Trả lời
Ðiều Chỉnh
Unread 13-05-2012, 07:50 AM   #1
Default Kho báu của vua Xôlômông

Henri Haggard
Kho báu của vua Xôlômông


nguồn:vnthuquan
MẤY LỜI NÓI ĐẦU

Lúc này, khi cuốn sách đã in xong và sắp sửa được tung đi khắp thế giới, tôi càng thấy rõ các khuyết điểm của nó, cả về văn phong lẫn nội dung. Về phần nội dung, tôi chỉ có thể nói rằng cuốn sách của tôi hoàn toàn không có ý định trở thành một cuốn sử ghi chép đầy đủ hết tất cả những gì chúng tôi đã thấy và đã làm. Tôi rất muốn dừng lại để nói kĩ hơn về nhiều việc liên quan đến cuộc du hành của chúng tôi tới Đất nước Cucuan mà trong sách tôi chỉ mới nhắc qua, chẳng hạn như về các truyền thuyết mà tôi thu thập được, về những chiếc áo giáp đã giúp chúng tôi thoát chết trong trận chiến đấu vĩ đại ở Luu, cũng như về các Thần Im Lặng, hay về các bức tượng gần cửa hang động thạch nhũ. Nếu được tùy thích, tôi sẽ kể tỉ mỉ hơn nhiều về sự khác nhau giữa hai thổ ngữ Dulux và Cucuan là điều đáng để suy nghĩ một cách nghiêm túc, hoặc tôi có thể dành hẳn mấy trang liền để viết về động, thực vật của đất nước kì diệu này. Có một đề tài vô cùng thú vị mà rất tiếc tôi chỉ lướt qua trong cuốn sách này: đó là hệ thống tổ chức quân sự tài tình ở đấy, mà theo ý tôi và vượt xa hệ thống tổ chức quân sự của vua Chaca Vua của bộ tộc Dunx sống vào đầu thế kỷ XIX. ở Đất nước Đulux. Nó cho phép huy động một cách nhanh chóng tất cả quân đội, và cũng không cần áp dụng luật bắt buộc cấm lấy vợ rất không được lòng các binh sĩ Vua Cha-ca cấm các binh sĩ của mình không được lấy vợ. Chỉ những ai đã giải ngũ mới được lấy vợ và số lượng vợ được phép lấy phụ thuộc vào số kẻ thù anh ta đã giết khi tại ngũ. Và cuối cùng là tôi chỉ mới nói sơ sài về các phong tục tập quán gia đình của người Cucuan (nhiều trong số các phong tục ấy thật liù thú), cũng như về nghệ thuật luyện và rèn kim loại của họ. Nghệ thuật này đã được họ nâng đến mức hoàn thiện, bằng chứng hùng hồn là những con dao chiến đấu to nặng với những lưỡi dao bằng một thứ kim loại tuyệt diệu được rèn dũa một cách hết sức khéo léo.
Sau khi tham khảo ý kiến của ngài Henri Curơtix và thuyền trưởng Huđơ, tôi quyết định sử dụng một thứ ngôn ngữ đơn giản, dễ hiểu, để kể về các chuyện phiêu lưu li kì nhất của chúng tôi, còn về tất cả các chuyện khác sẽ để dành một dịp nào đó sau này, tất nhiên nếu điều ấy được hoan nghênh và thực sự cần thiết. Tôi cũng sẽ lấy làm vui mừng được chia sẻ tất cả những gì tôi biết với bất kì ai quan tâm tới chúng.
Bây giờ chỉ còn lại một việc là yêu cầu bạn đọc hãy thứ lỗi và bỏ qua cho cái văn phong vụng về, không chải chuốt của tôi. Để tự bào chữa, tôi chỉ có thể nói rằng tôi quen cầm vũ khí hơn cầm bút, và vì vậy không thể và không dám mơ tới cái bay bổng tuyệt mĩ của câu từ và cách hành văn bóng bẩy của các cuốn tiểu thuyết mà thỉnh thoảng tôi vẫn thích đọc.
Có lẽ sự tuyệt mĩ và bóng bẩy ấy là cần thiết nhưng rất tiếc tôi hoàn toàn không thể đạt tới điều đó.
Nhưng theo tôi, các cuốn sách được viết bằng ngôn ngữ bình thường, giản dị, thường gây được ấn tượng mạnh và dễ hiểu. Tuy nhiên, một người như tôi chắc không nên phát biểu thành lời ý kiến của mình về vấn đề này. Người Cucuan có câu tục ngữ: “Mũi giáo sắc không cần mài”. Trên cơ sở ấy, tôi mạnh dạn hy vọng rằng một câu chuyện có thật, cho dù có lạ lùng đến đâu, cũng không cần phải trang điểm bằng các từ cao siêu bóng bẩy.


ALAN QUOTECMEN
lặng.
thiensu96 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn  
Trả Lời Với Trích Dẫn
2 thành viên 2T cảm ơn bài viết này của thiensu96 vì cảm thấy "rất là hay":
Unread 13-05-2012, 07:51 AM   #2
Default

Chương 1
TÔI GẶP NGÀI HENRI CURƠTIX

Có lẽ cũng khá lạ lùng, rằng sống đến cái tuổi năm mươi lăm, lần này tôi cầm bút là lần đầu. Tôi cũng chẳng biết tôi sẽ làm được cái gì từ câu chuyện của tôi, và rồi không hiểu tôi có đủ kiên nhẫn để đưa nó đến cùng hay không.
Bây giờ nhìn lại quãng đời đã qua, tôi thầm ngạc nhiên rằng tôi đã kịp làm nhiều việc và phải chịu đựng nhiều thử thách như thế. Cũng có thể tôi cảm thấy đời mình quá dài là do buộc phải sống tự lập quá sớm. ƠŒ cái tuổi trẻ con còn đi học ở trường, tôi đã phải làm việc để kiếm sống, bằng cách buôn bán các thứ lặt vặt ở thuộc địa cũ. Tôi đã buộc phải đi buôn, đi săn, làm việc ở các hầm mỏ, thậm chí cả đi đánh nhau. Và chỉ cách đây tám tháng, tôi mới trở thành người giàu có. Bây giờ thì tôi là ông chủ của một tài sản khổng lồ, chính tôi cũng không biết rõ nó lớn đến mức nào, nhưng tôi không tin rằng để đạt được điều ấy, tôi sẵn sàng chịu sống lại quãng thời gian mười lăm, hai mươi tháng gần đây của đời tôi, ngay cả khi biết trước rằng mọi chuyện sẽ kết thúc tốt đẹp và tôi sẽ giàu đến mức này. Tôi là một người khiêm tốn bình thường, không thích máu và bạo lực, và cũng xin nói thẳng rằng tôi đã ngấy đến tận tai các chuyện phiêu lưu mạo hiểm. Tôi không hiểu tôi định viết cuốn sách này để làm gì, vì văn chương là nghề rất xa lạ với tôi. Mà tôi cũng chẳng dám tự cho mình là người có học, dù tôi rất thích đọc cựu ước (ÙPhần đầu của Kinh Thánh) và các truyện hoang đường của Ingôndơbi (Tên thật là Barham (1788-1845) nhà văn Anh nổi tiếng nhờ các truyện thơ Balát). Nhưng dù sao tôi cũng xin nêu lên những liù do đã khiến tôi viết cuốn sách này.
Thứ nhất là do ngài (Tiếng Anh là Sir một tiếng đệm chỉ những nhà quý tộc lớn. Trong toàn bộ tác phẩm, trước Henry đều có chữ Sir (ngài), nhưng để tránh nặng nề và trùng lặp nhiều, chúng tôi bỏ không dịch, chỉ gọi đơn giản là Henry. -ND) Henry Curơtix và thuyền trưởng Huđơ đã yêu cầu tôi làm điều ấy.
Thứ hai là hiện giờ tôi đang ở Durban, hoàn toàn chẳng có việc gì khác để làm, vì vết thương ở chân trái lại tái phát và bắt tôi phải nằm một chỗ. Tôi bắt đầu khổ sở vì nó kể từ khi con sư tử khốn kiếp kia vồ tôi. Giờ đây tôi càng cảm thấy đau hơn và đi khập khiễng hơn bao giờ hết. Chắc trong răng sư tử có một thứ chất độc nào đó, chứ không thì cớ sao các vết thương đã lành lại tái phát, và xin các bạn nhớ cho lặp đi lặp lại năm này qua năm khác và cũng vào một thời gian nhất định!
Trong đời, tôi đã bắn chết sáu mươi lăm con sư tử mà vẫn giữ được mình sống sót và nguyên vẹn, thế thì thử hỏi làm sao không bực mình khi con thứ sáu mươi sáu nào đó đã ngoạm vào chân tôi mà nhai như là nhai thuốc lá? Như thế là trái với quy luật tự nhiên của tạo vật, và tôi, ngoài các yêu cầu khác, tôi rất thích sự quy củ, nên đã hiểu điều này đã làm tôi khó chịu như thế nào!
Ngoài ra, tôi cũng muốn Hary, con trai tôi, hiện giờ đang làm việc ở một bệnh viện London để chuẩn bị trở thành bác sĩ, khi đọc câu chuyện này, có thể tạm thời nghỉ ngơi khỏi các công việc bận bịu của mình. Công việc ở bệnh viện có lẽ nhiều khi cũng làm người ta chán vì quá đơn điệu và buồn tẻ. Suy cho cùng, cả đến việc mổ tử thi cũng không thể hấp dẫn người ta mãi được. Tôi tin là Hary sẽ không chán khi đọc chuyện này của tôi, và ít nhất thì nó cũng sẽ làm cuộc sống con tôi đỡ buồn tẻ, dù chỉ một vài ngày, vì câu chuyện tôi sắp kể thuộc vào loại kì lạ, hấp dẫn nhất mà xưa nay hiếm khi xẩy ra. Các bạn sẽ cho là lạ nếu tôi nói rằng trong truyện của tôi không có một người đàn bà nào, trừ Phulata. À mà không! Cả Gagula nữa, mặc dù tôi không biết chính xác rằng mụ là phụ nữ hay phù thủy. Nhưng cần phải nói rằng ít nhất mụ đã một trăm tuổi, vì vậy, với tư cách là phụ nữ, mụ cũng chẳng là đối tượng hấp dẫn đối với đàn ông, thành ra không nên tính đến mụ. Vì vậy, tôi có thể nói một cách chắc chắn rằng trong toàn bộ câu chuyện này của tôi không hề có một chiếc váy nào cả!
Nhưng đã đến lúc tôi phải được thắng vào xe chưa nhỉ? Đường ở đây xấu và lầy lội lắm, và tôi cứ có cảm giác như chiếc xe tôi kéo bị lún tới quá nửa bánh.
Trong những trường hợp thế này, nếu bò khỏe thì sẽ chẳng thành vấn đề, rồi sẽ kéo lên tất. Cn nếu bò yếu thì tất nhiên là đành chịu. Nào, tôi xin bắt đầu.
“Tôi, Alan Quotecmen, người quê Durban, ở Natan(Một tỉnh thuộc Liên minh Nam Phi ngày xưa.) một người tử tế dòng dõi thượng lưu, tôi xin thề mà nói rằng...” - Tôi đã bắt đầu lời khai của tôi như thế ở phiên tòa xét về cái chết bi thảm của Hiva và Venfogen. Nhưng mở đầu cho một cuốn sách bằng cách ấy thì có lẽ không ổn lắm. Mà nói chung, tôi có quyền hay có quyền tự gọi mình là người tử tế? Thế nào là một người tử tế? Tôi không rõ lắm. Trong đời mình, tôi đã gặp nhiều mọi đen... Không, tôi xin xóa chữ ấy, tôi không thích dùng nó! Tôi đã gặp nhiều người bản xứ thực sự là những người tử tế đáng kính. (Hary, con trai của bố, trước khi đọc cuốn sách này, con phải đồng ý với bố điều đó đã). Đồng thời tôi cũng biết không ít những người da trắng đểu cáng, tồi tệ, và họ chẳng bao giờ là người tử tế, dù có rất nhiều tiền. Ít ra thì sinh ra, tôi vốn là người tử tế, dù trong suốt cả cuộc đời mình tôi chỉ đơn giản là một anh buôn vặt, một thợ săn nay đây mai đó. Tôi có giữ được cái chất tử tế của mình không, tôi không biết. Điều ấy dành cho các bạn tự đánh giá. Nhưng có Chúa làm chứng tôi luôn cố để bao giờ cũng là người tử tế!
Trong đời, tôi đã buộc phải giết nhiều người, nhưng chưa lúc nào tôi để bàn tay tôi vấy máu người lương thiện. Tôi chỉ giết để tự vệ.
Theo tôi, đức Chúa toàn năng khi trao cho ta cuộc sống, ngài nghĩ rằng tự chúng ta sẽ bảo v lấy nó. Ít ra bao giờ tôi cũng hành động trên cơ sở của niềm tin ấy. Và tôi hy vọng rằng khi tôi chết, ngài sẽ tha lỗi cho tôi. Than ôi, trên đời này quá nhiều sự tàn bạo và phi đạo đức! Chính vì thế mà một người bé nhỏ như tôi đã phải tham gia vào nhiều việc đẫm máu. Tôi không biết tôi nghĩ như thế có đúng không, nhưng quả tôi chưa bao giờ ăn cắp, trừ một lần tôi đã lừa lấy đàn súc vật của một gã người Caphơ (Tên cũ gọi chung các dân tộc Đông Nam châu Phi). Và dù chính hắn cũng lừa dối tôi, cho đến nay tôi vẫn cảm thấy lương tâm bị cắn rứt.
Vâng, kể từ ngày tôi gặp Henry và thuyền trưởng Huđơ đến nay đã gần mười tám tháng. Chuyện xẩy ra như sau. Trong lần săn voi ở Banmangoato, ngay từ đầu tôi đã không gặp may, thêm vào đó, tôi lại bị sốt nặng. Vừa khỏe lại một chút, tôi tìm đến các mỏ kim cương, bán hết ngà voi cùng cỗ xe và những con bò kéo, thanh toán với bạn phường săn rồi ngồi lên xe thư đi tới Cap (Tên gọi tắt Keptao). ƠŒ Kêptao, tôi sống một tuần trong khách sạn, nơi mà nhân thể xin nói thêm, rằng người ta đã tính gian của tôi một số tiền khá lớn. Rồi tôi lang thang đi xem hết các danh lam thắng cảnh của thành phố. Tôi tới vườn bách thảo mà theo tôi mang lại rất nhiều ích lợi cho đất nước, tới xem cả toà nhà nghị viện mà tôi cho là hoàn toàn chẳng được tích sự gì. Tôi quyết định trở về Natan bằng chiếc tàu thủy “Danken”. Lúc này nó đang đậu ở cảng chờ tàu “Edinbua Caxla” sắp sửa từ Anh tới. Tôi mua vé, xuống tàu, và trong cùng ngày ấy, hành khách đi Natan chuyển ngay từ tàu “Edinbua Caxla” sang tàu “Danken”. Tàu nhổ neo rồi đi ra biển.
Trong số những hành khách mới xuống tàu Danken có hai người lập tức thu hút sự chú ý của tôi. Một người thuộc dòng dõi quý phái trạc ba mươi tuổi. Tôi chưa bao giờ gặp người nào to lớn như ông ta. Ông ta có mái tóc màu rơm khô, bộ râu rậm, khuôn mặt có những đường nét cân đối và đôi mắt to, sâu, màu xám. Trong đời, tôi cũng chưa thấy ai đẹp như thế, trông ông ta như một người Đan Mạch thời cổ. Nói thế tất nhiên không có nghĩa tôi biết nhiều về những người Đan Mạch cổ. Tôi chỉ biết một người Đan Mạch hiện tại nặng hơn tôi gần năm cân. Tôi nhớ có lần đã nhìn thấy đâu đó một bức tranh vẽ mấy ông quý tộc mà tôi cho là rất giống những người Dulux. Tay họ cầm những chiếc cốc bằng sừng, mái tóc dài buông xuống tận lưng. Bây giờ, nhìn con người này đang đứng cạnh cầu thang lên xuống, tôi cứ nghĩ rằng nếu ông ta để tóc dài hơn tí nữa, mang áo giáp bằng thép che bộ ngực đồ sộ của mình, đeo giáo và tay cầm cốc sừng, thì hoàn toàn có thể đứng làm mẫu cho một bức tranh như thế. Và trong thực tế (quả là một sự trùng hợp lạ lùng), sau này tôi biết được rằng trong cơ thể của Henry Curơtix - tên của con người cao to quý phái kia là thế, - đang chảy mạnh dòng máu của người Đan Mạch. Ông ta làm tôi nhớ tới một người nào đấy, nhưng cụ thể là ai thì tôi không sao nhớ nổi.
Còn người thứ hai đang đứng và nói chuyện với Henry thì lại thuộc một dạng khác. Ngay lập tức tôi đã nghĩ ông ta là sĩ quan hải quân. Tôi không biết vì sao, nhưng rõ ràng là sĩ quan hải quân. Tôi đã có dịp nhiều lần cùng đi săn với họ, và phải nói rằng họ là những người cực kì dũng cảm và đáng yêu, những người như thế thường rất hiếm. Họ chỉ có một thói xấu duy nhất là hay nói tục.
Lúc nãy tôi có tự hỏi: Thế nào là một người tử tế, một đấng quân tử? Bây giờ tôi xin trả lời: Đó là các sĩ quan của Hạm đội Nữ hoàng Anh. Tất nhiên trong số họ cũng có một ít trường hợp ngoại lệ. Tôi cho rằng biển cả bao la và gió mát mang hơi thở của Chúa đã rửa sạch trái tim họ, xua đi các ý nghĩ xấu xa khỏi tiềm thức và biến họ thành những con người chân chính. Nhưng thôi, ta quay lại câu chuyện bỏ dở. Hóa ra cả lần này tôi cũng đoán đúng. Ông ta quả là một sĩ quan hàng hải thật. Sau khi phục vụ một cách hết sức tận tình trong hạm đội của Nữ hoàng đúng mười bảy năm, đùng một cái, bất chấp cả nguyện vọng của ông ta, ông bị thải hồi và được xếp vào ngạch dự bị với chức vụ thuyền trưởng. Số phận của những người tận tuỵ phục vụ Nữ hoàng là thế đấy (Ở đây là Nữ hoàng Victoria (1819 - 1901).
Đang khi sức khỏe tràn trề, có khả năng, thừa kinh nghiệm và hiểu biết thì họ bị quẳng vào cuộc đời giá lạnh và đầy thù hằn mà không một đồng xu dính túi. Cũng có thể họ sẽ chấp nhận điều đó, nhưng tôi thì dù sao tôi cũng thích kiếm sống bằng nghề săn bắn hơn. Tôi cũng sẽ ít tiền như họ, nhưng số phận sẽ không đến nỗi quá trớ trêu như thế. Tên ông ta tôi dò tìm trong bảng danh sách những người đi tàu là Huđơ, thuyền trưởng Giôn Huđơ. Đó là một người khỏe mạnh, không cao nhưng vạm vỡ, tóc màu đen, có vẻ ngoài khá nổi bật. Ông ta ăn mặc vô cùng cẩn thận, râu cạo nhẵn thín và bao giờ cũng mang chiếc kính một mắt ở mắt phải. Tôi cứ có cảm giác như chiếc kính mọc và dính ngay vào mắt, vì ông ta mang nó mà không cần dây, gọng, và chỉ cởi ra những khi cần lau bụi. Tôi nghĩ một cách thơ ngây rằng cả khi ngủ ông ta cũng mang nó. Nhưng không, tôi nhầm. Sau này tôi biết được rằng khi ngủ, ông ta cất nó vào túi quần cùng với hai bộ răng giả cực đẹp, đến nỗi nhiều khi làm tôi phải vi phạm điều răn thứ mười của Chúa(Điều răn thứ mười khuyên không nên ghen tị với người khác), chả là vì răng của tôi không lấy gì làm tốt cho lắm. Nhưng tôi lại đi quá xa về phía trước mất rồi!
Chẳng bao lâu sau khi nhổ neo, đêm ập đến và thời tiết bỗng trở nên xấu hẳn. Gió thổi mạnh từ đất liền tới, xuất hiện sương dày ẩm ướt, và tất cả các hành khách buộc phải rời boong tàu. Chiếc tàu đáy bằng của chúng tôi chở chưa đủ nặng nên nghiêng khá mạnh, nhiều khi tưởng như sắp lật sấp. Nhưng thật may là điều ấy đã không xảy ra. Không thể đứng trên boong được nữa, tôi xuống đứng bên cạnh buồng máy ấm áp, và vì không có việc gì để làm, tôi nhìn vào chiếc máy nhỏ đo độ nghiêng của tàu. Chiếc kim chậm chạp hết quay lên rồi lại xuống, phụ thuộc vào con sóng lớn hay bé.
- Thế mà cũng máy với móc! chỉ sai bét! Tôi bỗng nghe có ai nói bên cạnh, giọng giận dữ.
Quay lại, tôi thấy đó là người sĩ quan hăng hái mà trước đấy tôi chú ý quan sát.
- Thật ư? Sao ông lại nghĩ thế?
- Nghĩ à? Chẳng có gì phải nghĩ cả! Rồi ông ta nói tiếp khi tàu lấy lại thăng bằng sau một cơn sóng mạnh. Nếu quả thật tàu nghiêng đến cái độ mà cái máy tuyệt diệu này chỉ, thì từ lâu ta đã bị lật úp. Nhưng thử hỏi còn có thể chờ gì hơn ở những gã thuyền trưởng các tàu buôn! Họ là những người cẩu thả đến không thể tin nổi!... Đúng lúc ấy thì có tiếng cồng báo hiệu giờ ăn trưa, làm tôi rất vui mừng, vì phải nghe một sĩ quan của hạm đội Anh mắng chửi các thuyền trưởng tàu buôn thì quả là điều không sao chịu nổi. Xấu hơn điều ấy chỉ có thể là nghe một thuyền trưởng tàu buôn bộc lộ ý kiến thẳng thắn của mình về các sĩ quan của hạm đội Anh!
