lại cũng chỉ có vậy mà thôi.


Cảnh thứ sáu:
Bạch Mã sấn thị
Nghĩ tục hoà phong noãn thị trần,
Phân phân vũ tụ táp kiên xuân.
Chu xa tịnh chí đam trường nhật,
Thương cổ thu suy tập chúng luân.
Miếu để phi lôi đa ám thất,
Lô tiền hiệu khí hữu Đường thần.
Hoàng hôn bất tỉ thương lương địa,
Hộ hộ phân đăng đấu tửu tân.

Chơi chợ Bạch Mã
(Người dịch: Trần Huy Hân)
Gió hoà bụi chợ, đông người,
Phất phơ tay áo đua chơi xuân cùng.
Ngày dài thuyền chở, xe dong,
Bán buôn lũ lượt trập trùng chen đua.
Cuối đền nhà cửa nhấp nhô,
Có thần vị đạt, có lò hương xông.
Chiều hôm chẳng thấy lạnh lùng,
Nhà nhà rượu rót đèn trong khách đầy!


Nguồn: Tạp chí Hán Nôm, số 2/2004

Chợ Bạch Mã là một chợ cổ của kinh thành Thăng Long. Chợ ra đời năm 1035, ban đầu có tên là chợ Cửa Đông, sang đến đời Trần thì đổi tên là chợ Bạch Mã vì chùa ở gần đền Bạch Mã. Những cảnh trước là thiên nhiên cảnh sắc chẳng bóng người, thì cảnh thứ sáu này là cảnh cuộc sống sinh hoạt sôi động tươi vui của con người Thăng Long. Quả đúng là “Thứ nhất kinh kỳ, thứ nhì Phố Hiến” , cuộc sống này phồn hoa sôi động, kẻ bán người mua hào hứng nô nức khiến cho máu trong huyết quản cũng sục sôi theo. Sự náo nhiệt của thành thị dường như chẳng bao giờ dứt, từ sớm đến khuya, ngày qua ngày… Nếu so với cảnh vật “Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo./ Nền cũ lâu đài bóng tịch dương” thì trái lại, cảnh sinh hoạt buôn bán này vẫn tiếp diễn qua hàng trăm năm. Chợ Bạch Mã ngày xưa cùng với chợ Cầu Đông đã nhập thành chợ Đồng Xuân ngày nay. Hàng ngày cảnh mua bán vẫn tiếp diễn sôi nổi như ngọn lửa sức sống người Việt vẫn luôn được truyền từ đời này qua đời khác.

Cảnh thứ bảy:
Nhị Hà quy phàm

Vạn cổ y hi Nhị thuỷ vi,
Trào bình phong chỉ bố phàm qui.
Bất thù ngọc luỹ khai thiên tạm,
Khước tác kim thành cố đế kỳ.
Nam quốc văn chương chưng đẩu bích,
Tây viên thi tửu phún chân ky.
Phong lưu dư vận thanh bình tế,
Do kiến hoàng long bạch chú phi.

Thuyền buồm về bến sông Nhị
(Người dịch: Trần Huy Hân)
Nhị Hà muôn thuở y nhiên,
Sóng im gió lặng quay thuyền về đây.
Ao trời luỹ ngọc như vầy,
Thành vàng ủng hộ xưa nay kinh kỳ.
Văn chương nước Việt sáng loè,
Châu phun thơ rượu vườn tê đậm đà.
Phong lưu gặp buổi thái hoà,
Rồng vàng còn thấy bay ra ban ngày.


Nguồn: Tạp chí Hán Nôm, số 2/2004

Ai cũng biết Nhị Hà là sông Hồng. Năm xưa khi vua Lý Thái Tổ xuôi thuyền rồng rời đô đến Đại La trên con sông này đã vụt lên một bóng rồng vàng, hướng theo thuyền rồi bay lượn một vòng quanh đoàn thuyền như chào đón. Vua vui mừng và quyết định đặt tên kinh thành mới là Thăng Long. Sông Hồng nằm yên bên tòa thành cổ từ ngàn xưa, đã chứng kiến biết bao cuộc thăng trầm đổi khác. Giá mà dòng sông biết kể chuyện, sương mù trong quá khứ sẽ tan đi biết bao nhiêu! Nhưng dòng sông vẫn im lìm mải miết chảy về Đông, và sương khói vẫn giăng đầy trên mặt nước.