Tôi và thuyền trưởng Huđơ đi xuống phòng ăn, và ở đấy chúng tôi đã thấy Henry Curơtix đang ngồi sẵn sau bàn. Thuyền trưởng Huđơ ngồi xuống cạnh, còn tôi thì ngồi đối diện. Tôi và thuyền trưởng Huđơ nói về chuyện săn bắn. Ông ta đặt cho tôi nhiều câu hỏi, còn tôi thì cố trả lời một cách đầy đủ nhất. Một lúc sau chuyện chuyển sang đề tài săn voi.
- Thế là các ông gặp may nhé! Một người nào đấy ngồi gần tôi nói. Nếu có người nào đấy biết kể một cách chính xác cho các ông nghe về loại voi, thì đó chỉ có thể là người thợ săn Quotécmên này.
Từ nãy tới giờ lặng lẽ ngồi nghe chúng tôi nói chuyện, vừa nghe mấy tiếng cuối cùng, Henry khẽ rùng mình.
- Xin lỗi - Ông ta nói bằng giọng trầm thấp, đúng như cái giọng của một người có bộ ngực khổng lồ như thế phải có. Thưa ông, có phải ông là Alan Quotecmen không ạ!
Tôi đáp rằng quả đúng như thế.
Henry không còn quay về phía tôi nữa, nhưng tôi vẫn nghe ông khẽ nói thầm: “Chà! May quá!”.
Sau bữa ăn trưa, khi chúng tôi đi ra khỏi phòng ăn. Henry mời tôi vào phòng ông hút thuốc. Tôi nhận lời, và chúng tôi cùng thuyền trưởng Huđơ vào phòng Henry. Đó là một căn phòng tuyệt đẹp, rộng, có cửa nhìn thẳng lên boong, một thời đã từng là hai phòng riêng biệt, nhưng bị người nào đấy trong số các nhân vật quan trọng của ta khi dùng tàu này đi dạo quanh bờ biển, đã tháo bỏ bức tường ngăn che, nhưng sau lại quên lắp vào chỗ cũ. Trong phòng có một chiếc đi văng với một chiếc bàn con trước mặt. Henry nhờ người phục vụ mang tới một chai uýtki, rồi cả ba chúng tôi ngồi xuống bắt đầu hút thuốc.
- Thưa ông Quotécmên, Henry nói với tôi khi người phục vụ mang rượu tới và thắp đèn. Năm kia, cũng vào khoảng thời gian này, hình như ông đang ở một làng nhỏ bé có tên là Bamangoato, phía bắc Transvaan phải khôn
- Vâng, tôi ở đấy. Tôi đáp, hơi ngạc nhiên vì sao con người không quen biết này lại biết rõ như thế về cuộc hành trình lang thang của tôi, mà tôi cho là chẳng có gì đáng để ý đến.
- Ông bán hàng ở đấy à? - Huđơ hỏi tôi, vẻ chăm chú.
- Vâng.
Henry ngồi đối diện tôi trong một chiếc ghế đan, tay tì vào bàn. Ông ta nhìn thẳng vào mặt tôi bằng đôi mắt xám tinh tường của mình, và tôi có cảm giác như cái nhìn của ông để lộ một thoáng lo lắng khó hiểu nào đó.
- Ơ đấy ông không gặp người nào tên là Nevin à?
Sao lại không, tất nhiên là tôi gặp! Ông ta cho đỗ xe cạnh xe tôi và ở đấy hai tuần để đàn bò kéo được nghỉ ngơi trước khi đi sâu vào nội địa. Cách đây mấy tháng, tôi có nhận được thư của một ông luật sư nào đó yêu cầu tôi báo tin về Nevin. Tôi lập tức báo cho ông ta những gì tôi biết.
-Vâng, Henry nói. - Ông ta đã gửi bức thư của ông cho tôi. Trong thư ông nói rằng có một người tên là Nevin đã rời Bamangoato từ đầu tháng năm bằng xe bò kéo với một người đánh xe và một người dẫn đường Caphơ tên là Jim; rằng Nevin có nói là ông ta định và nếu có thể, sẽ đi tới tận , điểm buôn bán cuối cùng của xứ Motabl. Ơ đấy ông ta bán xe và đi bộ tiếp. Ông cũng bảo rằng quả thật ông ta đã bán xe, vì sau đó sáu tháng, ông có thấy ông ta ở nhà một nhà buôn Bồ Đào Nha nào đó. Người này có kể lại với ông rằng ông ta đã mua cỗ xe của một người da trắng mà ông ta không nhớ tên, và có lẽ người da trắng ấy cùng với người hầu bản xứ đã đi sâu vào nội địa để săn bắn.
- Tất cả đều đúng như thế, - Tôi nói.
Tiếp đến mọi người cùng im lặng.
- Thưa ông Quotécmên, bỗng Henry lên tiếng. Tôi nghĩ có thể ông không biết hoặc không đoán biết nguyên nhân nào đã đưa người... đưa ông Nevin đến quyết định làm một chuyến du hành lên phía bắc?
- Tôi có nghe đôi điều về chuyện này. Tôi đáp rồi ngồi im vì không muốn đả động đến đề tài ấy.
Henry và Huđơ đưa mắt nhìn nhau, rồi Huđơ gật đầu một cách đầy hàm ý.
- Thưa ông Quotécmên. - Henry nói. - Tôi muốn kể cho ông nghe một câu chuyện và xin ông khuyên bảo, có thể là giúp đỡ nữa. Luật sư của tôi có đưa bức thư của ông cho tôi, và nói rằng tôi hoàn toàn có thể tin tưởng ở ông. Theo lời ông ta thì mọi người ở Natan đều biết và kính trọng ông. Ngoài ra, ông ta còn nói rằng ông là người biết giữ bí mật.
Tôi cúi xuống uống một ngụm rượu uýtki pha loãng để che giấu sự lúng túng của mình, vì tôi là người khiêm tốn hay cả thẹn. Henry nói tiếp:
- Thưa ông Quotécmên, tôi cần phải cho ông biết sự thật: Nevin là em trai tôi.
- Ồ, tôi giật mình thốt lên.
Bây giờ thì tôi hiểu Henry làm tôi nhớ đến ai khi lần đầu mới gặp. Nevin có khổ người nhỏ hơn, râu đen, nhưng đôi mắt vẫn màu xám và tinh nhanh như thế. Mặt của hai người cũng có nhiều nét giống nhau.
-Nevin là em út và là em duy nhất của tôi, Henry nói tiếp và chúng tôi bắt đầu xa nhau cách đây độ năm năm. Trước đấy, chúng tôi chẳng bao giờ xa nhau, dù chỉ một tháng. Nhưng năm năm về trước, một tai họa đã đổ xuống đầu chúng tôi: tôi và Nevin đã cãi nhau gay gắt (điều ấy đôi khi vẫn xảy ra, ngay cả với những người ruột thịt). Lúc ấy tôi đã xử sự không công bằng lắm.
Đến đây, như để khẳng định rằng quả đúng như thế Huđơ gật đầu lia lịa. Đúng lúc ấy tàu của chúng tôi nghiêng hẳn về một bên, và cái đầu luôn gật gật của ông thuyền trưởng in rõ trong chiếc gương ở ngay trên đầu tôi.
Tôi nghĩ chắc ông biết, Henry nói tiếp, rằng khi một người chết mà không để lại di chúc và không có tài sản nào khác ngoài đất đai, cái mà ở nước Anh gọi là bất động sản, thì tất cả quyền thừa kế được trao cho người con cả. Ngẫu nhiên đúng lúc chúng tôi cãi nhau thì bố chúng tôi chết, và cũng không để lại di chúc. Thành ra em tôi không được hưởng một tí gì, không đồng xu dính túi và cũng chẳng nghề nghiệp. Tất nhiên tôi phải có nghĩa vụ giúp đỡ, nhưng lúc ấy quan hệ giữa chúng tôi căng thẳng đến mức tôi phải xấu hổ mà nói rằng... (Ông thở dài một cách chua xót) rằng tôi đã chẳng làm gì để giúp em tôi. Không phải vì tôi muốn xử tệ, mà muốn em tôi là người đầu tiên chủ động hòa giải, nhưng em tôi đã không làm thế. Xin lỗi vì tôi đã bắt ông phải nghe quá chi tiết như vậy, nhưng đối với ông, mọi cái cần phải được sáng tỏ. Có đúng thế không, ông Huđơ?
- Tất nhiên là thế, ông thuyền trưởng đáp. - Tôi tin là ông Quotécmên sẽ không để ai biết chuyện này.
- Vâng, vâng. Tôi nói, các ông cứ yên tâm.
Cũng cần phải nói thêm rằng tôi rất tự hào là người biết giữ bí mật.
- Vậy là, Henry kể tiếp, lúc ấy em tôi chỉ có mấy trăm đồng bảng (Đơn vị tiền tệ Anh) ở nhà băng. Không nói với tôi một lời nào, em tôi lấy số tiền ít ỏi đó rồi lên đường đi Nam Phi dưới cái tên giả Nevin, với ước mơ điên rồ mau chóng trở thành giàu có. Điều này mãi sau này tôi mới biết. Ba năm trôi qua. Tôi không biết tin gì về em trai, mặc dù có viết thư mấy lần. Tất nhiên em tôi không nhận được chúng. Càng ngày tôi càng lo lắng thêm về số phận của em tôi. Tôi là người hiểu rõ thế nào là tình cảm ruột thịt, thưa ông Quotécmên.
- Vâng, hẳn thế. - Tôi khẽ đáp và chợt nghĩ về Henry, con trai tôi.
- Tôi sẵn sàng chịu mất cả nửa gia tài của tôi để được biết rằng em tôi còn sống, khỏe mạnh và tôi có thể gặp lại!
- Nhưng để làm được điều ấy thì hi vọng không thôi chưa đủ, ông Henry ạ. - Thuyền trưởng Huđơ vừa nói tiếng một, vừa nhìn Henry.
Thế đấy, thưa ông Quotécmên, càng ngày tôi càng muốn biết em tôi còn sống hay không, và nếu sống thì làm thế nào đưa được về nhà. Tôi đã làm tất cả những gì có thể làm được để tìm kiếm, và kết quả là nhận được bức thư của ông. Các tin tức tôi thu thập được đều đáng mừng, vì qua chúng, tôi biết rằng cách đây không lâu Georg, em tôi, còn sống. Nhưng những gì xảy ra tiếp theo thì còn là một điều bí mật. Nói tóm lại, tôi quyết định tự mình đến đây để tìm Georg, và thuyền trưởng Huđơ đã đồng ý cùng đi với tôi.
Ông biết đấy, ông thuyền trưởng lên tiếng. Dù sao thì tôi cũng chẳng còn việc gì khác để làm. Các huân tước cầm đầu bộ tư lệnh hải quân đã đuổi tôi khỏi hạm đội để chết đói với đồng lương chỉ còn một nửa. Còn bây giờ, thưa ông, xin ông hãy nói cho chúng tôi tất cả những gì ông biết về con người mang tên Nevin nọ.
Tôi cho thuốc vào tẩu, thong thả chưa muốn trả lời vội.
- Thế ông đã nghe được những gì về cuộc hành trình tiếp theo của em tôi? Đến lượt mình, Henry hỏi.
- Tôi biết được một điều mà, - Tôi đáp, - cho đến nay tôi chưa hé lộ cho ai biết, rằng em trai ông đã lên đường đi tìm kho báu của vua Xolomon (Vua của dân tộc Ixraen, 1020-980 trước Công nguyên).
- Kho báu của vua Xolomon? - Cả hai người nghe xong cùng thốt lên. - Nhưng nó nằm ở đâu?
- Tôi không biết, - Tôi nói. - Tôi chỉ nghe người ta đồn đại về nó. Thật ra thì đã có lần tôi nhìn thấy đỉnh của những ngọn núi mà phía bên kia là kho báu của vua Xolomon, nhưng giữa tôi và những ngọn núi ấy là cả một sa mạc rộng tới một trăm ba mươi dặm, và như tôi được biết, chưa hề có người da trắng nào, trừ một người duy nhất, vượt qua nổi sa mạc ấy. Hay tốt hơn để tôi kể các ông nghe truyền thuyết về kho báu của vua Xolomon mà tôi đã nghe được? Nhưng các ông phải hứa với tôi rằng nếu không được tôi cho phép, các ông sẽ không nói lại với bất kì ai, được không? Tôi có những liù do chính đáng để yêu cầu các ông điều ấy.
Henry gật đầu đồng ý, còn thuyền trưởng Huđơ thì nói:
- Tất nhiên, tất nhiên!
- Vâng, tôi xin bắt đầu, - Tôi nói. - Chắc các ông cũng biết rằng làm nghề săn voi là những người thô lỗ và thực tế. Họ không quan tâm gì hơn ngoài những việc sinh hoạt hàng ngày và các phong tục của thổ dân Caphơ. Kể ra đôi lúc trong số họ cũng có người thích thu thập các truyền thuyết của người bản xứ, để qua đó cố hình dung phần nào lịch sử của đất nước đầy bí hiểm mà mình đang sống. Chính từ một người như thế, lần đầu tiên tôi được nghe về kho báu của vua Xolomon. Điều này xẩy ra cách đây gần ba mươi năm, trong chuyến săn voi đầu tiên của tôi ở xứ Motablâ. Người ấy tên là Ivan. Một năm sau thì anh ta chết. Một con trâu bị thương đã húc anh ta, tội nghiệp. Anh ta được chôn gần thác nước Dămbêdi. Tôi nhớ một lần vào ban đêm, tôi kể cho anh ta nghe về cái mỏ quặng kì lạ mà tôi gặp trong khi săn sơn dương, Cudu ( (2) Các loài khác nhau thuộc họ sơn dương.) và Cany (2) ở khu vực mà giờ được gọi là Lideburg thuộc Tifranxvaan. Tôi nghe nói cách đây không lâu các nhà công nghiệp vàng lại lần nữa khám phá ra khu mỏ này, nhưng tôi đã biết về nó từ nhiều năm trước. ƠŒ đấy, xuyên qua núi đá dựng đứng, người ta làm một con đường rộng dẫn vào mỏ hoặc hầm ngầm. Trong hầm chứa những đống thạch anh có hàm lượng vàng đã chuẩn bị sẵn để nghiền...
“Hừ, - Ivan nói. - Để tớ kể cho cậu nghe một chuyện khác còn kì lạ hơn nhiều”.
Rồi anh ta bắt đầu kể cho tôi nghe rằng thật ra, xa tít trong nội địa, có lần ngẫu nhiên anh ta đã gặp một thành phố hoàn toàn đổ nát. Theo anh ta thì đó là Ophirơ, thành phố được nhắc đến trong Kinh Thánh. Cần phải nói rằng mãi sau này, khi Ivan đã chết không ít người có học hơn nhiều đã khẳng định ý kiến anh ta là đúng. Tôi nhớ tôi đã nghe tất cả những điều ấy một cách say sưa như nghe một câu chuyện kì thú, vì lúc ấy tôi còn trẻ; và câu chuyện về nền văn minh cổ và các kho báu mà những nhà phiêu lưu người Iuđê và Finiki đã tìm thấy ở đó khi đất nước lại một lần nữa rơi vào tình trạng mông muội tàn nhẫn, đã kích thích trí tò mò của tôi. Bỗng nhiên Ivan hỏi tôi:
“Cậu đã bao giờ nghe nói về các dãy núi Xulâyman ở phía tây bắc vùng đất Masuculumbue (Một tỉnh ở Nam Phi) chưa?”.
Tôi đáp rằng tôi chưa nghe gì cả.
“Thế thì thế này nhé, - anh ta nói, - chính ở đấy có các kho báu của vua Xolomon. Các kho báu chứa đầy kim cương”.
“Do đâu mà cậu biết?” - Tôi hỏi.
“Do đâu à? Lại còn do đâu nữa! Xulâyman chẳng phải là gì khác ngoài chữ ”Xolomon“ đọc chệch mà thành. Hơn nữa, chính một mụ thầy lang ở Manica đã nói với tớ điều ấy. Mụ ta nói rằng bộ lạc sống bên kia núi là một nhánh của bộ lạc Dulux (Một bộ lạc da đen sống ở Đông Nam châu Phi trở thành hùng mạnh vào đầu thế kỷ XIX.), nói bằng tiếng Dulux, nhưng người ở đấy đẹp hơn và cao to hơn những người Dulux. Họ có những nhà pháp thuật vĩ đại, học được các phép lạ từ người da trắng khi “thế giới còn đang hỗn độn, tăm tối”; những nhà pháp thuật này biết được bí mật về các kho báu chứa đầy các hòn đá óng ánh”.
Tất nhiên lúc ấy tôi cho câu chuyện này chỉ đáng buồn cười, dù nó làm tôi chú ý, vì các mỏ kim cương còn chưa được khám phá. Còn anh chàng Ivan tội nghiệp thì chẳng bao lâu sau bỏ đi nơi khác và chết như tôi đã nói. Suốt hai mươi năm tiếp theo tôi hoàn toàn không nhớ gì tới câu chuyện của anh ta.
Nhưng sau đấy hai mươi năm. Đó là một quãng thời gian dài, thưa các ông, vì săn voi là một nghề nguy hiểm và ít ai sống qua nổi chừng ấy năm. Vâng, sau đấy hai mươi năm tôi lại được nghe cụ thể hơn về dãy núi Xulâyman và về đất nước bị che khuất phía bên kia. Lúc ấy tôi đang ở một làng nhỏ có tên là Xitandi, nằm ngoài địa phận Manica. Đấy là một chỗ không tốt lắm: Ăn thì chẳng có gì, mà thú để săn bắn cũng không có nốt. Tôi bị sốt nặng và cảm thấy trong người rất khó chịu. Một hôm có một người Bồ Đào Nha tới làng. Đi theo ông ta chỉ có một thằng hầu. Cần phải nói rằng tôi biết khá rõ về bọn người Bồ Đào Nha ở Delegoa(Cảnh và vịnh cùng tên ở Đông Nam bờ biển Châu Phi.) - Trên đời này không có ai xấu xa hơn chúng, những kẻ béo lên nhờ máu và sự đau khổ của nô lệ.
Nhưng con người này lại khác xa những tên tôi thường gặp. Ông ta làm tôi nhớ tới những người Tây Ban Nha lịch sự mà tôi thường gặp trong sách. Đó là một người cao, gầy, có đôi mắt đen và bộ ria mép xoăn bạc trắng. Chúng tôi chuyện trò với nhau một lúc. Ông ta có thể nói được tiếng Anh, tuy sai bét, còn tôi cũng hiểu đôi chút bằng tiếng Bồ Đào Nha. Ông ta nói rằng tên ông ta là Hoxe Xenvext, và rằng ông ta có một khoảng đất ở Vịnh Delegoa. Ngày hôm sau, khi lên đường cùng anh hầu người lai, ông ta đã ngả mũ chào từ biệt tôi bằng một động tác đẹp nhưng ít nhiều cổ lỗ.
Tạm biệt ông, - Ông ta nói. - Nếu có lúc nào đó ta còn gặp nhau thì lúc ấy tôi đã là người giàu nhất thế giới, và tôi sẽ không quên ông”.
Điều ấy làm tôi vui lên đôi chút, dù tôi còn quá yếu để mỉm cười với ông ta. Tôi thấy ông ta đi về hướng tây, về phía sa mạc mênh mông và tôi tự hỏi phải chăng ông ta là một người điên, và định tìm gì ở đấy?
Một tuần sau tôi khỏi bệnh. Một tối nọ tôi ngồi trước chiếc lều bạt nhỏ mà tôi vẫn mang theo bên mình, và gặm nốt chiếc đùi cuối cùng của con gà ốm nhom mà tôi phải đổi bằng một tấm vải, mà tấc vải ấy lẽ ra đáng giá hai mươi con như thế. Tôi ngước nhìn mặt trời đỏ rực đang chìm dần trong sa mạc, và bỗng nhận thấy có một người nào đấy đang bò trên ngọn đồi phía trước, cách tôi khoảng ba trăm mét (Trong nguyên bản tác giả dùng các đơn vị đo lường riêng của Anh, để bạn đọc dễ hình dung, khi dịch, chúng tôi đổi sang các đơn vị đo lường quốc tế quen thuộc, tức là thành mét, kilômét, kilôgam, vân vân...). Cứ theo quần áo mà xét thì đó là một người châu Âu. Lúc đầu người ấy bò bằng bốn tay chân, sau đó đứng dậy, lảo đảo đi được mấy mét. Rồi ông ta lại ngã và bò tiếp. Đoán rằng người này gặp chuyện gì đó chẳng lành, tôi liền cho một trong những người thợ săn của tôi chạy ra giúp đỡ. Một chốc sau người ta đưa ông ta tới. Hoá ra... các ông thử nghĩ xem đó là ai?
- Tất nhiên là Hoxe Xenvext! - Thuyền trưởng Huđơ kêu lên.
Vâng. Hoxe Xinvext! Hay nói chính xác hơn là bộ xương bọc da của ông ta. Do bị sốt, mặt ông ta ngả màu vàng, và ông ta gầy đến nỗi con ngươi của đôi mắt to màu đen như muốn tuột ra khỏi hố mắt. Xương của ông ta nồi hẳn lên sau lớp da vàng như nghệ, còn tóc thì bạc trắng.
Nước, hãy vì Chúa mà cho tôi ít nước!” - Ông ta rên rỉ, đôi môi khô nứt nẻ, lưỡi thì sưng rộp và đen sì.
Tôi cho ông ta uống nước có pha lẫn ít sữa, và ông ta uống một hơi hết ít nhất là hai lít. Tôi không dám cho uống thêm. Sau đó ông ta lên cơn sốt, ngã xuống và bắt đầu nói mê về dãy núi Xulâyman, về kim cương và sa mạc. Tôi đưa ông ta vào lều và làm những gì có thể làm được để ông ta đỡ đau đớn. Tôi biết trước thế nào ông ta cũng chết. Gần mười một giờ đêm, ông ta đỡ hơn chút ít. Tôi cũng nằm xuống nghỉ và ngủ thiếp. Rạng sáng hôm sau tôi tỉnh dậy và nhìn thấy thân hình gầy gò, kì lạ của ông ta trong ánh sáng mờ mờ. Ông ra ngồi, nhìn đăm đăm về phía sa mạc. Bỗng nhiên những tia nắng đầu tiên soi sáng cả một vùng bằng phẳng rộng lớn đang trải ra trước mặt chúng tôi, rồi lướt qua các đỉnh xa nhất của dãy núi Xulâyman cách chúng tôi hơn một trăm dặm.
- Kia, nó kia! - Người Bồ Đào Nha sắp chết kêu lên, chìa cánh tay dài, gầy khô của mình về phía trước.
- Nhưng chẳng bao giờ tôi còn có thể đi được tới đấy, chẳng bao giờ. Và cũng chẳng bao giờ có ai làm được điều đó. - Rồi bỗng ông ta im lặng như thể đang suy nghĩ điều gì. - Này anh bạn. - Ông ta quay sang tôi, nói. - Anh ở đây à? Tôi thấy mắt tôi đang lóa lên và tất cả như tối sầm lại".
- Vâng, tôi ở đây. - Tôi nói. - Ông hãy nằm xuống nghỉ cho khỏe".
- Chốc nữa tôi sẽ nghỉ. - Ông ta đáp. - Tôi sẽ có nhiều thời gian để nghỉ, nghỉ suốt đời! Tôi sắp chết! Anh đã đối xử với tôi rất tốt. Tôi sẽ trao cho anh một tài liệu. Có thể anh sang được bên kia cũng nên, nếu anh vượt qua nổi cái sa mạc đã làm hại tôi và thằng hầu tội nghiệp của tôi”.
- Rồi ông ta sờ sờ trong ngực và rút ra một cái túi trông như chiếc túi đựng thuốc lá may bằng da sơn dương. Nó được cột chặt bằng một sợi dây da mà ở đây chúng tôi gọi là rimpi. Ông ta định cởi dây nhưng không được, đành đưa cho tôi. “Anh hãy mở nó ra” - Ông ta nói. Tôi làm theo và rút từ túi ra một mảnh vải rách đã ngả màu vàng, trên đó có vẽ những hình gì đó và những dòng chữ có màu như màu gỉ sắt (FXem bản đồ ở đầu sách.). Bên trong còn có một tờ giấy.
Ông ta nói tiếp rất khẽ, vì sức đã kiệt.
Trên tờ giấy có ghi tất cả những điều có trên tấm vải. Tôi đã phải bỏ ra nhiều năm để tìm hiểu những cái này. Anh hãy lắng nghe tôi. Ông cụ tổ xa xưa của tôi là một người tị nạn chính trị từ Lixbon, một trong những người Bồ Đào Nha đầu tiên đặt chân lên bờ biển nước này. Cụ đã viết tài liệu này trong khi hấp hối ở dãy núi mà cả trước đấy, cả sau này chưa hề in dấu chân người da trắng. Tên của cụ là Hoxe Xinvext, sống cách đây ba trăm năm. Người nô lệ đứng chờ cụ ở bên này núi đã tìm thấy xác cụ và mang các thứ này về Delegoa. Từ ấy đến nay nó vẫn được giữ trong nhà, nhưng không ai cố đọc để hiểu nó, cho đến lúc chính tôi làm điều ấy. Việc này đã bắt tôi trả giá bằng chính cuộc sống của mình, nhưng nó có thể giúp người khác thành công và trở thành người giàu nhất thế giới - Vâng, giàu nhất thế giới! Có điều anh không được đưa tờ giấy này cho ai, mà phải tự mình đi đến đấy!”.
Sau đấy ông ta lại bắt đầu mê sảng và một giờ sau thì tắt thở.
Cầu mong cho linh hồn ông ta được yên nghỉ nơi chín suối! Ông ta chết một cách bình thản, và tôi đào mộ thật sâu để chôn ông ta, trên mộ có lèn những tảng đá to để chồn cáo khỏi moi xác lên. Rồi tôi lên đường rời khỏi nơi đó.
- Thế tờ giấy kia thì sao? - Henry hỏi tôi sau khi đã lắng nghe một cách rất chăm chú.
- Vâng, vâng, tờ giấy viết gì vậy? - Thuyền trưởng Huđơ hỏi thêm.
- Được, nếu các ông muốn, thưa các ông, tôi sẽ nói các ông nghe. Tôi chưa hề đưa nó cho ai xem, còn ông lão lái buôn người Bồ Đào Nha luôn say nhè, người đã dịch nó sang tiếng Anh cho tôi thì chỉ ngay sáng hôm sau đã quên sạch những gì lão dịch. Mẩu vải thật tôi để ở nhà, ở Durban, cùng với bản dịch của Đôn Hoxe, nhưng tôi có đây bản dịch tiếng Anh và bản đồ chép lại, nếu nói chung có thể gọi đó là bản đồ được. Đây, nó đây. Còn bây giờ thì hãy nghe tôi đọc: tôi, Hôxêđa Xinvertơra, lúc này đang hấp hối vì đói trong một hang động nhỏ, nơi tuyết không bay vào được, ở bờ dốc phía bắc đỉnh núi gần nhất về phía nam, một trong hai ngọn núi mà tôi gọi là Cặp vú của Nữ hoàng Xava. Tôi viết những dòng này bằng máu của chính mình vào năm 1590, bằng một mẩu xương nhỏ trên mảnh vải xé từ chiếc áo tôi đang mặc. Nếu người nô lệ của tôi tìm thấy tấm vải này khi đến đây, và mang nó về Delegoa, tôi nhờ bạn tôi là (tên bị nhòe không rõ) báo cho nhà vua biết về điều tôi đang viết để Ngài phái quân đội đến đây. Nếu quân đội của Ngài vượt qua nổi sa mạc, núi, và đánh thắng những người Cucuan dũng cảm cùng các phép phù thủy ghê gớm của họ (để làm được điều này cần mang theo thật nhiều linh mục), thì Ngài sẽ trở thành ông vua giàu nhất từ thời vua Xolomon tới nay. Tôi đã tự mắt nhìn thấy một khối lượng khổng lồ các viên kim cương trong kho báu Xolomon, ở sau Thần chết Trắng, nhưng vì sự phản bội của Gagula, một mụ chuyên làm nghề săn bắt phù thủy, tôi đã chẳng mang được cái gì khỏi đó, và may lắm mới thoát chết. Ai muốn đi tới kho báu Xolomon, xin cứ theo con đường tôi vẽ trên bản đồ rồi trèo lên theo các sườn núi phủ tuyết phía bên trái vú Nữ hoàng Xava cho đến tận đỉnh mới thôi. ƠŒ sườn núi phía bắc sẽ bắt đầu con đường vĩ đại do vua Xolomon xây dựng. Theo đường này, đi ba ngày sẽ tới nơi vua Cucuan ở. Phải tìm cách giết chết Gagula. Hãy cầu nguyện cho linh hồn tôi được yên nghỉ. Vĩnh biệt, Hoxe Xinvext".
Khi tôi đọc xong và chìa ra bản sao tấm bản đồ được vẽ bằng cánh tay run rẩy của ông già người Bồ Đào Nha, máu thay mực, thì mọi người im lặng một hồi lâu. Hai người bạn mới của tôi rất đỗi ngạc nhiên.
-Vâng, cuối cùng thuyền trưởng Huđơ lên tiếng. - Tôi đã hai lần đi vòng quanh thế giới, đặt chân tới khá nhiều nơi, nhưng cứ để người ta treo cổ tôi lên, nếu có lúc nào đó tôi đã được nghe hay được đọc một câu chuyện kì lạ thế này.
- Đúng, một chuyện rất kì lạ, thưa ông Quotécmên. - Henry nói thêm. - Tôi hi vọng rằng ông không đùa chúng tôi chứ? Tôi biết rằng người ta đôi lúc vẫn tự cho phép mình làm những điều như thế đối với những người lạ.
- Nếu ông thực tình nghĩ như thế thì, thưa ông Henry Curơtix, có lẽ ta kết thúc mọi chuyện ở đây thì hơn, - Tôi nói giọng bực bội rồi gấp tờ giấy cho vào túi, nhỏm dậy định bước đi. - Tôi không thích người ta xem tôi là một trong những anh chàng khoác lác luôn lấy việc dối làm tiêu khiển và luôn khoe khoang với những người mới từ xa đến về những chuyện săn bắn phiêu lưu, kì lạ mà trong thực tế không hề có.
Bằng một động tác an ủi, Henry để bàn tay to khỏe của mình lên vai tôi.
- Ngồi xuống đã, ông Quotécmên. - Ông ta nói. - Và hãy thứ lỗi cho tôi. Tôi cũng biết rằng ông không định lừa dối chúng tôi, nhưng chắc ông cũng đồng ý với tôi, rằng câu chuyện ông vừa kể lạ lùng đến mức nếu tôi có chút hoài nghi thì cũng là điều dễ hiểu.
-Các ông sẽ được thấy bản đồ thật và mảnh giấy khi chúng ta tới Durban, - tôi nói, sau khi đã lắng dịu. Rồi ngẫm lại, tôi thấy Henry đã nói đúng. - Nhưng tôi còn chưa nói gì về em trai ông. Tôi biết người đầy tớ của ông ta, tên là Jim. Jim cùng đi theo chủ. Đó là một anh chàng người bản xứ rất thông minh, quê ở Beauana, và là một người thợ săn giỏi. Tôi gặp Jim vaò buổi sáng khi ông Nevin chuẩn bị lên đường. Anh ta đứng bên xe, thái thuốc để hút tẩu.
"Jim, - Tôi hỏi, các anh định đi đâu đấy? Săn voi à?”.
“Không, thưa ông chủ, - Anh ta đáp. - Chúng tôi đi tìm cái gì đấy còn quý hơn ngà voi nhiều”.
“Cái gì? - Tôi hỏi vì tò mò. - Vàng à?”.
“Không, thưa ông chủ, - Còn quý hơn cả vàng”. Rồi anh ta cười.
Tôi chẳng hỏi câu nào thêm vì không muốn tỏ ra tò mò, và bằng cách ấy hạ thấp giá trị của mình. Tuy nhiên, những lời anh ta nói đã làm tôi rất quan tâm.
Bỗng Jim ngừng thái thuốc.
“Thưa ông chủ”. - Anh ta nói.
Tôi làm ra vẻ không nghe thấy.
“Thưa ông chủ”, - Anh ta nhắc lại.
“Vâng, có gì thế, anh bạn?” - Tôi lên tiếng.
“Thưa ông chủ, chúng tôi đi tìm kim cương”.
“Tìm kim cương? Thế thì các anh không được đi về phía ấy, mà phải về phía mỏ”.
“Thưa ông chủ, ông đã khi nào nghe nói về núi Xulâyman chưa ạ?”.
“Có gì!”.
“Thế ông có nghe rằng ở đấy có kim cương không?”.
“Tôi có nghe người ta kể một vài câu chuyện ngu ngốc về điều ấy, cậu Jim ạ”.
“Không phải chuyện ngu ngốc đâu, thưa ông chủ. Ngày xưa tôi có biết một người đàn bà từ phía ấy đi về đây, về Natan, cùng một đứa con nhỏ. Chính bà ta đã kể cho tôi nghe. Bây giờ bà ta đã chết rồi”.
“Ông chủ của cậu sẽ làm mồi cho chim ưng, Jim ạ, nếu ông ta không từ bỏ ý định đi đến đất nước Xulâyman. Cả cậu cũng thế, nếu lũ chim ấy tìm thấy cái gì đó ăn được trong bộ xương vô tích sự của cậu”, - Tôi nói.
Anh ta chỉ cười.
“Có thể như thế, thưa ông chủ. Nhưng con người trước sau rồi cũng chết, mà tôi thì muốn thử tìm hạnh phúc nơi đất mới. Vả lại, ở đây chẳng bao lâu nữa sẽ chẳng còn con voi nào để săn”.
“Thế cơ à? - Tôi nói. - Được, cứ chờ đấy, rồi ông già mặt trắng (Ý nói thần chết) sẽ tìm lấy cái cổ màu vàng của cậu lúc ấy cậu sẽ nói khác cho mà xem”.
Nửa giờ sau tôi đã thấy cỗ xe của ông Nevin chuyển bánh. Bỗng Jim quay lại chạy về phía tôi.
"Thưa ông chủ, - anh ta nói, - Tôi không muốn ra đi mà không từ biệt ông chủ, vì có lẽ ông chủ nói đúng. Chúng tôi sẽ chẳng còn bao giờ quay lại”.
“Nghĩa là ông chủ của cậu định đi tới núi Xulâyman thật à, hay cậu nói dối, Jim?”.
"Không, - Jim đáp. - Quả đúng thế ạ. Ông ấy nói rằng bằng bất kì giá nào, ông ta cũng sẽ trở thành giàu có. Nếu vậy thì tại sao ông ta không thử làm giàu bằng kim cương?”.
"Chờ tôi một lát, Jim, - Tôi nói. - Cậu hãy cầm mẩu giấy tôi chuyển cho chủ cậu, có điều cậu phải hứa là sẽ không đưa cho chủ cậu chừng nào chưa tới Ainaiti”.
“Được,” - Jim đáp.
Tôi lấy một mẩu giấy và ghi lên đó: “Người nào định đi tới kho báu của vua Xolomon, hãy trèo lên theo các sườn núi phủ tuyết phía bên trái vú nữ hoàng Xava cho đến tận đỉnh mới thôi. ƠŒ sườn núi phía bắc sẽ bắt đầu Con đường vĩ đại do vua Xolomon xây dựng”.
"Jim, - Tôi dặn, - Khi đưa mảnh giấy này cho chủ cậu, hãy nói với ông ta là phải theo đúng lời khuyên này. Đừng quên là cậu không được đưa nó bây giờ, vì tôi không thích ông ta quay lại hỏi những câu hỏi mà tôi không muốn trả lời. Còn bây giờ thì đi đi, đồ lười, xe đã đi khá xa rồi đấy".
Jim cầm mảnh giấy rồi chạy đuổi theo xe. Đó là tất cả những gì tôi biết về em trai của ông, thưa ông Henry. Nhưng tôi e rằng...
- Thưa ông Quotécmên, - Henry ngắt lời tôi. - Hiện nay tôi đang đi tìm em tôi. Tôi sẽ đi theo tới tận núi Xulâyman và nếu cần, có thể xa hơn thế. Tôi sẽ đi chừng nào tìm thấy mới thôi, hoặc tới khi biết được rằng em tôi đã chết. Ông có đi cùng tôi không?
Như đã nói, tôi nghĩ tôi là một người thận trọng, lại ưa thật yên tĩnh và khiêm tốn, nên đề nghị này đã làm tôi ngạc nhiên và ít nhiều sợ hãi. Tôi cho rằng thực hiện một chuyến du hành như thế thực chất là tự mình đi tìm cái chết. Thêm vào đó, không nói đến các mặt khác, tôi còn phải giúp đỡ con trai tôi, và vì vậy tôi không thể cho phép mình chết nhanh như thế.
- Không, cảm ơn, thưa ông Henry. Tôi không thể nhận lời được, - Tôi đáp. - Tôi đã quá già để tham gia vào những việc điên rồ như vậy, những việc mà chắc chắn sẽ mang đến một sự kết thúc không hơn gì cái kết thúc của anh bạn Xinvextơ đáng thương của tôi. Tôi có một đứa con trai đang cần sự giúp đỡ của tôi, và tôi không có quyền đánh liều cuộc sống của tôi.
Henry và thuyền trưởng Huđơ tỏ vẻ rất thất vọng.
- Thưa ông Quotécmên, - Henry nói. - Tôi là một người giàu có và kiên định trong các ý kiến của mình. Nếu ông đồng ý giúp đỡ tôi, ông có thể yêu cầu bất kì một sự đền bù nào. Số tiền đó sẽ được thanh toán trước khi lên đường. Đồng thời, nếu không may chúng ta chết, tôi sẽ lo trước để con trai ông được giúp đỡ một cách thỏa đáng. Tôi nói thế ông cũng đủ hiểu sự có mặt của ông cần thiết với tôi đến nhường nào. Nếu chúng ta may mắn đến được kho báu Xolomon và tìm thấy kim cương, thì số kim cương ấy sẽ chia đôi giữa ông và thuyền trưởng Huđơ. Tôi không cần. Tôi nghĩ khó lòng mà đến được đấy vì hầu như ta hoàn toàn không có tí hi vọng nào để làm được điều đó, nhưng tôi tin rằng dọc đường chúng ta có thể kiếm được ngà voi, và các ông cứ chia đều với nhau. Ông có thể đặt điều kiện cho tôi, ông Quotécmên ạ. Thêm vào đó, tất nhiên tôi sẽ chịu hết mọi phí tổn của chuyến du hành.
- Thưa ông Henry,- Tôi nói.- Chưa bao giờ tôi nhận được một đề nghị hào phóng như thế, và một thợ săn, một nhà buôn nghèo như tôi cần phải biết nắm lấy cơ hội này. Nhưng từ trước tới nay tôi chưa gặp phải một công việc lớn thế này, nên tôi cần có thời gian để suy nghĩ kĩ õ. Ít ra thì tôi cũng sẽ cho ông biết quyết định của tôi trước khi chúng ta tới Durban.
- Rất tốt, - Henry nói.
Sau đó tôi chúc hai người ngủ ngon rồi đi về phòng mình. Đêm hôm ấy tôi nằm mơ thấy kim cương và Xinvenxtơ, người đã chết từ lâu.
lặng.
thiensu96 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn  
Trả Lời Với Trích Dẫn
Dưới đây là những người đã click Thanks thiensu96 về bài viết hay này:
Unread 13-05-2012, 07:51 AM   #3
Default

Chương 2
AMBOV TỰ NGUYỆN ĐẾN PHỤC VỤ

Để đi bằng đường biển từ Keptao đến Durban, phải mất bốn hoặc năm ngày, tùy vào thời tiết và tốc độ tàu đi nhanh hay chậm. ƠŒ London Đông (Một cảng ở Nam Phi trên bờ Thái Bình Dương) cảng còn chưa được xây xong, dù đã đổ vào đấy khá nhiều tiền. Vì vậy đáng lẽ được cập bến sát cầu tàu ở một cảng được trang bị hiện đại, thì cho đến tận bây giờ tàu vẫn phải thả neo ngoài xa. Nếu biển động, nhiều khi còn phải chờ hàng mấy ngày liền, cho đến khi có tàu kéo thuyền từ bờ đến chở người và bốc hàng. Nhưng thật may, lần này chúng tôi không phải chờ. Khi tàu chúng tôi đến London Đông, biển động không đáng kể, và từ bờ lập tức người ta cho tàu kéo ra, kéo theo một dẫy dài các thuyền đáy dẹt trông thật xấu xí. Từ tàu của chúng tôi, người ta ném sang chúng từng kiện hàng, mà không cần biết bên trong đựng gì: cả len, cả đồ sứ đều được ném xuống thành một đống. Đứng trên boong, tôi nhìn thấy một hòm đựng độ dăm chục chai sâm banh bị ném vỡ, chảy tung tóe, sủi bọt trên mặt sàn chiếc thuyền chở hàng bẩn thỉu. Thật là khó chịu khi phải chứng kiến chừng ấy rượu ngon bị làm hỏng một cách vô liù. Đám công nhân bốc hàng người Capphơ cũng nhanh chóng nhận ra điều đó. Họ tìm thấy hai chai may mắn còn nguyên, mở nút và uống sạch. Rượu sâm banh làm họ say ngay lập tức. Những người Capphơ này hoàn toàn không ngờ lại như vậy. Vô cùng hoảng sợ, họ vừa lảo đảo đi lại giữa thuyền, vừa kêu to rằng thứ nước uống này bị ta ga ti<D>, nghĩa là đã bị phù phép. Tôi bắt chuyện với họ, và nói rằng họ đã phải uống thứ thuốc độc ghê gớm nhất của người da trắng, và rằng họ sẽ chết. Trong cơn sợ hãi hoang dại, họ vội nắm lấy tay chèo và con thuyền lao vun vút vào bờ. Tôi tin rằng từ đây cho đến chết, họ sẽ chẳng bao giờ dám động tới chai rượu sâm banh nữa.
Suốt dọc đường tới Natan, tôi luôn suy nghĩ về đề nghị của Henry Curơtix. Hai ngày đầu chúng tôi không đả động đến vấn đề này, mặc dù ở bên nhau. Tôi kể cho Henry và thuyền trưởng Huđơ nghe về các chuyện săn bắn phiêu lưu và mạo hiểm của tôi, không hề thêm bớt hay phóng đại điều gì, như cảnh phường săn vẫn thường làm. Tôi cho rằng chúng tôi, những người đi săn ở châu Phi, không cần thiết phải làm như vậy. Với chúng tôi vẫn thường xẩy ra những chuyện lạ lùng, đến mức không cần bịa thêm cũng đã rất hấp dẫn. Nhưng thôi, cái ấy không liên quan đến câu chuyện tôi đang kể.