Cảnh thứ tám:

Lãng Bạc ngư ca
Nhất trạo ngư ca khiếu hiểu phong,
Thương lang tuỳ phận tự tây đông.
Tương vọng giáp ti câu hoàng lịch,
Mỗi sự ngư hà thức đế công.
Chưởng thượng tửu bôi huyền bạch nghĩ,
Hồ biên thi tứ tiễn minh hồng.
Lư hoa địch lý hoành cung quyết,
Suy đoạn nhà vân hệ đoản bồng.

Tiếng hát thuyền chài trên hồ Lãng Bạc
(Người dịch: Trần Huy Hân)
Thuyền chài hát gợi gió kêu,
Thương giang một dải thuận chiều đông tây.
Lịch vua quên cả tháng ngày,
Ơn trời chỉ biết vơ đầy cá tôm.
Trên tay chén rượu mối diềm,
Bên hồ thi tứ bay êm cánh hồng.
Hoa lau tiếng sáo ngang cung,
Đẩy cho mây vướng cột bồng tan đi.

Nguồn: Tạp chí Hán Nôm, số 2/2004

Hồ Tây còn được gọi là hồ Lãng Bạc, nhưng đây không phải hồ Lãng Bạc nơi mà Hai Bà Trưng đã chiến đấu chống lại quân của Mã Viện, chỉ là trùng tên mà thôi. Hồ Tây rộng lớn bao la, mênh mông sóng nước, tự bao đời đã là nguồn cảm hứng thi ca bất tận của biết bao tao nhân mặc khách. Điểm danh những cảnh đẹp của Thăng Long, làm sao có thể thiếu được Hồ Tây! Cùng với sông Hồng và ngọn lửa hồn người Việt, Hồ Tây cũng tồn tại đến nay sau bao nhiêu năm tháng, nhưng cũng đã khác xưa rất nhiều, vì thời gian mà cũng vì “không ai tắm hai lần trên một dòng sông”.

http://truongton.net/forum/picture.php?albumid=19160&pictureid=862003

“Thăng Long bát cảnh” vốn chỉ là cảm nhận chủ quan của một người, nhưng đồng điệu với tiếng lòng của người dân Việt Nam bao đời qua. Người ta truyền nhau những câu thơ chữ Hán, ghi chép và cả gìn giữ lại. Thời gian qua đi, “Thăng Long bát cảnh” giống như những bông hoa đẹp đã úa tàn. Người ta thường an ủi nhau khi một bông hoa úa tàn rằng “Bông hoa chết đi là bông hoa tươi đẹp nhất vì nó sẽ sống mãi trong trái tim người đang sống”.


http://truongton.net/forum/picture.php?albumid=13455&pictureid=420019

Tài liệu tham khảo:
36 Truyền thuyết Thăng Long Hà Nội
36 Phong tục, tập quán người Hà Nội
Hà Nội tự điển
http://nhovehanoi.com/ (http://truongton.net/forum/vcheckvirus.php?url=http%3A%2F%2Fnhovehanoi.com%2F)
http://thanglonghanoi.gov.vn/ (http://truongton.net/forum/vcheckvirus.php?url=http%3A%2F%2Fthanglonghanoi.gov.vn%2F)
http://thivien.net/ (http://truongton.net/forum/vcheckvirus.php?url=http%3A%2F%2Fthivien.net%2F)
...và 1 số web linh tinh

juukapup
29-09-2010, 09:47 PM
Viết về Hà Nội

Tôi kể người nghe chuyện cổ thành
Cái thời Tô Lịch nước còn xanh
Đôi lần biết đến qua trang sách
Mơ mộng kinh kỳ cực sắc thanh.

Bây giờ tường rêu ngói thâm nâu
Lầu son gác tía chẳng còn đâu
Đi tìm bóng dáng câu thơ cũ
Trong những ngày xưa đã bạc màu…

“Bát cảnh” đơn thuần là hoài mong
Lòng riêng thương mãi đất nghìn năm
Giữa đô thành mới, ai còn nhớ
Dưới mỗi bước chân là Thăng Long…?

29/09/2010