Cuối cùng, vào một ngày tháng giêng đẹp trời. - ƠŒ chỗ chúng tôi, tháng giêng là tháng nóng nhất - Con tàu của chúng tôi bắt đầu đến gần Natan. Chúng tôi đi dọc bờ biển xanh tươi xinh đẹp, hi vọng sẽ vòng qua mũi Durban vào lúc hoàng hôn. Bờ biển đẹp một cách lạ lùng với những cồn cát màu nâu đỏ và những khu rộng mọc đầy cây xanh biếc che kín các làng xóm của người Capphơ. Từng đợt sóng chạy vào bờ va phải đá, quay ngược trở lại, làm thành những dải bọt màu trắng viền quanh. Nhưng thiên nhiên ở Durban mới đặc biệt hào phóng. Trong suốt nhiều thế kỷ nước mưa chảy mạnh, bào mòn, khoét sâu các khe đồi núi, làm thành những dòng sông lấp lánh dưới ánh mặt trời. Trên nền xanh thẫm của những bụi cây thấp dày, thỉnh thoảng lại xuất hiện một rừng mít hoặc một bãi mía. Đây đó giữa biển cây xanh rờn ấy nhô lên những ngôi nhà màu trắng như mỉm cười với biển hiền lành, làm tăng thêm vẻ đẹp và sự ấm cúng gia đình của bức tranh toàn cảnh.
Tôi nghĩ, cho dù thiên nhiên có đẹp đến đâu cũng vẫn cần có bàn tay con người. Có thể tôi cảm thấy như vậy vì trong một thời gian quá dài tôi sống ở những nơi hẻo lánh hoang dã, nên tôi đánh giá cao các tiện nghi do con người tạo nên, dù cái tiện nghi văn minh ấy đã xua đuổi các loài thú. Tất nhiên, cả khi con người chưa xuất hiện, vườn tiên trên thiên đường vẫn đẹp, nhưng từ lúc có nàng Eva dạo chơi trong vườn, nó càng trở nên đẹp hơn.
Nhưng thôi, xin quay lại chuyện chính. Chúng tôi đã tính nhầm. Mặt trời lặn từ lâu, tàu chúng tôi mới thả neo cách vịnh Durban không xa, và mới vang lên phát súng báo tin cho dân chúng Durban biết có tàu chở thư và bưu phẩm từ nước Anh đến. Giờ mà lên bờ thì đã quá muộn, nên chúng tôi đứng nhìn người ta chuyển thư xuống chiếc canô cấp cứu một lúc rồi đi ăn tối.
Khi chúng tôi quay lại đứng trên boong thì trăng đã lên cao, chiếu sáng mặt biển và đất liền, làm những ngọn đèn hải đăng luôn luôn quay nhanh trở nên nhợt nhạt. Từ phía bờ bay ra một mùi thơm dìu dịu mà bao giờ cũng làm tôi nhớ tới các bài hát nhà thờ và các nhà truyền đạo. Từ một chiếc tàu khá to đậu bên cạnh bay đến tiếng nhạc và tiếng hát của những người thuỷ thủ đang nhổ neo chuẩn bị rời bến.
Ba chúng tôi, nghĩa là tôi, Henry Curơtix và thuyền trưởng Huđơ đi lại và ngồi xuống bên bánh lái.
- Thế nào, thưa ông Quotécmên, - sau một phút im lặng, Henry quay sang tôi hỏi. - Ông đã suy nghĩ kĩ lời đề nghị của tôi rồi chứ?
- Vâng, vâng! - Huđơ phụ thêm, - ông quyết định thế nào? hi vọng rằng ông sẽ nhận lời, đúng không? Chúng tôi sẽ rất lấy làm sung sướng nếu được ông đồng ý đi theo chúng tôi không những tới kho báu của vua Xolomon, mà tới bất cứ nơi nào có con người mà ông biết dưới cái tên Nevin.
Tôi lặng lẽ đứng dậy, đi đến bên lan can, moi tàn thuốc ra khỏi tẩu. Tôi không biết phải trả lời thế nào. Tôi cần ít nhất là một phút nữa để suy nghĩ thêm trước khi đi đến quyết định cuối cùng. Nhưng đúng vào lúc mẩu tro thuốc đỏ hồng lóe lên trong bóng tối, tôi bỗng quyết định - Đồng ý! Trong đời vẫn thường xẩy ra như thế: Ta do dự rất lâu, mãi không biết nên làm gì, cuối cùng chỉ trong nháy mắt, ta quyết định tất cả.
- Được, thưa các ông. - Tôi nói và ngồi xuống chỗ của mình. - Tôi xin nhận lời. Nếu các ông cho phép, tôi sẽ nói rõ vì sao tôi nhận lời, và nhận lời với điều kiện như thế nào. Xin bắt đầu từ điều kiện.
Thứ nhất la: Ngoài việc ông Henry phải chịu mọi phí tổn liên quan đến cuộc hành trình, tất cả ngà voi và các của quý khác kiếm được dọc đường đi, sau này chỉ được chia đều làm hai phần cho thuyền trưởng Huđơ và tôi.
Thứ hai là: Thêm vào đó, trước khi lên đường, ông sẽ trả công cho tôi với số tiền năm trăm bảng. Phần tôi, tôi có trách nhiệm phải phục vụ ông một cách mẫn cán cho đến khi ông quyết định bỏ dở cuộc hành trình, hoặc khi chúng ta đạt được mục đích hay sẽ chết.
Thứ ba la: Trước khi lên đường đi tới núi Xulâyman, ông phải làm giấy cam đoan, trong đó nói rõ việc trong trường hợp tôi chết hoặc bị tàn tật suốt đời, ông sẽ trợ cấp cho con trai tôi là Hary hiện đang học y ở London mỗi năm hai trăm bảng trong vòng năm năm. Đến lúc ấy, con trai tôi đã trưởng thành và có thể tự kiếm sống, tất nhiên nếu nó là người có khả năng và chí thú làm ăn. Tất cả các điều kiện của tôi là thế. Có thể các ông sẽ cho tôi yêu cầu quá nhiều?
- Không, không! - Henry vội nói. - Tôi xin vui lòng chấp nhận mọi điều kiện của ông. Tôi đã quyết định bất kì giá nào cũng phải tìm em tôi bằng được và tôi sẽ không thay đổi ý định đó của mình. Đánh giá cao kinh nghiệm và sự hiểu biết lớn của ông trong việc này, tôi sẵn sàng trả cho ông hơn thế.
- Thế thì tiếc là tôi đã không yêu cầu hơn, - tôi nói. - Nhưng tôi không bao giờ lấy lại lời nói của mình. Còn bây giờ tôi sẽ nói vì sao tôi quyết định đi với các ông trong một cuộc hành trình dài và nguy hiểm như thế. Trước hết, thưa các ông, tôi phải thú nhận rằng mấy ngày qua tôi đã chú ý quan sát các ông, và mong các ông không cho tôi là thiếu tế nhị, nếu tôi nói rằng tôi rất quý mến các ông. Tôi tin rằng chúng ta sẽ hợp ý nhau, đó là điều rất quan trọng cho một chuyến đi lâu dài. Còn về bản thân cuộc hành trình. Tôi muốn nói tới việc ta định vượt núi Xulâyman thì xin nói thẳng rằng khó mà chúng ta sống sót nổi để quay lại. Ta thử xem số phận của ông già Hoxe Xinvext cách đây ba trăm năm đã kết thúc thế nào? Rồi số phận của người bà con ông ta cách đây hai mươi năm? Và cuối cùng là của em trai ông nữa? Thưa các ông, tôi tin một cách chắc chắn rằng số phận của chúng ta cũng chẳng hơn gì.
Tôi ngừng nói để xem tác động của lời tôi đến hai người ra sao. Tôi có cảm giác rằng thuyền trưởng Huđơ ít nhiều tỏ ra lo lắng: còn mặt của Henry thì thậm chí hơi biến sắc.
- Chúng ta phải liều thôi, - ông nói, vẫn bằng cái giọng thản nhiên hàng ngày.
- Chắc các ông sẽ lấy làm lạ. Tôi nói tiếp, rằng dù thấy trước như thế, tôi vẫn quyết định đi với các ông, hơn nữa tôi lại là người vốn nhút nhát. Có hai nguyên nhân. Trước hết, tôi là người tin ở định mệnh. Tôi tin rằng cái chết của tôi hoàn toàn không phụ thuộc vào các việc làm và mong muốn của tôi. Và nếu tôi phải đi tới núi Xulâyman để chết ở đó, thì nghĩa là số phận bắt tôi phải vậy. Tất nhiên Thượng đế toàn năng biết rõ Ngài sắp sửa làm gì với tôi, vì vậy tự tôi, tôi chẳng cần quan tâm tới điều ấy. Nguyên nhân thứ hai là tôi là một người nghèo. Mặc dù làm nghề săn voi đã gần bốn mươi năm nay, tôi vẫn chẳng dành dụm được gì vì tiền tôi kiếm được chỉ vừa đủ sống. Tất nhiên các ông biết rằng săn voi là một nghề mạo hiểm, và thường những người làm nghề này chỉ kéo dài được bốn hoặc năm năm. Thế mà tôi đã vượt cái thời hạn được quy định ấy đã bảy tám lần, vì vậy, tôi nghĩ có lẽ tôi chẳng còn sống bao lâu nữa. Nếu tôi chết trong khi đi săn, thì sau khi trả hết nợ nần, Hary, con trai tôi, người đang rất cần được giúp đỡ để học hành nên người, sẽ chẳng còn đồng nào để sống. Còn nếu tôi đi với các ông, nó sẽ được bảo đảm trong năm năm. Đấy, đại khái các suy nghĩ của tôi là như vậy.
-Thưa ông Quotécmên,- Henry nói sau khi đã lắng nghe tôi rất chăm chú. - Những nguyên nhân khiến ông cùng đi với chúng tôi vào một cuộc hành trình mà theo ông có thể kết thúc rất bi thảm, đã nâng cao thêm phẩm giá của ông. Tất nhiên, chỉ thời gian và kết quả công việc sẽ chỉ rõ rằng ông đúng hay sai. Nhưng riêng tôi, dù chết hay không, tôi vẫn quyết định theo đuổi đến cùng. Mà nếu số phận quả tình bắt ta phải chết thì tôi hi vọng rằng trước khi chết, ta còn kịp săn bắn chút ít. Ông có cho là thế không, ông Huđơ?
- Đương nhiên là thế, - ông thuyền trưởng nói - Cả ba chúng ta đều đã nhiều lần giáp mặt thần chết, nên chắc sẽ không nản chí. Vì vậy rút lui là điều không nên. Còn bây giờ tôi đề nghị ta cùng xuống phòng ăn để uống mừng sự khởi đầu tốt đẹp này.
Ngày hôm sau chúng tôi xuống bờ và tôi đề nghị Henry cùng thuyền trưởng Huđơ đến ở trong ngôi nhà khiêm tốn của tôi trên bờ Bêrêa. Nhà tôi chỉ có ba phòng và một gian bếp, được xây bằng gạch không nung, còn mái thì che bằng tôn. Nhưng để bù lại, tôi có một khu vườn rất đẹp, trong đó tôi trồng các cây musaula Nhật Bản thuộc loại giống tốt nhất, và trồng nhiều cây mãng cầu mà tôi đang chờ thu hoạch một vụ thắng lợi. Giống cây này do ông giám đốc vườn bách thảo tặng tôi. Tôi có một người làm vườn, tên là Giéc, vốn là một trong những người trước đây giúp tôi đi săn. Khi chúng tôi cùng ông ta săn ở đất nước Xicucunix, một con trâu cái đã húc vào đùi ông ta, vết thương sâu đến nỗi ông ta buộc phải từ giã vĩnh viễn nghề săn bắn. Nhưng ông ta vẫn còn có thể cà nhắc đi lại chăm sóc khu vườn được. Giéc là người thuộc bộ lạc Gricva nổi tiếng không thích đánh nhau. Không ai có thể bắt một người Dulux làm vườn được, vì đơn giản là anh ta không muốn phí sức cho một nghề hiền lành như thế.
Vì nhà tôi chật nên Henry và Huđơ ngủ trong chiếc lều vải tôi dựng lên ở giữa hai hàng cây cam cuối vườn. Cam đang độ ra hoa tỏa hương thơm dễ chịu, còn trên cành thì treo lủng lẳng những chùm quả còn xanh hoặc đã chín vàng (cần phải nói thêm rằng ở Durban một lúc người ta có thể nhìn thấy ngay trên một cây cả hoa lẫn trái). Khu vực chúng tôi ở đẹp, ngủ ngoài trời rất dễ chịu, vả lại ở Bêrêa lại hầu như không có muỗi, nếu có cũng chỉ hoạ hoằn, sau những trận mưa lớn.
Tuy nhiên, cần phải kể tiếp câu chuyện của chúng ta, nếu không Hari, con trai tôi, sẽ phát chán trước khi chúng tôi đến được núi Xulâyman. Thế là sau khi quyết định cùng đi với Henry, lập tức tôi bắt tay vào công việc chuẩn bị. Trước hết, tôi nhận từ tay Henry tờ cam đoan bảo đảm tương lai cho con trai tôi. Trong việc này cũng có một ít khó khăn, vì Henry không phải là người sở tại, và tiền ông ta sẽ cấp cho con trai tôi trong trường hợp tôi chết còn nằm ở nước Anh. Nhưng cuối cùng rồi chúng tôi cũng giải quyết ổn thỏa, nhờ sự giúp đỡ của một luật sư khôn khéo, người đã bắt chúng tôi trả một khoản tiền lớn đến không chịu nổi - Những hai mươi đồng bảng Xteclinh!
Nhét tờ séc năm trăm đồng bảng vào túi và bằng cách ấy biểu hiện tính cẩn thận của mình, rồi dùng tiền của Henry tôi mua một chiếc xe cùng đàn bò kéo tuyệt diệu. Thùng xe dài gần tám mét, trục sắt, rất vững và nhẹ, có điều không được mới lắm. Một lần nó đã đi tới các mỏ kim cương và quay lại mà không hề bị sứt mẻ gì. Điều này lại càng làm tôi yên tâm, rằng nó được làm bằng thứ gỗ khô đã chịu qua thử thách. Nếu xe được làm bằng thứ gỗ tươi hay đóng dối, thì tự nó sẽ để lộ ngay chuyến đi đầu tiên. Độ bốn mét phần sau của thùng xe được che bằng vải bạt không thấm nước. Còn phần trước dùng để chở hàng thì để trần. Loại xe này ở chỗ chúng tôi được gọi là xe “nửa kín nửa hở”. Phần sau được dùng làm chỗ nghỉ ngơi, có chiếc giường bằng da thú có thể ngủ hai người một lúc, có gác để vũ khí và các vật dụng khác. Tôi mua nó với giá một trăm hai mươi lăm bảng, và cho rằng như thế là rẻ.
Sau đấy, tôi mua một đàn bò kéo tuyệt vời gồm hai mươi con bò đực giống Dulux mà trong vòng hai năm trước đấy tôi đã chú ý tới. Thông thường một cỗ xe chỉ cần mười sáu con kéo, nhưng để dự phòng, tôi mua thêm bốn con nữa.
Giống bò Dulux thường thấp đi lại nhẹ nhàng, to chỉ bằng một nửa giống bò Aphricanđerơ vẫn thường được dùng để kéo xe chở hàng nặng. Loại bò bé này ít bị bệnh long móng hơn, dễ nuôi và có khả năng thích hợp với những hoàn cảnh khó khăn nhất. Hơn thế, chúng có thể sống ở những nơi mà giống bò Aphricanđerơ phải chết vì đói. Giống bò Dulux nhẹ nhàng và đi nhanh, nếu không phải kéo quá nặng, một ngày chúng có thể đi được năm dặm. Ngoài ra, chúng đã được thử thách nhiều vì đã từng đi ngang dọc khắp Nam Phi. Vì vậy, trong một chừng mực nào đó, đàn bò của chúng tôi đã được bảo đảm để không mắc thứ bệnh dịch vẫn thường làm chết cả đàn khi chúng đi qua những thảo nguyên xa lạ. Còn để tránh bệnh phổi khủng khiếp, tức là bệnh lao thì chúng đã được tiêm phòng trước. Để làm điều ấy, người ta lấy dao cắt một tí da ở quãng cách cuống đuôi ba mươi phân rồi lấy một tí phổi của con bò chết vì bệnh lao đắp vào đó. Một thời gian sau, con bò ấy sẽ mắc bệnh lao, nhưng ở dạng nhẹ, dần dần cái đuôi sẽ chết và rụng ở chỗ cắt, và như thế là con bò đã được miễn dịch. Tất nhiên là tàn nhẫn khi cắt đuôi của con vật, nhất là ở những nước có quá nhiều ruồi muỗi, nhưng biết làm thế nào được. Thà mất đuôi còn hơn mất cả đuôi lẫn bò. Không có con bò thì cái đuôi chẳng dùng được vào việc gì, họa chăng để phủi bụi. Nhưng dù sao cũng khá là buồn cười khi ta đi sau đàn bò và thấy trước mặt mình một lúc hai mươi mẩu cụt thay cho hai mươi chiếc đuôi dài tuyệt đẹp.
Sau khi vấn đề xe và bò được giải quyết xong, đến lúc phải nghĩ tới thực phẩm và thuốc men, việc này cần phải được thảo luận một cách hết sức kĩ lưỡng. Chúng tôi không được chở quá nặng, nhưng lại phải mang rất nhiều thứ cần thiết cho một chuyến đi dài ngày như thế này. Rất may là hóa ra thuyền trưởng Huđơ có biết ít nhiều về y. Bằng cách nào đó, có thời ông ta đã từng học qua một lớp về y và phẫu thuật, và rồi sau đấy thỉnh thoảng vẫn ứng dụng cái kiến thức của mình vào thực tế. Tất nhiên, ông ta không có bằng cấp, nhưng sau này chúng tôi nhận ra là trong nghề này, ông ta còn hiểu biết hơn nhiều các đức ông, đức bà được nhận quyền ghi trước tên họ mình hai chữ “bác sĩ”. Ông ta có một tủ thuốc lưu động, rất đầy đủ và một bộ đồ mổ. Khi chúng tôi còn ở Durban, ông ta cắt ngón chân phải cho một người Caphơ khéo léo đến mức nhìn mãi mà không chán. Nhưng ông ta thật sự kinh ngạc lúc người kia, sau khi quan sát toàn bộ cuộc phẫu thuật một cách rất bình tĩnh, liền yêu cầu Huđơ gắn cho một mình một ngón chân mới, không có đen thì trắng cũng được.
Lo xong ổn thỏa chuyện thực phẩm và thuốc men. Chúng tôi bắt tay vào lo sắm vũ khí và thuê người giúp việc. Về vũ khí, tốt hơn để tôi ghi ra đây bản liệt kê các thứ chúng tôi đã chọn trong số vũ khí dự trữ phong phú do Henry mang từ Anh sang, và cả trong số vũ khí mà tôi có. Bản liệt kê này có trong sổ ghi chép của tôi, bây giờ chỉ việc chép lại:
“Ba súng hai nòng loại lớn bắn trực diện, mỗi khẩu nặng bảy cân, thường dùng để săn voi”. Hai trong số ba khẩu ấy cho Henry và thuyền trưởng Huđơ - Được các nghệ nhân tuyệt vời của một hãng nổi tiếng ở London chế tạo. Tôi không biết khẩu của tôi do hãng nào sản xuất, nó không được đẹp lắm, nhưng đã được thử thách trong những lần săn voi của tôi.
"Ba súng hai nòng kiểu Express - 500, bắn phát một” - là loại súng tuyệt vời, đặc biệt dùng để săn các loại thú bé hơn, như sơn dương chẳng hạn, đồng thời cũng là loại súng không thể thay thế được khi cần phải tự vệ ở những địa bàn trống trải.
“Một súng hai nòng loại mười hai li, đạn nhồi thì bắn trực diện”.
Về sau khẩu súng này đã giúp chúng tôi rất nhiều trong việc kiếm thịt ăn hàng ngày.
“Ba khẩu súng trường có hộp đạn kiểu wincherter không phải ca-ra-bin)”
Đó là kho vũ khí dự trữ của chúng tôi. Còn vũ khí phòng thân gồm có ba khẩu côn tự động loại lớn.
Cần phải nói thêm rằng súng của mỗi loại đều do một hãng sản xuất cùng cỡ, nên chúng tôi có thể dùng chung đạn. Đó là điều rất tiện lợi và quan trọng. Tôi phải xin lỗi vì có thể đã làm bạn đọc mệt khi phải nghe một bản liệt kê quá chi tiết như thế, nhưng ai đi săn có kinh nghiệm đều biết rằng việc chọn vũ khí quan trọng nhường nào đối với một chuyến thám hiểm.
Bây giờ tôi đi sang vấn đề người giúp việc, những người sẽ đi theo chúng tôi.
Sau khi tranh luận khá lâu, chúng tôi quyết định rằng chỉ cần mang theo năm người là đủ: Một người dẫn đường, một người đánh xe và ba người giúp việc. Cả người dẫn đường lẫn người đánh xe tôi tìm không khó lắm. Đó là hai người Dulux tên là Hôda và Tôm. Tìm thuê người giúp việc hóa ra lại phức tạp hơn. Chúng tôi cần những người dũng cảm, đáng tin cậy, vì cuộc sống của chúng tôi phụ thuộc vào chính hành động của họ. Cuối cùng, tôi cũng tìm được hai người, một người Gôtentôta (Một trong những bộ lạc ở Nam Phi) tên là Venfogen, có nghĩa là “Con chim của gió”, và Hiva, một người Dulux nhỏ bé có một ưu điểm rất lớn là biết nói tiếng Anh khá thành thạo. Trong đời tôi, tôi ít khi gặp được một người thợ săn giỏi như thế. Anh ta là người giỏi chịu đựng đến ngạc nhiên, dù bề ngoài trông hầu như chỉ toàn gân với xương. Chỉ tiếc rằng anh ta có một khuyết tật đặc trưng cho cả bộ lạc của anh ta nói chung là thích uống rượu. Vì vậy không thể tin tưởng anh ta hoàn toàn được: Chỉ cần đặt trước mặt anh ta một chai grog( Một loại rượu mạnh) là anh ta quên hết mọi thứ trên đời. Nhưng vì chúng tôi đi đến những nơi không có hàng ăn và quán rượu, nên cái khuyết tật nho nhỏ ấy cũng không đến nỗi quan trọng lắm.
Người thứ ba thì mãi tôi vẫn không tìm được, và chúng tôi đã quyết định là sẽ lên đường với chỉ hai người giúp việc, hi vọng dọc đường sẽ tìm thêm được một người nào đó thích hợp. Nhưng đúng trước ngày xuất phát, vào buổi tối, khi chúng tôi đang ăn thì Hiva đi vào báo rằng có một anh chàng Dulux đến tìm tôi. Ăn xong, tôi bảo Hiva dẫn anh ta vào. Đó là một người to cao, đẹp, độ ba mươi tuổi, và so với người Dulux thì da rất trắng.
Thay cho câu chào, anh ta giơ cao chiếc gậy sần sùi rồi lặng lẽ ngồi xổm trong góc phòng. Trong khoảng mấy phút tôi làm ra vẻ không nhận thấy sự có mặt của anh ta. Sẽ là một điều hớ hênh, nếu tôi cư xử khác vì một khi bạn bắt chuyện với người bản xứ ngay, họ sẽ cho bạn là người chẳng ra gì và không có lòng tự trọng. Nhưng tuy thế, tôi đã kịp nhận ra anh ta là Kesla tức là người đeo vòng. Quanh đầu anh ta là một chiếc vòng lớn bằng cao su và được bôi mỡ cho bóng. Chỉ những người Dulux nào có danh tiếng và đạt đến một lứa tuổi nhất định mới được đeo loại vòng như thế. Tôi trông mặt anh ta quen quen.
- Thế nào, - Cuối cùng tôi hỏi. - Tên anh là gì?
- Ambov. - Anh ta đáp bằng một giọng trầm dễ nghe.
- Tôi đã gặp anh đâu đó.
- Vâng, Incôôzi (Tiếng địa phương - Thưa thủ lĩnh) Ông đã gặp tôi ở Litton Len ở Iganchiana (Nơi xảy ra trận đánh giữa người Anh và người Du-lu, ngày 22 tháng Giêng 1879; 1.400 binh lính và sĩ quan Anh bị giết) trước khi trận đánh bắt đầu.
Nghe nói thế, tôi liền nhớ ra ngay. Trong cuộc chiến tranh với người Dulux, tôi là một trong những người dẫn đường của Huân tước Semfod. Rất may rằng tôi đã kịp rời doanh trại cùng những chiếc xe được giao cho tôi trước khi trận đánh bắt đầu. Trong khi thắng bò vào xe, tôi đã chuyện trò với anh chàng này. Anh ta cầm đầu toán người địa phương chiến đấu bên phía chúng tôi. Trong khi trò chuyện, anh ta có tỏ ý nghi ngờ về an ninh của doanh trại. Lúc ấy tôi bảo anh ta liệu mà giữ mồm giữ miệng, vì việc này vượt quá óc thông minh của anh ta, nhưng sau này không ít khi tôi đã nhớ tới những lời anh ta nói.
- Tôi nhớ ra rồi, - Tôi nói. - Nhưng anh cần gì ở tôi?
- Chuyện là thế này, thưa Macumazan (người Caphơ gọi tôi là như vậy, dịch ra có nghĩa là “người dậy sau nửa đêm”. Còn theo cách nói của ta thì đơn giản là “người bao giờ cũng cảnh giác”). Tôi nghe nói ông chuẩn bị làm một chuyến du hành xa lên phía bắc cùng các thủ lĩnh da trắng khác mới từ bên kia Hồ nước Vĩ đại tới, có đúng thế không ạ?
- Đúng!
- Tôi nghe nói các ông sẽ đi tới tận sông Luanga, cách Manica một tuần trăng. Cả điều ấy cũng đúng, phải không, thưa Macumazan?
- Anh cần biết chúng tôi đi đâu để làm gì? Việc này liên quan gì đến anh? - Tôi đáp và nhìn anh ta vẻ nghi ngờ, vì chúng tôi đã quyết định giữ bí mật mục đích của chuyến đi.
- Ôi, hỡi những người da trắng! - Anh ta kêu lên.
- Nếu các ông quả thật định đi xa như thế, thì tôi muốn đi theo các ông!
Tôi ngạc nhiên vì giọng điệu và cung cách con người này nói chuyện. Anh ta tỏ ra rất biết tự trọng, và trong con người anh ta có một cái gì đấy thuộc về nội tâm cao quý. Tôi ngạc nhiên nhất khi anh ta kêu: “Ôi, hỡi những người da trắng” thay cho “Ôi, Incôôzi”, tức là thưa thủ lĩnh mà tôi vẫn nghe.
- Anh quên rồi à! - Tôi nói, giọng gay gắt. - Hãy suy nghĩ kĩ trước khi nói chuyện với người da trắng. Anh là ai và làng của anh ở đâu? Hãy trả lời, để chúng tôi biết đang nói chuyện với ai.
- Tên tôi là Ambov. Tôi thuộc bộ tộc Dulux, nhưng thực ra tôi không phải người Dulux. Quê hương của bộ tộc tôi ở xa về phía bắc. Bộ tộc tôi tiếp tục ở lại đấy trong khi những người Dulux khác đi xuống đây. Điều này xảy ra cách đây một nghìn năm, rất lâu trước thời vua Chaca trị vì Đất nước Dulux. Tôi không có làng. Tôi đi nay đây mai đó đã nhiều năm nay. Từ phương bắc tôi tới Đất nước Dulux khi còn bé. Sau đó tôi phục vụ vua Kesvaio(Vua của người Dulux sống vào nửa sau thế kỷ XIX) trong trung đoàn Nconabacozi. Từ Đất nước Dulux, tôi chạy tới Natan vì tôi muốn biết người da trắng sống như thế nào. Ơ đây mọi cái đã làm tôi chán, và tôi lại muốn đi về phương bắc. Đó cũng không có chỗ cho tôi. Tôi không cần các ông trả tiền công. Tôi là người dũng cảm và giúp đỡ nhiều cho các ông. Tôi sẽ làm việc để trả cho thức ăn mà tôi ăn và chỗ sưởi bên đống lửa. Tôi đã nói hết.
Tôi hoàn toàn lúng túng trước đề nghị của người này. Căn cứ vào cử chỉ và cách nói năng tự nhiên mà xét thì rõ ràng là nói chung anh ta đã nói đúng sự thật. Nhưng việc anh ta khác xa những người Dulux khác, và cả việc anh ta xin đi theo chúng tôi mà không đòi tiền công, nghe có vẻ khác thường, đến mức không thể không làm tôi nghi ngờ. Chưa biết trả lời thế nào, tôi dịch cho Henry và Huđơ nghe cuộc nói chuyện của chúng tôi và xin hai người cho biết ý kiến. Thay cho câu trả lời, Henry yêu cầu tôi nói với Ambov để anh ta đứng dậy.
Tụt bỏ chiếc áo khoác dài vẫn mặc khi đánh nhau Ambov đứng thẳng người, và trước chúng tôi là một người rất cao lớn, hầu như hoàn toàn trần truồng, nếu không kể chiếc khố và chuỗi hạt làm bằng xương sư tử.
Trong đời mình, tôi chưa bao giờ thấy một người bản xứ nào đẹp như thế. Anh ta cao hơn một mét chín mươi, vai rộng và đặc biệt là rất cân đối. Dưới ánh đèn, da anh ta trông đen hơn nước da ngăm bình thường một tí, dấu vết của vô số các mũi giáo đâm bị thương in lên cơ thể của anh ta trở thành từng chấm đen.
Henry bước lại gần và nhìn chăm chú vào khuôn mặt đẹp, kiêu hãnh của Ambov.
- Thật là một đôi tuyệt đẹp! Huđơ cúi xuống bên tôi, nói. - Ông nhìn kìa, hầu như họ cao bằng nhau.
- Tôi rất thích diện mạo của ông, ông Ambov, Henry nói bằng tiếng Anh với người Dulux, - Và tôi sẽ nhận ông vào phục vụ chúng tôi.
Hình như Ambov hiểu vì sau đó anh ta đáp bằng tiếng Dulux: “Rất tốt”. Rồi nhìn thân hình đồ sộ của người da trắng, anh ta nói thêm:
- Chúng ta là những người đàn ông thực sự, cả tôi, cả ông.
lặng.
thiensu96 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn  
Trả Lời Với Trích Dẫn
Unread 13-05-2012, 07:52 AM   #4
Default

Chương 3
SĂN VOI

Tôi không định kể ra đây một cách tỉ mỉ tất cả những chuyện xảy ra với chúng tôi trong suốt quãng đường dài đến làng Xitandi cách Durban hơn một nghìn dặm, nơi hai con sông Lucanga và Caliuxve gặp nhau. Ba trăm dặm cuối cùng hay cũng gần như thế, chúng tôi buộc phải đi bộ vì lúc này thường xuyên xuất hiện loại ruồi xêxê kinh khủng có nọc độc làm chết tất cả các loài vật, trừ lừa.
Chúng tôi rời Durban vào cuối tháng giêng, và khi hạ trại gần làng Xitandi đã là tuần thứ hai của tháng năm. Dọc đường chúng tôi gặp nhiều chuyện kì lạ khác nhau, nhưng bởi lẽ những chuyện như thế vẫn xảy ra với bất kì người nào làm nghề săn bắn ở châu Phi, nên để cuốn sách của tôi đỡ buồn chán, tôi chỉ xin phép được kể tỉ mỉ về một chuyện.
Ơ Ainaiti - Điểm buôn bán cuối cùng của xứ Motabl do vua Lobendula cai trị (Nhân tiện cũng nói thêm rằng hắn là một thằng láo lếu kinh khủng) - Mặc dù rất tiếc, chúng tôi vẫn buộc phải chia tay với cỗ xe tiện lợi của mình. Đàn bò tuyệt vời gồm hai mươi con chúng tôi mua ở Durban nay chỉ còn lại mười hai con. Một con chết vì rắn hổ mang cắn, hai con vì đói và thiếu nước, một con lạc rồi mất, ba con còn lại thì chết vì ăn phải thứ cỏ độc thuộc họ uất kim cương. Cũng vì loại cỏ ấy mà năm con khác bị bệnh, nhưng chúng tôi đã chữa khỏi bằng cách cho uống nước lá uất kim cương. Nếu dùng kịp thời, thì đây là một loại thuốc giải độc rất công hiệu. Cỗ xe và đàn bò chúng tôi giao trực tiếp cho Hôxa và Tôm, là những chàng trai có thể tin được, còn các tài sản khác thì trước đó chúng tôi đã nhò một nhà truyền đạo người Xcôtlan sống ở vùng đất hoang dã này trông coi. Sau đó, với sự hộ tống của Ambov, Hiva, Venfogen và nửa tá những người khuân đồ Caphơ khác, chúng tôi đi bộ tiếp, để thực hiện cái ý định điên rồ của mình.
Tôi nhớ là lúc lên đường, chúng tôi đều im lặng trong một hồi lâu. Chắc lúc ấy người nào cũng nghĩ rằng khó mà được nhìn lại cỗ xe một lần nữa. Còn tôi thì tôi tin một cách chắc chắn là như thế. Chúng tôi lặng lẽ bước đi. Bỗng Ambov đang đi phía trước hát lên một bài hát Dulux nói về chuyện có mấy người dũng cảm do chán cuộc sống đơn điệu hàng ngày và các đồ vật quá thân quen, đã lên đường đi vào sa mạc mênh mông để tìm một cái gì đấy mới lạ ở đó, hoặc sẽ chết. Và khi đã vào sâu trong sa mạc và đang thất vọng thì - Ôi, thật là kì diệu, - Họ bỗng nhận ra rằng đây không phải là sa mạc, mà là một vùng đất tuyệt vời, nơi có nhiều phụ nữ trẻ và súc vật béo tốt, nhiều muông thú để săn bắn và nhiều kẻ thù để chém giết.
Tất cả chúng tôi trở nên vui vẻ và cho đó là một điều lành. Ambov là người vui tính. Kể ra thỉnh thoảng anh ta lại rơi vào một trạng thái buồn bã, ảm đạm nhưng nói chung là người rất biết kích thích lòng nhiệt tình và sự sảng khoái của người khác, thêm vào đó, anh ta bao giờ cũng có ý thức tự trọng. Tất cả chúng tôi đều yêu mến anh ta.
Bây giờ tôi lấy làm sung sướng được kể ra đây một câu chuyện, vì thú thật tôi là người rất thích các câu chuyện về săn bắn.
Từ Ainaiti đi được hai ngày đường thì chúng tôi gặp một chỗ xinh đẹp một cách đáng ngạc nhiên. Đất ở đây ẩm ướt. Các ngọn đồi cao đứng bên nhau tạo thành những chiếc khe mọc đầy các bụi gai aidor (dân bản xứ gọi giống cây này là thế), hoặc các bụi wachteenbeihe(hãy chờ một chút). Ơ đấy cũng mọc nhiều cây machahen tuyệt đẹp với những chùm quả chín vàng bên trong có những chiếc hạt dẹt rất lớn. Thứ quả này là món ăn được voi đặc biệt ưa thích. Ơ vùng này có voi, điều ấy dễ dàng nhận thấy qua các dấu chân của chúng, cũng như qua việc nhiều nơi cây cối bị bẻ gãy, vì như ta biết, khi ăn, voi thường tàn phá hết mọi cái xung quanh.
Một chiều nọ, sau một ngày đi xa và mệt, chúng tôi bước ra một vùng đất đẹp đến kì lạ. Dưới chân ngọn đồi mọc đầy bụi gai là một khúc sông đã khô cạn nhưng vẫn còn đôi vũng nước trong vắt như pha lê, xung quanh in nhiều dấu chân thú. Phía trước đồi là một vùng bằng phẳng trông như công viên, có cây trinh nữ với những chiếc tán bằng phẳng, mọc thành từng cụm, chính giữa là những cây machahen lá lấp lánh. Vừa ra tới con đường men theo bờ sông, chúng tôi đã làm hoảng sợ cả một đàn hươu cao cổ đang ngật ngưỡng đi một cách thật buồn cười, đuôi uốn lên cao. Khi chúng cách chúng tôi gần ba trăm mét, tức là ở quãng xa hầu như súng bắn không tới, thì Huđơ, lúc này đang đi phía trước đã không kìm được nữa. Ông ta nâng súng lên, nạp đạn rồi bắn vào con cái chạy cuối cùng. Bằng một phép lạ nào đó, viên đạn trúng ngay vào cổ, làm gãy cột xương sống và con hươu ngã lộn vòng tròn như một chú thỏ. Chưa bao giờ tôi được thấy một cảnh tượng kì lạ như thế.
- Quỷ tha ma bắt nó đi!- Thuyền trưởng Huđơ kêu to. (Tôi rất lấy làm tiếc là mỗi lần hồi hộp, theo thói quen, ông ta lại văng ra nhiều chữ không thật tế nhị lắm mà chắc ông ta đã học được trong bước đường công danh thủy binh của mình). - Quỷ tha ma bắt nó đi! Chính tôi đã bắn chết nó!
- Ou, Bugwan! (Vâng, thưa Buguan!) - Những người khuân đồ người Caphơ kêu lên. - Ou, ou! (vâng, vâng!).
Họ gọi Huđơ là Buguan (“Mắt thủy tinh”) vì ông ta đeo kính một mắt.
- Vâng, Buguan! - Như tiếng vọng, tôi và Henry phụ theo.
Từ ngày hôm ấy Huđơ nổi tiếng, ít nhất là trong đám người Caphơ, là một tay thiện xạ kì tài. Thực ra ông ta bắn khá tồi, nhưng sau đấy chúng tôi chẳng bao giờ để ý tới các lần ông ta bắn trượt, mà chỉ nhớ mãi phát súng tuyệt diệu nọ.
Sau khi sai một vài người giúp việc cắt lấy những phần thịt ngon nhất, chúng tôi bắt tay vào làm bờ rào ngăn chỗ nghỉ cách gần một trăm mét phía bên phải một vũng nước. Công việc được tiến hành như thế này: Chúng tôi chặt một khối lượng lớn các cây gai chất thành một vòng tròn. Khoảng trống ở giữa được san bằng, chính giữa chúng tôi làm một chiếc giường bằng cỏ tambuca đã khô, tất nhiên nếu xung quanh có thứ cỏ ấy, rồi đốt một hoặc vài đống lửa. Khi chỗ nghỉ được chuẩn bị xong, thì trăng đã lên và bữa cơm tối gồm bít tết thịt hươu và xương sọ rán cũng đã sẵn sàng. Chúng tôi ăn một cách ngon lành món xương sọ ấy, dù thực ra đập vỡ chúng không phải là một việc dễ.
Trong đời, tôi chưa ăn cái gì ngon hơn óc hươu cao cổ, tất nhiên trừ món tim voi mà ngay ngày hôm sau chúng tôi đã được thưởng thức.
Dưới ánh trăng tròn vành vạnh, chúng tôi ngồi bên bàn tiệc khiêm tốn của mình, chốc chốc lại ngừng ăn để lần nữa cảm ơn ông thuyền trưởng đã bắn một phát súng lịch sử. Sau đấy chúng tôi hút thuốc và bắt đầu nói chuyện gẫu. Ai nhìn chúng tôi ngồi xổm xung quanh đống lửa lúc ấy chắc phải cho là kì dị lắm.
Cái đập vào mắt trước tiên là sự tương phản giữa tôi và Henry. Tôi gầy, người nhỏ, da ngăm ngăm, mái tóc bạc dựng đứng như răng lược, và cân nặng chỉ sáu mươi kilôgam, còn Henry thì người cao to, vai rộng, tóc vàng và cân nặng gần chín mươi lăm kilôgam. Nhưng nếu nhìn nhận vấn đề từ mọi khía cạnh thì phải nói rằng nổi bật hơn cả trong ba chúng tôi là thuyền trưởng Giôn Huđơ, cựu sĩ quan của Hạm đội Nữ hoàng Anh. Ông ta ngồi trên chiếc túi da, và tôi có cảm tưởng như ông ta vừa quay về sau một ngày đi săn vui vẻ ở một nước văn minh nào đó, vì trông ông ta hoàn toàn sạch sẽ, cẩn thận và ăn mặc rất chải chuốt. Ông ta mặc bộ quần áo đi săn may bằng vải len màu nâu sẫm, đội chiếc mũ cùng màu, chân đi đôi tất dài tận gối. Nói chung, tôi chưa bao giờ nhìn thấy ở sa mạc Châu Phi hoang dã một người nào râu ria nhẵn nhụi, gọn ghẽ và hào hoa như thế. Bộ răng giả của ông ta cũng không chê vào đâu được và ở mắt phải, như thường lệ, vẫn cái kính một mắt độc đáo ấy. Ông ta thậm chí không quên đeo chiếc cổ áo hồ cứng trắng như tuyết mà ông ta mang theo dự trữ rất nhiều.
- Ông biết đấy, chúng rất nhẹ, - Huđơ thật thà bảo tôi khi tôi tỏ ý ngạc nhiên về chuyện này. - Mà tôi thì lại thích ăn mặc lịch sự.
Cứ thế, chúng tôi ngồi nói chuyện với nhau dưới ánh trăng huyền diệu, trong khi cách chúng tôi mấy mét, những người Caphơ ngồi bình thản hút thứ thuốc ngây ngất từ chiếc tẩu được làm bằng sừng sơn dương Nam Phi. Cuối cùng, hết người này đến người kia, họ ngủ thiếp bên đống lửa, chỉ Ambov là không. Anh ta ngồi tách ra một bên, đầu gục lên gối và đang suy nghĩ điều gì rất lung (Tôi đã kịp nhận thấy rằng anh ta ít khi thích tiếp xúc với người Caphơ).
Bỗng từ những bụi rậm phía sau chúng tôi có tiếng gầm to vang lên.
- Sư tử. - Tôi nói.
Tất cả chúng tôi đều vùng dậy và lắng nghe.
Ngay lúc ấy từ phía vũng nước cách chúng tôi khoảng một trăm mét vọng lại tiếng voi rống rất to.
- Uncungunclovo Indlovu! (Voi! Voi!) - những người Caphơ thì thầm bảo nhau. Mấy phút sau chúng tôi nhìn thấy một đoàn dài những thân hình đồ sộ, mờ mờ đang từ từ đi về phía các bụi rậm. Huđơ vùng dậy với vẻ hiếu chiến cực kì, chắc ông ta nghĩ giết voi cũng dễ như giết con hươu cao cổ mà ông ta đã may mắn bắn trúng, nhưng tôi liền nắm tay ông ta và bắt ngồi xuống.
- Trong bất kì trường hợp nào cũng không được động đậy. - Tôi nói - Cứ để chúng đi qua.
- Hóa ra đây là thiên đường cho người đi săn! Tôi sẵn sàng đề nghị dừng lại ở đây vài ngày để săn thú, - Henry bỗng lên tiếng.
Nghe thế, tôi lấy làm ngạc nhiên vì từ trước đến giờ Henry luôn giục đi về phía trước, nhất là sau khi ở Ainaiti chúng tôi nghe nói rằng cách đây hai năm có một người Anh tên là Nevin đã bán xe và bò của mình ở đấy để đi sâu vào nội địa. Tôi cho rằng lúc này cái bản năng săn bắn của ông đã thắng. Huđơ vội vàng sung sướng tóm lấy đề nghị ấy, vì từ lâu ông ta đã mơ ước được săn voi. Cả tôi, thú thật, tôi cũng mơ ước về điều đó, vì không thể nào chịu nổi ý nghĩ rằng chúng tôi có thể dễ dàng để cả một đàn voi như thế đi ngang một cách an toàn mà không chớp lấy thời cơ để săn bắn chút ít. - Thôi, cũng được, các bạn ạ, - Tôi nói. - Tôi cho là ta dừng lại nghỉ ngơi chút ít cũng chẳng sao. Còn bây giờ thì đi ngủ, vì mai ta phải dậy sớm trước lúc mặt trời mọc. Lúc ấy có thể ta sẽ gặp đàn voi đang ăn, trước khi chúng đi tiếp.
Tất cả đều đồng ý với ý kiến của tôi, và chuẩn bị đi ngủ. Huđơ cởi quần áo, phủi sạch bụi, rồi giấu chiếc kính một mắt và bộ răng giả vào túi quần. Ông ta sắp xếp mọi đồ đạc của mình một cách cẩn thận rồi cất vào chỗ không có sương rơi xuống, sau khi đã che kĩ bằng một góc của tấm vải trải giường không thấm nước. Tôi và Henry thì bằng lòng với cái tính dễ dãi của mình trong việc thu dọn, và chẳng bao lâu đã trùm chăn ngủ một giấc say sưa không mộng mị rất cần cho những người du hành.
Và cả trong giấc ngủ, chúng tôi cũng có cảm giác như mình đang đi, đi, đi mãi... Nhưng cái gì thế nhỉ? Bỗng từ phía có nước vọng đến tiếng động của một cuộc vật lộn chí tử, và chỉ một giây sau đã vang lên một tiếng gầm khủng khiếp. Rõ ràng đấy chỉ có thể là tiếng gầm của sư tử. Tất cả chúng tôi đều vùng dậy, nhìn về phía có tiếng động, và thấy một mớ hỗn độn vừa vàng vừa đen quay cuồng trong trận sống mái và đang tiến dần về phía chúng tôi. Chúng tôi vơ lấy súng và vừa vội vàng đi giày Vendxcun (Một loại giầy da mềm) vừa chạy ra. Đến lúc ấy hai con vật đánh nhau đã ngã và đang lăn tròn mấy vòng trên cỏ. Khi chúng tôi tới nơi thì cuộc vật lộn đã kết thúc.
Sau đây là những gì chúng tôi đã nhìn thấy: Trên bãi cỏ là một con sơn dương đực chết đang nằm; nó thuộc giống đẹp nhất trong tất cả các giống sơn dương có ở Châu Phi. Một con sư tử tuyệt đẹp lông bờm đen cũng chết, sau khi bị cặp sừng cong nhọn của con sơn dương đâm thủng bụng. Có lẽ tất cả xẩy ra như sau: Con sơn dương đi đến uống nước ở nơi đã có một con sư tử đang ngồi rình sẵn từ trước. Chắc chắn đó là con mà chúng tôi nghe gầm đêm qua. Khi sơn dương cúi xuống uống nước thì sư tử nhảy ra vồ, không may lại rơi đúng vào cặp sừng nhọn và bị đâm xuyên người. Ngày trước, một lần tôi cũng được chứng kiến một cảnh tương tự. Không làm cách nào để dãy ra được, sư tử cào cấu lưng và cổ con sơn dương, còn sơn dương thì kinh hoàng vì sợ và đau, đã lồng lên chạy, cho đến khi ngã xuống chết.
Sau khi xem xét tỉ mỉ xác hai con vật, chúng tôi gọi những người khuân vác và giúp việc tới rồi cùng nhau kéo chúng về chỗ đóng trại, chui vào giường ngủ tiếp, nhưng nằm thao thức mãi cho đến lúc mặt trời mọc.
Cùng những tia nắng đầu tiên, chúng tôi dậy và sửa soạn đi săn, mang theo ba khẩu súng cỡ lớn cùng khá nhiều đạn và những chiếc bình thủy tinh đựng nước chè pha loãng, mà tôi luôn cho là thứ nước tốt nhất để uống trong các cuộc săn bắn. Ăn sáng xong một cách vội vàng, chúng tôi liền lên đường. Đi theo chúng tôi có Ambov, Hiva và Venfogen. Những người khuân đồ thì chúng tôi cho ở nhà để lột da con sư tử và con sơn dương, chặt thịt con sơn dương thành nhiều miếng nhỏ.
Chúng tôi tìm thấy con đường rộng đàn voi đã đi qua không khó lắm. Venfogen quan sát một lúc rồi nói đàn voi có khoảng hai mươi, ba mươi con, phần lớn là voi đực đã trưởng thành.
Trong đêm, đàn voi đã kịp bỏ chúng tôi một quãng tương đối xa, và chỉ đến chín giờ, khi cái nóng đã trở nên ngột ngạt không chịu nổi, chúng tôi mới nhìn thấy những thân cây bị bẻ gẫy, những cành lá bị vặt trụi và cả những bãi phân còn bốc khói; nghĩa là đàn voi đang quanh quẩn đâu đây.
Bỗng chúng tôi tìm ra đàn voi, đúng như Venfogen nói, độ hai mươi, ba mươi con. Vừa ăn sáng xong, chúng đang đứng giữa bãi trũng, vẫy vẫy những cái tai to lớn. Một cảnh tượng thật đáng nhớ!
Bầy voi đứng cách chúng tôi khoảng hai trăm mét. Tôi lấy một ít sợi cỏ khô tung lên trời để xác định gió thổi về chiều nào, vì tôi biết nếu ngửi thấy có người chúng sẽ bỏ chạy mất hút trước khi kịp bắn.
Sau khi xác định được chiều gió thổi, chúng tôi bắt đầu thận trọng bò lên phía trước, và nhờ có cỏ mọc cao che khuất, chúng tôi đã bò tới rất gần, chỉ còn cách khoảng bốn mươi mét. Đúng lúc ấy ba con đực đứng quay hông về phía chúng tôi, một con có bộ ngà rất to. Tôi khẽ nói rằng tôi sẽ ngắm bắn con đứng giữa: Henry con bên trái, còn Huđơ con có bộ ngà lớn.
- Nào, bắt đầu, - Tôi ra hiệu.
Bum! Bum! Bum!- Cả ba khẩu cùng vang lên một lúc. Con voi của Henry chết ngay - Viên đạn trúng tim. Còn con của tôi quỳ xuống và tôi nghĩ rằng nó đã bị bắn tử thương, nhưng chỉ mấy giây sau nó lại đứng dậy và bỏ chạy, suýt nữa thì dẫm phải tôi. Tôi liền bắn nòng thứ hai vào sườn nó, và lần này thì nó ngã thật. Nhanh chóng cho hai viên mới vào nòng, tôi chạy lại gần bên rồi bắn viên thứ ba vào đầu nó, kết thúc mọi đau đớn của con vật tội nghiệp. Sau đó tôi quay lại để xem xem Huđơ đã giải quyết con voi to lớn của mình như thế nào. Con này kêu rống lên vì đau khi tôi kết liễu con voi của mình. Khi đến nơi, tôi thấy Huđơ đang ở trong tình trạng vô cùng hồi hộp. Hóa ra bị bắn bị thương từ viên đạn đầu, con voi quay lại và chạy thẳng về phía kẻ thù của mình, may lắm Huđơ mới kịp né tránh. Rồi nó bỏ chạy về phía trại của chúng tôi, chạy thẳng không theo đường cũ. Còn đàn voi thì hoảng sợ bỏ chạy tán loạn về phía đối diện.
Chúng tôi hội ý với nhau xem nên đuổi theo con voi bị thương hay cả đàn voi, và cuối cùng quyết định đuổi theo đàn. Chúng tôi đi tiếp, thầm nghĩ rằng chẳng bao giờ còn được nhìn lại đôi ngà khổng lồ ấy nữa. Mà thực ra, nếu thế lại càng tốt hơn. Đuổi theo đàn voi không phải là việc khó lắm vì chúng để lại sau mình một luồng đi khá rộng, thêm vào đó, trong khi chạy hoảng loạn, chúng bẻ gẫy và dẫm nát các bụi cây, trông cứ như một đống cỏ tambuki.
Nhưng lại gần được chúng không phải là chuyện dễ. Chúng tôi đã đi trong hai giờ liền dưới mặt trời nóng như thiêu như đốt, cuối cùng mới nhìn thấy chúng. Trừ một con đực đứng tách riêng, cả đàn tụm vào một chỗ, và căn cứ vào những động tác lo lắng và những cái vòi giơ lên cao hít hít không khí của chúng, tôi hiểu rằng chúng đang âm mưu một chuyện gì đó chẳng lành. Con đực đứng tách riêng chắc là để gác phòng, cách đàn chừng mười lăm mét và cách chúng tôi mười sáu mét. Nghĩ rằng nếu chúng tôi đến gần hơn, nó sẽ phát hiện hay ngửi thấy, và lúc ấy cả đàn sẽ lại bỏ chạy, tất cả chúng tôi quyết định cùng ngắm vào nó, và theo lệnh của tôi, cả ba khẩu súng cùng nổ. Không một viên nào chệch, con vật ngã xuống chết ngay. Đàn voi lại bỏ chạy, nhưng thật không may cho chúng, chạy được một trăm mét thì gặp một dòng sông cạn nước hai bờ dựng đứng. Đang chạy nhanh không kịp dừng, cả đàn rơi xuống đó. Chúng tôi đến nơi thì thấy chúng đang trong tình trạng vô cùng hỗn loạn, con nào cũng hành động theo bản năng tự vệ ích kỷ của nó, chúng cũng chen lấn như phần lớn con người chúng ta trong những trường hợp tương tự.
Bây giờ là thời cơ thuận tiện nhất. Chúng tôi vội vàng lên đạn, bắn và giết thêm năm con vật đáng thương nữa. Tất nhiên chúng tôi có thể giết hết cả đàn nếu chúng không đột nhiên ngừng không cố leo lên bờ bên kia nữa và bỏ chạy dọc theo lòng sông. Chúng tôi đã quá mệt, nên không muốn đuổi theo mà cũng có thể do chúng tôi đã kịp chán cái cảnh chém giết thế này, vả lại đối với một ngày đi săn tám con voi không phải là kết quả quá tồi.
Ngồi nghỉ một lúc để những người giúp việc của chúng tôi cắt lấy tim hai con voi dùng nấu ăn bữa tối, chúng tôi hài lòng đi về trại, với ý định sáng hôm sau cho đám người khuân đồ đến đây cưa lấy ngà của những con voi bị giết chết.
Chẳng bao lâu sau đó, khi đến chỗ Huđơ bắn bị thương con voi đực đầu đàn, chúng tôi gặp một đàn sơn dương, nhưng không bắn, vì đã có quá nhiều thịt. Chúng chạy ngang qua chúng tôi rồi dừng lại sau một bụi cây để nhìn chúng tôi. Thuyền trưởng Huđơ rất muốn được nhìn kĩ chúng từ khoảng cách gần, vì trước đấy ông ta chưa bao giờ thấy sơn dương Nam Phi. Ông ta đưa súng cho Ambov, rồi cùng với Hiva đi về phía bụi cây. Chúng tôi ngồi chờ Huđơ thích thú vì đã tìm được cớ để nghỉ ngơi chút ít.
Mặt trời to tròn, đỏ rực đang lặn, và trong khi tôi và Henry đang thích thú ngắm nhìn cảnh đẹp thì bỗng nghe tiếng gầm, rồi liền đó nhìn thấy thân hình to lớn của con voi đầu đàn. Nó lao vào tấn công với chiếc vòi giơ cao, in rất rõ trên nền trời có mặt trời màu đỏ đang lặn.
Một giây sau chúng tôi thấy Huđơ và Hiva đang chạy bán sống bán chết về phía chúng tôi. Con voi bị thương (chính là con đầu đàn nọ) đuổi theo. Ngay lập tức chúng tôi quyết định không bắn vì sợ nhỡ trúng vào hai người, mà thực ra có bắn cũng không mấy kết quả, vì xa quá.
Một giây sau nữa đã xẩy ra điều kinh khủng nhất. Thuyền trưởng Huđơ trở thành nạn nhân của chính thói quen thích ăn diện theo mốt châu Âu của mình. Nếu ông ta chịu theo chúng tôi cởi bỏ quần dài và tất dài, chỉ mặc chiếc áo sơ mi và đi giày Vendxcun thì có lẽ mọi sự sẽ đâu vào đấy. Nhưng lúc này chiếc quần dài đang làm Huđơ vướng víu khi chạy, và bỗng nhiên, khi còn cách chúng tôi khoảng sáu mươi mét, chiếc đế giày châu Âu của ông ta dẫm lên cỏ trơn trượt và ông ta ngã sấp ngay sát chân con voi.
Chúng tôi kêu lên sợ hãi vì biết rằng cái chết là điều không tránh khỏi. Tất cả đều chạy về phía ông ta. Chỉ ba giây nữa là mọi chuyện sẽ kết thúc - Nhưng không như chúng tôi chờ đợi. Hiva đã kịp nhìn thấy ông chủ của mình ngã. Chàng trai dũng cảm này đã quay lại, phóng giáo thẳng vào họng con voi. Chiếc giáo cắm ngập, lủng lẳng ở phía cuối vòi.
Rống lên vì đau, con voi điên khùng vội túm lấy chàng trai Dulux tội nghiệp quẳng xuống đất, rồi dùng một chân to lớn của mình dẫm một đầu, còn đầu kia lấy vòi quấn chặt và xé anh ta làm hai.
Suýt ngất đi vì kinh khủng, chúng tôi chạy lại, bắn loạn xạ và liên tục cho đến khi con voi ngã xuống cạnh các mẩu xác của Hiva.
Còn thuyền trưởng Huđơ thì bò dậy, khóc vật vã bên xác Hiva, người đã dũng cảm hi sinh thân mình để cứu ông ta. Dù là người được chứng kiến nhiều cảnh đau lòng, lúc này tôi vẫn cảm thấy có cái gì vương vướng trong họng. Ambov đứng nhìn con voi khổng lồ đã chết và cơ thể nhừ nát của Hiva, bỗng nói:
- Vâng, Hiva đã chết đúng như một người đàn ông chân chính phải chết.
lặng.
thiensu96 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn  
Trả Lời Với Trích Dẫn
Unread 13-05-2012, 07:54 AM   #5
Default

Chương 4
ĐI VÀO SA MẠC

Chúng tôi bắn được chín con voi, phải mất hai ngày để cưa ngà, mang về trại và chôn kĩ dưới một gốc cây to cách xa mấy dặm đã nhìn thấy. Chúng tôi kiếm được một khối lượng rất lớn ngà voi quý, tôi chưa bao giờ nhìn thấy mỗi ngà nặng trung bình từ hai mươi đến hai mươi nhăm kilô. Còn ngà của con voi đầu đàn đã xéo xác Hiva thì theo sự ước đoán của chúng tôi, cân nặng hơn bảy mươi kilô.
Còn Hiva, hay đúng hơn, những mảnh xác còn lại của anh, được chúng tôi chôn trong một tổ kiến cùng cây giáo theo phong tục của bộ lạc Dulux, để anh có vũ khí tự vệ khi cần thiết trên con đường đi tới thiên đường.
Sang ngày thứ ba, chúng tôi lại lên đường, hi vọng nếu còn sống, sẽ quay lại đào kho báu của mình. Sau một chuyến đi dài, vất vả và gặp nhiều chuyện phiêu lưu khác mà tôi không có thời gian để kể tỉ mỉ ra đây, chúng tôi đã đến làng Xitandi ở gần sông Lucanga. Thực ra mà nói, chỉ từ đây mới bắt đầu cuộc hành trình đến núi Xulâyman của chúng tôi.
Tôi nhớ rất rõ chúng tôi đã tới Xitandi như thế nào. Phía bên phải là một khu làng nhỏ của người bản xứ gồm mấy chiếc lều thảm hại và chuồng nuôi súc vật ngăn bằng đá. Xuống phía dưới một chút, sát bờ sông thấp thoáng một vài miếng đất canh tác, họ gieo trồng để có số lương thực ít ỏi của mình. Tiếp đến là thảo nguyên bao la chạy tít tận chân trời, cỏ mọc tốt um tùm và thường có những con thú nhỏ đi lại.
Làng Xitandi ở ngay đầu vùng đất màu mỡ ấy. Còn phía trái là sa mạc. Thật khó mà giải thích nổi vì sao lại có sự thay đổi đột ngột về chất đất như vậy; sự tương phản quá lớn đến không thể không đập ngay vào mắt.
Chúng tôi đóng trại phía trên sông Lucanga một chút. Bên kia sông là một dốc đá thoai thoải, nơi hai mươi năm về trước, Xinvextơ đáng thương đã bò quay trở lại sau cái ý định điên rồ tìm tới kho báu của vua Xolomon thất bại. Sau dốc đá ấy là bắt đầu sa mạc mênh mông, khô cằn với những cây gai thưa thớt và thấp.
Trời đã ngả về chiều, khối cầu khổng lồ mặt trời đang chầm chậm khuất sau sa mạc và chiếu sáng nó bằng những tia sáng cuối cùng sặc sỡ.
Giao cho Huđơ chăm sóc việc đóng trại, tôi mời Henry đi dạo một lúc, rồi hai chúng tôi leo lên đỉnh của dốc đá phía bên kia sông, từ đó đưa mắt nhìn ra sa mạc. Không khí sạch và trong suốt, phía xa xa nơi chân trời có thể nhìn thấy đường xanh mờ của những đỉnh núi Xulâyman quanh năm phủ tuyết. - Ông nhìn kia, - Tôi nói sau một lúc im lặng. - Kia là bức tường bao quanh kho báu của vua Xolomon. Chỉ một mình chúa biết rằng liệu có lúc nào chúng ta tới được đấy hay không.
- Em trai tôi chắc phải ở đấy. Nếu thế thì nhất định tôi sẽ tới cho kì được. - Henry nói với vẻ tự tin bình thản mà ông vẫn có.
- Vâng, hi vọng rằng chúng ta sẽ thành công! - Tôi thở dài quay lại định đi về trại, nhưng bỗng nhận thấy có người đang đứng cạnh.
Sau lưng chúng tôi là Ambov. Anh chàng Dulux to khỏe và uy nghi ấy đang đứng chăm chú nhìn về phía những dãy núi xa xa. Thấy tôi nhìn, anh ta lên tiếng nói với Henry, người mà tôi nhận thấy anh ta rất quý mến.
- Có phải đấy là đất nước mà ông định tới không. Incubu? (Chữ này có nghĩa là “Con voi”; người bản xứ gọi Henry như vậy) - Ambov nói, tay chỉ về phía núi.
Tôi bực bội hỏi anh ta có quyền gì mà dám nói chuyện suồng sã như thế với ông chủ của mình. Người bản xứ có thể gọi nhau bằng bất cứ biệt hiệu nào họ muốn, nhưng hoàn toàn không thể cho phép và không lịch sự từ phía họ khi gọi người da trắng bằng những cái tên ngu ngốc như thế. Ambov khẽ cười, và điều ấy càng làm tôi tức giận hơn.
- Sao ông biết rằng tôi không ngang hàng với ông chủ mà tôi phục vụ? Tất nhiên ông chủ của tôi thuộc dòng dõi nhà vua: Điều ấy có thể nhận rõ qua diện mạo và chiều cao của ông ấy, nhưng biết đâu tôi cũng thuộc dòng dõi vua chúa? Ôi, Macumanzan, hãy làm đôi môi của tôi để nói với Incubu, ông chủ và là thủ lĩnh của tôi, rằng tôi muốn nói chuyện với ông ấy, và cả với ông nữa.
Tôi rất bực mình với Ambov, vì không quen nghe người bản xứ nói chuyện với tôi như thế, nhưng không hiểu sao tôi vẫn cảm thấy một sự kính trọng mà tôi không hiểu và không muốn có đối với anh ta. Hơn nữa, tôi cũng muốn biết anh ta định nói gì với chúng tôi nên liền dịch lời của anh ta cho Henry nghe, sau khi nói trước quan điểm của tôi, rằng anh ta là một gã trâng tráo và đã cư xử một cách không thể tha thứ được.
- Vâng, Ambov, - Henry nói, - Tôi muốn đi tới đất nước ấy.
- Sa mạc rất rộng, thiếu nước, còn núi thì cao và phủ đầy tuyết. Không một người nào có thể nói rõ cái gì ở phía sau những dãy núi kia, nơi mặt trời đang lặn. Ông định tới đó bằng cách nào, Incubu, và vì sao ông lại muốn tới đó?
Tôi lại dịch cả những lời này của anh ta.
- Hãy nói với anh ta, - Henry đáp, - Rằng tôi muốn tới đó vì tôi nghĩ một người cùng chung dòng máu với tôi từ lâu đã tới đó, và bây giờ tôi đi tìm người ấy...
- Incubu, ông nói đúng. Trên đường tới đây, tôi có gặp một người Gốttentốt, và anh ta kể với tôi rằng cách đây hai năm, có một người da trắng đi vào sa mạc, về phía những ngọn núi kia. Cùng đi có một người đầy tớ và là thợ săn. Họ chưa quay lại từ phía ấy.
- Sao anh biết rằng đấy là em trai tôi? - Henry hỏi.
- Tôi không biết điều ấy. Nhưng tôi đã hỏi người Gốttentốt kia ông ta hình dáng thế nào, và biết là ông ta có đôi mắt và bộ râu đen như của ông. Người thợ săn đi theo tên là Jim. Anh ta là người bộ lạc Besuan và trên người có quần áo.
- Không còn nghi ngờ gì nữa, đó chính là em trai ông! - Tôi kêu lên.- Tôi biết rõ anh chàng Jim ấy!
Henry trầm ngâm gật đầu.
- Tôi cũng tin là thế, - Ông nói. - Georg là người cương quyết, nếu đã định làm điều gì thì nhất định sẽ làm bằng được. Từ bé em tôi đã thế. Nếu em tôi quyết định vượt qua núi Xulâyman, thì nghĩa là đã vượt qua, tất nhiên nếu dọc đường không gặp tai họa. Vì vậy, chúng ta cần phải tìm Georg ở phía bên kia núi.
Ambov có biết chút ít tiếng Anh, nhưng ít khi nói bằng thứ ngôn ngữ ấy.
- Đến đấy xa lắm, Incubu, - anh ta nói.
Tôi dịch lời của anh ta.
- Vâng, Henry đáp. - Đường đến đấy rất xa. Nhưng trên đời này không có con đường nào mà con người không vượt qua, một khi anh ta cố hết sức để làm điều ấy. Nếu được tình yêu dẫn đường, Ambov ạ, thì sẽ không có gì là con người không làm nổi, không núi nào và sa mạc nào không vượt qua được. Vì cái tình yêu ấy, con người bất chấp hết tất cả, thậm chí có thể hi sinh cả tính mạng mình, nếu thượng đế yêu cầu phải thế.
Tôi dịch cả những lời này.
- Ông đã nói những từ rất đẹp, thưa thủ lĩnh! - Anh chàng người Dulux đáp (bao giờ tôi cũng gọi Ambov như thế, dù thực ra anh ta không phải là người Dulux) - Những từ vĩ đại, đẹp đẽ xứng đáng với đôi môi của một người đàn ông chân chính! Ông nói đúng, Incubu. Nhưng hãy lắng nghe tôi. Cuộc sống là gì? Là một chiếc lông, một hạt giống của cây cỏ mà gió thổi đi khắp bốn phía. Đôi lúc nó sinh sôi nẩy nở rồi chết, đôi lúc bay lên trời cao. Nhưng nếu hạt giống ấy khỏe, nó có thể dừng lại chút ít trên con đường mà người khác đã vạch sẵn cho nó. Vật lộn với cơn gió và dừng lại được ở con đường ấy là tốt. Nhưng con người phải chết. Trong trường hợp xấu nhất thì chỉ phải chết sớm hơn một chút. Tôi sẽ đi với ông vượt qua sa mạc và núi rừng, đi cho đến tận cùng, thưa thủ lĩnh, nếu giữa chừng tôi không chết!
Ambov im lặng, nhưng ngay lúc ấy liền nói tiếp bằng những lời hoa mĩ say sưa mà đôi khi người Dulux vẫn dùng. Điều ấy chứng tỏ rằng bộ tộc này không phải không có năng khiếu thơ ca và trí thông minh, tuy khi nói, họ hay lặp đi lặp lại quá nhiều và vô ích.
- Cuộc sống là gì? - Ambov nói tiếp. - Hãy nói cho tôi biết đi, hỡi những người da trắng! Các ông là những người thông minh, những người biết hết mọi bí mật của tạo hóa, mọi bí mật của trăng sao và tất cả những gì trên chúng và xung quanh chúng! Hỡi những người da trắng, những người mà trong nháy mắt có thể nói chuyện được với nhau từ xa mà không cần giọng nói, hãy cho tôi biết bí mật của cuộc sống chúng ta: Nó sẽ biến đi đâu và từ đâu xuất hiện?
Các ông không thể trả lời cho tôi biết; chính các ông cũng không biết điều ấy. Thế thì hãy nghe tôi nói đây: Từ bóng tối, chúng ta xuất hiện và rồi chúng ta lại đi vào bóng tối. Như con chim bị giông bão xua đuổi trong bóng tối, chúng ta bay ra từ cái hư vô. Trong một giây, đôi cánh của chúng ta xuất hiện trong ánh sáng của đống lửa, và rồi chúng ta lại bay vào hư vô. Đời chẳng là cái gì, và cũng là tất cả. Đời là cánh tay gạt bỏ Thần chết. Là con đom đóm nhấp nháy trong đêm để chết vào buổi sáng hôm sau. Là hơi thở màu trắng của đàn bò những ngày đông giá rét, là cái bóng mỏng manh thoáng qua trên bãi cỏ rồi biến mất cùng mặt trời lúc hoàng hôn.
- Anh là một người lạ lùng, Ambov ạ.- Henry nói khi anh ta im lặng.
Ambov cười to:
- Tôi có cảm giác rằng chúng ta rất giống nhau, Incubu. Có thể tôi cũng sẽ tìm em trai của tôi ở phía bên kia núi.
Tôi nhìn anh ta vẻ nghi ngờ.
- Anh nói như thế nghĩa là thế nào? - Tôi hỏi. - Anh biết gì về những dãy núi ấy?
- Ít, rất ít. Nghe nói phía bên kia có một đất nước tuyệt đẹp, bí hiểm, đất nước của những điều kì diệu và phép lạ, đất nước của những chiến binh dũng cảm, những rừng cây cao, những dòng lũ lớn, những đỉnh núi phủ tuyết, đất nước của con đường màu trắng vĩ đại. Tôi đã được nghe kể về nó. Nhưng có đáng đem ra kể ở đây không? Trời tối rồi. Ai số phận cho phép, sẽ được nhìn thấy nó.
Tôi lại ngước nhìn anh ta vẻ nghi ngờ. Con người này chắc đang biết một điều gì đó.
- Đừng lo sợ về tôi, Macumazan, - Ambov nói khi thấy tôi nhìn. - Tôi không đào hố để đánh bẫy các ông. Tôi không âm mưu một điều gì xấu xa. Nếu có lúc nào đó chúng ta vượt qua được dãy núi đang che lấp mặt trời kia, lúc ấy tôi sẽ kể cho các ông nghe tất cả những gì tôi biết. Nhưng Thần chết đang lởn vởn trên đỉnh những ngọn núi ấy. Hãy thông minh mà nhanh chóng quay lại. Hãy quay trở lại, thưa các ông chủ của tôi, và hãy lại đi săn voi. Tôi nói hết.
Rồi chẳng nói thêm một lời nào nữa, anh ta giơ ngọn giáo ra hiệu tạm biệt rồi quay người đi về trại. Khi trở lại, chúng tôi thấy anh ta đang mài giáo, như những người hầu Caphơ bình thường khác.
- Một anh chàng lạ lùng! - Henry nói.
- Còn hơn là lạ lùng, - Tôi khẳng định thêm .- Cách cư xử của anh ta làm tôi nghi ngờ. Anh ta biết một điều gì đây nhưng không muốn nói. Nhưng nói chung không nên cãi nhau với anh ta. Trước mặt chúng ta đang có nhiều điều bí hiểm, lạ lùng chờ đợi, và anh chàng Dulux khó hiểu sẽ rất phù hợp với hoàn cảnh ấy.
Ngày hôm sau chúng tôi chuẩn bị lên đường.
Mang theo vào sa mạc tất cả vũ khí và đồ đạc tất nhiên là điều điên rồ. Chúng tôi thanh toán cho những người khuân đồ và thống nhất với một người Caphơ sống cạnh đấy để ông ta trông coi hộ đồ vật mà lúc quay lại chúng tôi sẽ lấy. Tôi thật sự đau lòng mỗi lần nghĩ tới việc chúng tôi phải giao những khẩu súng tuyệt vời của mình cho thằng ăn cắp ấy. Vừa nhìn thấy súng là mắt lão đã lộ vẻ vui mừng, lão không thể dứt cái nhìn tham lam của lão khỏi chúng. Vì vậy, tôi buộc phải áp dụng một vài biện pháp ngăn ngừa. Trước hết, tôi lên đạn tất cả các súng, mở khóa an toàn và nói với lão rằng nếu lão động đến, lập tức chúng sẽ nổ. Lão liền thử sờ vào khẩu hai nòng của tôi. Súng nổ, và viên đạn xuyên thủng bụng một con bò của lão lúc ấy đang được lùa về làng, còn lão thì bị súng giật ngã ngửa về phía sau. Lão hoảng sợ lổm ngổm bò dậy, và tiếc của vì mất bò, lão còn trâng tráo bắt tôi bồi thường. Đồng thời lão thề rằng từ nay không có gì trên đời có thể bắt lão động đến súng của chúng tôi.
- Hãy giấu ngay những con quỷ sống ấy vào đống rơm, - Lão càu nhàu, - Nếu không, chúng sẽ giết hết chúng tôi.
Biết lão già rất mê tín, tôi dọa lão rằng nếu để mất dù chỉ một đồ vật, tôi sẽ dùng phép phù thủy giết chết lão và tất cả người thân của lão, và không may chúng tôi chết dọc đường, nếu lão định giở trò ăn cắp súng thì hồn ma của tôi từ thế giới bên kia sẽ hiện về để ám lão cả ngày lẫn đêm. Sau đấy tôi còn dọa thêm rằng tôi sẽ làm súc vật của lão phát điên, rằng tất cả sữa của lão sẽ bị chua, còn lão thì bị tôi đẩy vào tình trạng khốn cùng, đến nỗi không muốn sống nữa. Ngoài ra, tôi hứa sẽ thả những con quỷ đang ngồi trong nòng súng ra để chúng nói chuyện một cách tử tế với lão. Tóm lại, tôi đã làm cho lão đủ hiểu lão sẽ bị trừng phạt thế nào, nếu không giữ đúng lời hứa. Nghe xong, lão già thề sẽ giữ gìn đồ vật của chúng tôi thiêng liêng như linh hồn của cha ông lão.
Thỏa thuận với lão già xong, và bằng cách ấy trút bỏ được một phần gánh nặng, chúng tôi chỉ chọn mang theo những thứ không thể thiếu được cho chuyến đi dài ngày sắp tới. Nhưng dù cố mang theo thật ít, cuối cùng mỗi người chúng tôi vẫn phải mang nặng gần hai mươi cân.
Sau đây là những thứ chúng tôi mang theo:
Ba khẩu súng trường kiểu Express cùng hai trăm viên đạn.
Hai khẩu Winchester có hộp đạn (cho Ambov và Venphôghe) cùng hai trăm viên đạn.
Ba khẩu côn và sáu mươi viên đạn.
Năm bình đựng nước, mỗi bình bốn lít.
Năm chăn.
Mười hai cân thịt phơi khô.
Năm cân chuỗi hạt loại tốt nhất để làm quà.
Một tủ thuốc nhỏ với các thứ thuốc cần thiết nhất trong đó có ba mươi gam kí ninh và hai bộ đồ mổ gọn nhẹ.
Ngoài các thứ kể trên, chúng tôi còn mang theo một số đồ vặt vãnh như địa bàn, diêm, một bình lọc loại bỏ túi, thuốc lá, chiếc xẻng nhỏ, một chai rượu mạnh và cuối cùng là quần áo mà chúng tôi đang mặc trên người. Đối với một cuộc hành trình lâu dài và mạo hiểm, chừng ấy không phải là nhiều, nhưng chúng tôi không dám mang thêm, vì như thế, chúng tôi cũng đã phải mang mỗi người hai mươi cân, một gánh nặng đáng kể. Lê chân giữa cát nóng như lửa mà còn phải mang nặng không phải là việc đơn giản; ở trong những trường hợp như thế, mỗi gam đều có ý nghĩa. Mặc dù đã tìm hết mọi cách, chúng tôi cũng không thể bớt đi một tí nào, vì chỉ mang đi theo những gì không thể không có.
Vất vả lắm tôi mới thuyết phục được ba người Caphơ trong làng đi theo chúng tôi một quãng độ hai mươi dặm, tức là giai đoạn đầu cuộc hành trình của chúng tôi. Mỗi người trong số họ sẽ mang một chiếc lọ hình quả bầu đựng gần năm lít nước.
Để trả công, tôi hứa sẽ tặng họ mỗi người một con dao săn.
Chúng tôi dự định sẽ bổ sung nước dự trữ vào đêm hôm sau, và quyết định lên đường vào ban đêm, vì ban đêm trời đỡ nóng hơn. Tôi nói với những người Caphơ rằng chúng tôi đi săn đà điểu, là giống chim có rất nhiều ở sa mạc. Nghe xong, họ nói liến thoắng với nhau điều gì đó, rồi nhún vai bảo tôi rằng chúng tôi điên và nhất định sẽ chết khát trong sa mạc, là điều tôi cũng nghĩ là có lẽ sẽ xảy ra thật. Nhưng vì quá thích những chiếc dao săn mà trong mơ cũng không dám mơ tới. - ƠŒ vùng hoang dã này, dao săn là vật rất hiếm - Cuối cùng họ cũng đồng ý đi theo chúng tôi hai mươi dặm. Chắc họ nghĩ rằng nếu chúng tôi có chết khát thì cũng không phải do lỗi của họ. Cả ngày hôm sau, chúng tôi chỉ ngủ và nghỉ ngơi. Mặt trời sắp lặn, chúng tôi ăn no thịt bò tươi, uống no nước chè. Vừa uống Huđơ vừa buồn rầu nói rằng không biết lúc nào chúng tôi mới được uống chè một lần nữa. Sau đó, làm xong các việc chuẩn bị cuối cùng, chúng tôi lại nằm xuống chờ trăng lên. Cuối cùng gần chín giờ, mặt trăng xuất hiện trong vẻ đẹp lộng lẫy của mình. Ánh trăng tỏa xuống những khoảng không hoang dại và dát bạc cả sa mạc mênh mông cũng uy nghiêm và lặng lẽ như bầu trời đầy sao trên đầu chúng tôi.
Chúng tôi đứng dậy nhưng chưa bước đi vội như đang lưỡng lự điều gì: Tôi nghĩ con người bao giờ cũng lưỡng lự trước khi bước vào chặng đường mà không tin có ngày còn quay lại. Chúng tôi - Ba người da trắng - Đi ra đứng riêng một chỗ. Ambov tay cầm giáo, súng trên vai đang đứng trước chúng tôi mấy bước; anh ta đăm đăm nhìn về phía sa mạc. Venfogen và những người Caphơ chúng tôi mới thuê xách bình nước đứng một chỗ sau chúng tôi chút ít.
- Thưa các bạn. - Sau một lúc im lặng, Henry nói bằng cái giọng trầm dễ nghe của mình. - Chúng ta sắp bắt đầu một cuộc hành trình khác thường mà có lẽ xưa nay chưa ai thực hiện. Chưa chắc nó sẽ kết thúc tốt đẹp. Chúng ta có ba người. Và tôi tin rằng trong tất cả những thử thách đang chờ ta phía trước, trong bất kì trường hợp nào ta cũng sẽ đứng bên nhau cho đến hơi thở cuối cùng. Còn bây giờ, trước khi lên đường chúng ta hãy đọc một bài cầu ngắn, cầu nguyện Đức chúa Trời toàn năng, vì Ngài điều khiển số phận và vạch đường đi cho con người, kể từ ngày Ngài tạo nên thế giới. Chúng ta hãy gửi gắm tất cả vào ý Ngài và mong Ngài đặt bước chân chúng ta lên con đường may mắn.
Rồi ông cởi mũ, hai tay che mặt và lẩm nhẩm lời cầu trong hai phút. Tôi và Huđơ làm theo.
Như phần lớn những người thợ săn khác, tôi không phải là người sùng đạo lắm. còn Henry thì theo tôi nghĩ, sâu trong lòng, ông là người rất sùng đạo, dù tôi chưa bao giờ nghe từ ông những lời tương tự, trừ một lần sau này nữa. Huđơ cũng là một con chiên thành kính, tuy ông ta thích nói tục. Ít ra thì tôi không nhớ có lần nào (trừ một lần khác sau này) tôi cầu nguyện thành tâm đến thế. Cầu xong, tôi thấy trong lòng nhẹ nhõm hơn. Tương lai của chúng tôi còn rất mù mịt; nhưng tôi nghĩ chính cái sợ hãi và mờ mịt ấy bao giờ cũng đưa con người lại gần hơn với Chúa.
- Nào, - Henry nói, - Bây giờ thì chúng ta xuất phát!
Và chúng tôi lên đường. Nói chung, hầu như chúng tôi phải đi mò, vì ngoài những đỉnh núi xa và tấm bản đồ mà Hoxe Xinvext, một ông già nửa điên nửa tỉnh đã vẽ lên một mẩu vải lúc hấp hối, chúng tôi chẳng còn gì khác để định hướng. Khó mà tin được bản đồ ấy, thế mà nó lại là tất cả hi vọng thành công của chúng tôi. Tôi lo không biết chúng tôi có tìm được hồ “nước thối” mà theo bản đồ của ông lão Bồ Đào Nha, thì sẽ nằm chính giữa sa mạc, tức là cách làng Xitandi sáu mươi dặm hay không. Từ đấy đến núi Vú nữ hoàng Xava cũng bằng chừng ấy. Nếu không tìm thấy, chắc chắn chúng tôi sẽ chết khát. Chúng tôi hầu như không có một cơ sở nào để hi vọng tìm thấy nó giữa biển cát mênh mông và những bụi gai thấp, thưa thớt này. Giả sử đa Xinvextơra có xác định đúng vị trí của hồ nước đi nữa, thì lẽ nào dưới ánh sáng mặt trời gay gắt, nó không cạn khô sau ba thế kỷ? Lẽ nào thú vật không dẫm nát nó? Và cuối cùng là không bị cát vùi lấp?
Lặng lẽ như những cái bóng, chúng tôi bước đi trong đêm tối, chân ngập sâu dưới cát. Đi nhanh là điều không thể được, vì chúng tôi luôn vấp phải các bụi gai. Cát chui vào giày Vendxcun của chúng tôi và giày đi săn của Huđơ, nên chốc chốc phải dừng lại để dốc cát ra. Sương đêm làm giảm cái nóng ngột ngạt của sa mạc, và mặc dù đi lại khó khăn và dừng khá nhiều, chúng tôi vẫn tiến nhanh về phía trước. Xung quanh là một sự im lặng nặng nề. Để làm chúng tôi vui lên, Huđơ huýt sáo bài “Cô gái mà tôi bỏ lại ở nhà”, nhưng giữa sa mạc mênh mông giai điệu vui nhộn của bài hát lại trở nên buồn thảm và rùng rợn. Huđơ thôi không huýt sáo nữa.
Chẳng bao lâu, một việc đã xẩy ra với chúng tôi, lúc đầu làm ai cũng hoảng sợ hết hồn, nhưng sau lại biến thành câu chuyện vui vẻ. Thuyền trưởng Huđơ đi đầu, tay cầm chiếc la bàn mà với tư cách là một thủy thủ, ông ta rất biết cách sử dụng. Chúng tôi thì người nọ tiếp người kia đi theo ông ta. Bỗng ông ta kêu to một tiếng rồi biến mất. Đúng lúc ấy xung quanh chúng tôi vang lên những âm thanh kì lạ như tiếng rên, tiếng thở phì phì và tiếng những bước chân nặng nề đang bỏ chạy. Mặc dù hầu như tối hoàn toàn, chúng tôi lờ mờ nhận thấy bóng của những sinh vật lạ lùng nào đó đang lao về phía trước, cuốn tung bụi cát. Những người bản xứ vất đồ đạc định bỏ chạy, nhưng chợt nhớ ra là không còn nơi nào để chạy, liền nằm lăn xuống cát, kêu to rằng đó chính là quỷ sứ. Tôi và Henry đứng lặng vì ngạc nhiên, nhưng chúng tôi càng ngạc nhiên gấp bội khi chợt thấy Huđơ đang phóng như bay về phía núi. Chúng tôi có cảm giác như ông ta phi trên lưng ngựa, vừa phi vừa kêu lên những tiếng kêu kinh khủng. Bỗng nhiên, dang rộng hai tay, ông ta ngã phịch xuống đất.
Đến lúc này tôi hiểu chuyện gì đã xẩy ra: Đang đi trong bóng đêm, chúng tôi vấp phải một đàn ngựa rừng châu Phi, và Huđơ ngã ngay xuống lưng một con, làm con này hoảng sợ, chồm dậy và cứ thế phóng đi, mang theo cả chàng kỵ sĩ. Tôi kêu to, bảo mọi người đừng lo, rồi chạy đến chỗ Huđơ, và rất sung sướng thấy ông ta đang ngồi trên cát. Tôi thở phào nhẹ nhõm vì tuy ngã, nhưng ông ta hoàn toàn không bị thương tổn chút nào. Tất nhiên ông thuyền trưởng bị một phen hú vía và bị xóc kinh khủng, nhưng tất cả những điều ấy không để lại một dấu vết gì, cả trên người ông ta, và cả trên chiếc kính một mắt vẫn lấp lánh ở mắt bên phải.
Sau sự kiện vui vẻ ấy, chúng tôi đi tiếp và không hề gặp một chuyện khó chịu nào. Gần một giờ sáng chúng tôi dừng lại uống ít nước (chúng tôi không dám uống thả cửa, vì biết nước sau này sẽ cần thiết như thế nào) nghỉ lấy sức ba mươi phút, rồi lại đi tiếp.
Chúng tôi đi, đi mãi cho đến lúc cuối cùng chân trời phía đông rực hồng như đôi má của cô gái khi xấu hổ. Những tia nắng dịu dàng màu vàng hồng đan chéo lẫn nhau xuất hiện. Một ngày mới bắt đầu.
Chúng tôi quyết định không dừng lại nghỉ dù rất muốn, vì biết rằng khi mặt trời lên cao, trời nóng sẽ khó lòng mà đi tiếp. Nửa giờ sau, cuối cùng chúng tôi nhìn thấy ở phía xa một vài mỏm đá nhô lên trên nền sa mạc bằng phẳng. Kéo lê chân vì mỏi mệt, chúng tôi tiến về phía những mỏm đá ấy, và sung sướng nhận thấy một mỏm chìa ra phía trước tạo trước cái mái che nắng rất tốt. Phía dưới nó đất được phủ một lớp cát mịn. Chúng tôi thích thú ngồi nghỉ ở đấy, uống ít nước và mỗi người ăn một miếng thịt phơi khô rồi ngay lập tức ngủ say như chết.
Khi chúng tôi tỉnh dậy đã là ba giờ chiều. Những người khuân vác Caphơ chờ chúng tôi dậy để chuẩn bị quay trở lại. Sa mạc đã làm họ chán ngấy tận cổ, và không một thứ dao săn nào trên đời còn có thể bắt được họ đi tiếp. Chúng tôi khoan khoái uống hết số nước còn lại trong bình của mình rồi lại đổ đầy bằng nước mà những người này mang theo, rồi cho họ về nhà.
Vào bốn giờ ba mươi phút, chúng tôi lại lên đường. Sa mạc im lặng một cách chết chóc. Trên cả biển cát mênh mông mà tầm mắt có thể bao quát được không hề có một sinh vật nào, trừ một vài con đà điểu. Có lẽ vì thiếu nước nên không có muông thú, và nếu không kể một hay hai loại rắn hổ mang, chúng tôi hoàn toàn không thấy loài bò sát nào. Thế nhưng có một giống thì lại quá nhiều, đó là ruồi, loại ruồi bình thường ta vẫn thấy ở nhà. Chúng bay đầy trên sa mạc và luôn theo đuổi chúng tôi như những tên thám báo, không phải “từng con một, mà là từng đàn lớn”, như đâu đó trong phần Cựu ước của Kinh thánh đã miêu tả. Thứ ruồi này thật đặc biệt, anh trốn đâu cũng gặp chúng. Có lẽ ngay từ thời sáng thế đã có chúng. Một lần tôi nhìn thấy một con bị ướp trong một cục hổ phách mà người ta nói với tôi ít nhất cũng đã năm vạn năm tuổi. Thế mà con ruồi ấy trông chẳng khác con ruồi hiện đại một chút nào. Tôi hầu như tin tưởng một cách chắc chắn rằng khi con người cuối cùng trên trái đất chết, thì chúng (tất nhiên nếu điều ấy xảy ra vào mùa hè) cũng sẽ bay vù vù xung quanh và cố gắng chọn thời cơ thuận lợi để đậu ngay lên mũi anh ta.
Khi mặt trời lặn, chúng tôi ngồi nghỉ và chờ trăng lên. Cuối cùng trăng xuất hiện trên bầu trời, lặng lẽ và bình thản như bao đời nay, và chúng tôi lại đi tiếp. Chỉ dừng nghỉ một lần vào lúc hai giờ sáng, chúng tôi lê chân đi suốt đêm, cho đến lúc mặt trời mọc và kiệt sức vì mỏi mệt, buộc phải nghỉ. Sau khi uống một vài ngụm nước, hoàn toàn rã rời, chúng tôi lăn xuống cát và ngủ thiếp ngay lập tức. Cũng chẳng cần phải cử ai canh phòng vì bốn bề là sa mạc mênh mông không sự sống. Kẻ thù duy nhất của chúng tôi là cái nóng, cái khát và ruồi. Tôi sẵn sàng đón nhận mọi nguy hiểm từ phía con người hay thú dữ, còn hơn phải chịu ba tai họa này. Rất tiếc là lần này chúng tôi không tìm được một mỏm đá có bóng râm nào để tránh nắng như trước. Bảy giờ sáng, chúng tôi tỉnh dậy vì nóng không chịu nổi, với cảm giác như mình là miếng thịt đang bị kẹp bơ trên than đỏ rực. Những tia nắng của mặt trời nóng bỏng như chiếu xuyên qua tất cả, như đang hút khô máu trong cơ thể.
Chúng tôi ngồi, thở một cách khó nhọc.
- Cút đi! - Tôi vừa kêu lên bất lực, vừa vung tay xua bầy ruồi đang dai dẳng bay vo vo quanh đầu tôi.
Chúng thật hạnh phúc vì không biết tới cái nóng.
- Quả đúng là... - Henry lẩm bẩm.
- Vâng, nóng kinh khủng! - Huđơ ngắt lời ông.
Cái nóng đúng là không chịu nổi, và không có một nơi nào để trốn khỏi cái lò lửa địa ngục ấy. Xung quanh, nhìn đi đâu cũng chỉ thấy sa mạc trần trụi bị hun nóng hừng hực. Không một gò đất, một hòn đá hay một cái cây nào.
Không một bóng râm nào, dù nhỏ. Chúng tôi như bị mù khi nhìn lên mặt trời sáng trắng chói chang: từng luồng không khí run run bốc lên từ sa mạc như trên một tấm sắt bị nung đỏ, làm đôi mắt cay xè.
- Biết làm gì bây giờ! - Henry hỏi. - Không ai chịu được lâu cái cảnh địa ngục này.
Chúng tôi nhìn nhau, hoàn toàn không biết phải làm gì.
- Tôi nghĩ ra rồi, - Huđơ nói. - Chúng ta phải đào một cái hố rồi chui xuống đó, bên trên che bằng các cây gai.
Đề nghị này không làm chúng tôi phấn chấn hơn bao nhiêu, tuy nhiên vẫn tốt hơn là không làm một cái gì cả. Chúng tôi liền bắt tay vào công việc, bằng tay và chiếc xẻng mang theo, một giờ sau chúng tôi đã đào được một chiếc hố rộng ba mét, dài sáu mét và sâu hơn nửa mét. Sau đó chúng tôi dùng dao săn cắt các cây gai mọc lè tè trên cát, nhảy xuống hố rồi che lên trên. Chỉ một mình Venfogen không làm theo chúng tôi, vì là người Gốttentốt, anh ta đã quen với cái nóng và không hề cảm thấy mệt mỏi.
Trong một chừng mực nào đó, cái hố đã che cho chúng tôi khỏi những tia sáng mặt trời nóng bỏng. Tôi xin nhường bạn đọc tưởng tượng không khí dưới cái mộ tự tay chúng tôi đào ấy ngột ngạt như thế nào, vì thực tình tôi không đủ từ để miêu tả. Có lẽ Hầm đen ở Calcutta còn là thiên đường so với nó. Cho tận đến bây giờ tôi cũng không hiểu làm sao chúng tôi sống qua nổi cái ngày kinh khủng ấy, khi mà không đủ không khí để thở, chúng tôi chỉ thỉnh thoảng mới được phép dấp môi vì nước còn lại rất ít. Nếu được uống thả cửa thì tất cả nước dự trữ sẽ hết ngay trong hai giờ đầu. Nhưng chúng tôi buộc phải theo một chế độ tiết kiệm vô cùng khắt khe, vì hiểu rõ rằng thiếu nước, chúng tôi sẽ chết.
Thời gian trôi qua một cách chậm chạp đến không chịu nổi. Nhưng trên đời cái gì cũng phải kết thúc - Tất nhiên nếu ta sống được đến lúc đó - Và cái ngày khủng khiếp ấy bắt đầu ngả về chiều. Gần ba giờ, chúng tôi quyết định rằng không thể chịu đựng sự tra tấn này lâu hơn được nữa. Thà chết dọc đường còn hơn phải chết dần chết mòn vì nóng và khát trong cái hố đáng sợ này. Uống mỗi người vài ngụm từ số nước ít ỏi còn lại đã bị đun nóng đến nhiệt độ của máu, chúng tôi đứng dậy lảo đảo bước đi tiếp.
Chúng tôi đã đi được gần năm mươi dặm sâu trong sa mạc. Nếu còn nhớ những lời dặn của Xinvextơra và xem lại tấm bản đồ của ông ta, bạn đọc sẽ thấy sa mạc kéo dài bốn mươi Liơ, và Hồ “nước thối” được đánh dấu ngay chính giữa. Bốn mươi Liơ tức là một trăm hai mươi dặm, nghĩa là chúng tôi chỉ cách chỗ có nước nhiều nhất là hai mươi hoặc mười lăm dặm. Tất nhiên nếu quả đúng là có một hồ nước như thế.
Sau một ngày ròng rã phải chịu đựng những thử thách ghê gớm, bây giờ chúng tôi lê chân, chậm chạp tiến về phía trước, với tốc độ hơn nửa dặm một giờ. Mặt trời lặn, chúng tôi dừng lại nghỉ, và trong khi chờ trăng lên, chúng tôi uống vài ngụm nước rồi tranh thủ ngủ chút ít. Trước khi nằm xuống, Ambov chỉ cho chúng tôi một ngọn đồi không lớn lắm đang in hình mờ mờ trên nền sa mạc bằng phẳng, cách chúng tôi gần tám dặm. Từ xa trông nó như một tổ kiến, và vừa nằm thiếp ngủ, tôi vừa tự hỏi mình không hiểu đó là cái gì. Trăng lên. Chúng tôi đứng dậy đi tiếp, hoàn toàn kiệt sức vì nóng và khát. Ai chưa trải qua những thử thách này, khó mà hình dung nổi cả sự gian khổ của chúng tôi lẫn những gì chúng tôi đã trải qua ngày hôm ấy. Không phải chúng tôi đi, mà lảo đảo bên này sang bên kia, chốc chốc lại ngã xuống vì kiệt sức. Cứ đi được một giờ, hầu như lần nào chúng tôi cũng phải ngồi xuống nghỉ. Thậm chí chẳng còn đủ sức để nói chuyện. Trước đấy thuyền trưởng Huđơ bao giờ cũng nói, đùa vui vẻ, vì ông ta là người rất vui tính, thế mà bây giờ tính ấy của ông ta cũng biến đâu mất.
Cuối cùng, gần hai giờ sáng, hoàn toàn rã rời cả về thể xác lẫn tinh thần, chúng tôi đến được chân của một đồi cát kì dị, mà ngay từ lúc mới nhìn chúng tôi đã thấy giống một chiếc tổ kiến. Nó cao khoảng ba mươi mét và chiếm một diện tích gần một nghìn mét vuông.
Chúng tôi dừng lại ở đây, và bị cơn khát khủng khiếp dày vò, chúng tôi đã uống cạn đến giọt cuối cùng số nước còn lại. Thế mà mỗi người cũng chỉ được chưa đầy một phần ba lít, trong khi có thể uống hết cả thùng.
Sau đó chúng tôi lại nằm xuống, và khi đã thiếp ngủ, tôi chợt nghe Ambov lẩm bẩm nói một mình bằng tiếng Dulux:
- Nếu ngày mai không tìm thấy nước, tất cả chúng ta sẽ chết trước lúc trăng lên.
Mặc dù trời rất nóng, tôi đã run lên. Không thể nói rằng dễ chịu khi nghĩ về khả năng có thể chết một cách khủng khiếp như thế. Nhưng thậm chí cả ý nghĩ ấy cũng không ngăn được tôi ngủ thiếp lúc nào không biết.
lặng.
thiensu96 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn  
Trả Lời Với Trích Dẫn
Unread 13-05-2012, 07:55 AM   #6
Default

Chương 5
NƯỚC! NƯỚC

Hai giờ sau tôi tỉnh dậy. Lúc ấy đã là bốn giờ sáng. Khi cái nhu cầu ngủ do sự mệt mỏi của thể xác đòi hỏi được thỏa mãn, tôi liền cảm thấy ngay cơn khát khủng khiếp quen thuộc. Sau đấy tôi chẳng thể nào ngủ thiếp đi được nữa. Trong mơ, tôi thấy tôi đang tắm trong dòng sông hai bên bờ cây cối mọc xanh tốt, nhưng tỉnh dậy, tôi phải trở lại với thực tế buồn thảm của mình. Xung quanh chúng tôi vẫn là sa mạc khô cằn, và tôi bỗng nhớ lời của Ambov, rằng nếu hôm nay không tìm thấy nước, chúng tôi sẽ có nguy cơ chết khát, không một người nào có thể tồn tại được lâu khi thiếu nước giữa cái nóng như thế này. Tôi ngồi dậy và bắt đầu lau khuôn mặt cáu bẩn của mình bằng đôi tay khô, nhăn nheo. Môi và mi mắt tôi dính chặt với nhau, và chỉ nhờ lau như thế, tôi mới mở miệng và mắt được, dù khá vất vả. Chẳng bao lâu nữa mặt trời sẽ mọc, nhưng lúc này trong không khí không hề cảm thấy chút nào hơi ẩm của buổi sáng. Bao quanh chúng tôi là bóng đêm bị hun nóng ngột ngạt không thể nào tả hết. Các bạn đường của tôi còn đang ngủ. Cuối cùng trời đã sáng đến mức có thể đọc sách được. Tôi mở cuốn sách nhỏ cỡ bỏ túi các truyện thơ của Ingônđơbi mà tôi mang theo và đọc bài “Con quạ xứ Rêm”. Khi đọc đến chỗ có nói.
Có cậu bé tay xách chiếc bình vàng
Đựng đầy nước trong xanh mát lạnh
Của dòng sông đang uốn mình lấp lánh
Giữa xứ Rêm và Namurơ...
thì bất giác tôi bỗng mấp máy đôi môi khô nẻ của mình, hay nói đúng hơn là định làm thế mà không được. Chỉ ý nghĩ về bình nước mát ấy cũng đủ làm tôi phát điên lên. Nếu lúc này bỗng xuất hiện đức Hồng y giáo chủ với cuốn Kinh thánh và ngọn nến cầm tay, có lẽ tôi sẽ lao về phía ngài và uống hết chậu nước dành cho ngài rửa tay, thậm chí khi chậu nước ấy đầy bọt xà phòng, dù biết làm thế, tôi sẽ bị nhà thờ công giáo nguyền rủa và trừng phạt. Tôi nhớ lúc ấy vì khát, mệt và đói, tôi cảm thấy choáng váng trong đầu. Tôi hình dung rất rõ đức Hồng y giáo chủ cùng chú tiểu đồng theo hầu và con quạ xứ Rêm sẽ nhìn tôi, người thợ săn voi có mái tóc bạc, da ngăm đen và khổ người bé nhỏ, như thế nào, khi bỗng nhiên, chỉ bằng một bước nhảy, tôi xuất hiện bên ngài và vục khuôn mặt bẩn thỉu của mình xuống chậu nước thánh, uống sạch không còn một giọt. Ý nghĩ này buồn cười đến nỗi tôi phá lên cười, và bằng giọng cười khàn khàn của tôi đã đánh thức những người bạn đường dậy; những người này cũng bắt đầu đưa tay vuốt mặt, mí mắt và môi đang dính chặt vào nhau.
Khi tỉnh ngủ hẳn, chúng tôi bắt đầu bàn bạc về hoàn cảnh khá nghiêm trọng của mình. Không còn một giọt nước nào. Chúng tôi dốc ngược các bình, cố kiếm những giọt nước sót lại, nhưng vô ích. Thuyền trưởng Huđơ, người mang chai rượu theo mình, bắt đầu nhìn nó bằng đôi mắt tham lam, nhưng Henry đã vội giật lấy vì biết rằng lúc này uống rượu có nghĩa là tự đưa mình đến cái chết nhanh hơn.
- Nếu không tìm được nước, chúng ta sẽ chết. - Huđơ nói.
- Nếu có thể tin được bản đồ của ông già Bồ Đào Nha, thì chắc đâu đây phải có nước. - Tôi nói.
Hình như không ai tỏ ra vui vẻ lắm khi nghe tôi nói thế. Rõ ràng là không thể đặt hết hi vọng vào tấm bản đồ này được. Trời mỗi lúc một sáng dần, sáng dần. Chúng tôi ngồi im, thờ thẫn nhìn nhau. Bỗng nhiên tôi thấy Venfogen đứng dậy đi lại xung quanh, mắt vẫn không ngớt nhìn xuống cát. Rồi anh ta chợt dừng lại, kêu lên một tiếng gì đấy, tay chỉ xuống đất.
- Cái gì đấy? - Chúng tôi nhổm dậy hỏi rồi cùng chạy về phía anh ta vừa chỉ.
- Cứ cho đấy là dấu chân còn mới của linh dương, - Tôi nói. - Nhưng rồi sao?
- Linh dương chỉ quanh quẩn bên nơi có nước. - Anh ta đáp bằng tiếng Hà Lan.
- Vâng, - Tôi đáp, - Cậu nói đúng. Tôi quên mất điều ấy. Tạ Chúa lòng lành.
Điều khám phá nhỏ này đã tăng thêm sức lực cho chúng tôi. Thật là đáng ngạc nhiên, gặp cảnh khốn quẫn, không lối thoát, con người bấu víu vào cả những hi vọng mong manh nhất nếu có, và cảm thấy gần như hạnh phúc. Giữa đêm tối, một ngôi sao dù nhỏ cũng còn hơn không có ngôi sao nào.
Trong lúc ấy Venfogen ngước chiếc mũi hếch của mình lên trời, hít hít làn không khí nóng bỏng như con cừu hít ngửi thấy nguy hiểm. Bỗng anh ta lại nói:
- Tôi ngửi thấy có mùi nước!
Nghe thế chúng tôi ai cũng vui mừng, vì biết những người lớn lên ở sa mạc có chiếc mũi bẩm sinh rất thính.
Đúng lúc này mặt trời lên, uy nghi và lộng lẫy, và đưa đôi mắt mệt mỏi ngắm nhìn cảnh tượng hùng vĩ ấy, trong giây lát thậm chí chúng tôi còn quên cả cái khát.
Cách chúng tôi không đầy bốn mươi hoặc năm mươi dặm là núi Vú của nữ hoàng Xava đứng sừng sững, long lanh như dát bạc trong ánh mặt trời buổi sáng. Kéo dài ra hai bên hàng trăm dặm là dãy Xulâyman nổi tiếng. Lúc này, khi tôi đang ngồi bên bàn để viết những dòng này, quả tôi không tìm đủ lời để miêu tả cảnh đẹp và sự hùng vĩ của bức tranh thiên nhiên hôm ấy...
Sau đấy, như để che không cho chúng tôi nhìn thêm những đám sương mù và mây hình thù kì dị bỗng từ đâu kéo đến, đông đặc dần rồi phủ kín tất cả, cho đến lúc cuối cùng chỉ còn nhìn thấy những đường nét mờ mờ của dãy núi khổng lồ thấp thoáng trong mây mù như bóng ma. Sau này, chúng tôi mới biết rằng chúng thường bị che khuất trong mây, cũng chính vì thế mà trước đấy không ai trong số chúng tôi nhìn rõ chúng như thế.
Khi dãy núi bị che khuất, ngay lập tức cái khát lại quay lại hành hạ chúng tôi.
Nghe Venfogen nói rằng anh ta ngửi thấy mùi nước thì thích thật đấy, nhưng nhìn xung quanh, chúng tôi không hề thấy một dấu hiệu nào khẳng định điều đó, đâu cũng chỉ thấy biển cát đơn điệu, quằn quại dưới ánh mặt trời gay gắt và những bụi gai thấp, giống cây đặc trưng cho những vùng thiếu nước ở Nam Phi. - Chúng tôi đi vòng quanh ngọn đồi, lo lắng quan sát đây đó với hi vọng tìm thấy nước phía sau nó, nhưng vô ích: Không một hố đọng, không một vũng nước, một con suối nhỏ nào.
- Cậu chỉ nói hão, - Tôi giận dữ bảo Venfogen - Ơ đây không có nước!
Nhưng anh ta vẫn tiếp tục nhón chân, hướng cái mũi hếch xấu xí của mình lên trời.
- Tôi ngửi thấy mùi nước, thưa ông chủ, - Anh ta nói. - Quanh quẩn đâu đây thôi, trong không khí.
- Vâng. - Tôi mỉm cười mỉa mai. - Tất nhiên là thế. Trên đám mây kia đang có nước, và độ hai tháng nữa sẽ có mưa đổ xuống để rửa sạch xương của chúng ta.
Henry trầm ngâm vuốt vuốt bộ râu vàng hoe của mình.
- Hay nước ở trên đỉnh đồi? - Ông nói.
- Hừm, - Huđơ nhún vai. - Đã ai bao giờ nghe nói có thể tìm thấy nước trên đồi chưa?
- Ta cứ thử leo lên xem sao - Tôi đề nghị.
Và hoàn toàn không hi vọng, chúng tôi bắt đầu leo lên theo bờ cát dốc. Bỗng Ambov đang đi phía trước đứng sững lại.
- Manzia, manzia! (Nước! Nước!).- Anh ta kêu to.
Chúng tôi chạy ùa lại và quả thật ở đấy, ngay trên đỉnh đồi, trong một vũng sâu có hình chiếc bát, chúng tôi đã nhìn thấy nước!
Chúng tôi không để mất thời gian tìm hiểu vì sao ở đây lại có thể có nước, và màu đen rất không hấp dẫn của nó cũng không hề làm chúng tôi do dự. Với chúng tôi, chỉ cần nhìn thấy nước hay cái gì đó giống nước là đủ. Chúng tôi nhào tới và chỉ một giây sau, tất cả nằm sấp uống lấy uống để thứ nước thối ấy một cách sung sướng, như thể đó là nước thánh.
Trời ơi, chúng tôi uống mới nhiều làm sao! Cuối cùng đỡ khát, chúng tôi cởi hết quần áo, ngồi xuống nước để làn da bị mặt trời hun khô được thấm một ít chất ẩm thần tiên ấy.
Thưa bạn đọc của tôi, vì chỉ cần vặn vòi là lập tức từ cái thùng lớn đâu đó sẽ chảy ra nước lạnh hay nước nóng, nên bạn đọc không thể hiểu hết một cách sâu sắc cái hạnh phúc lớn lao của chúng tôi khi vùng vẫy trong vũng nước bẩn mằn mặn đó.
Tắm chán, chúng tôi bước lên, hoàn toàn tươi tỉnh trở lại và bắt đầu ăn ngấu nghiến đến no bụng món thịt khô mà những ngày trước đây không ai đụng đến. Sau đấy chúng tôi hút thuốc, nằm xuống nghỉ bên vũng nước kì diệu trong bóng mát bờ đất nhô ra và ngủ một mạch cho đến tận trưa.
Suốt ngày hôm ấy chúng tôi nghỉ ngơi, không ngớt cảm ơn số phận đã cho chúng tôi tìm thấy nước, không quan trọng nước ngon hay dở. Chúng tôi cũng không quên cảm ơn linh hồn ông già Xinvextơra chết từ lâu đã giữ lại vũng nước cho chúng tôi bằng cách đánh dấu nó trên vạt áo của mình. Chúng tôi hoàn toàn không thể cắt nghĩa nổi vì sao vũng nước có thể tồn tại lâu đến thế. Tôi chỉ tìm được một giả thuyết duy nhất là có một mạch nước ngầm nào đó chảy sâu dưới cát cung cấp nước cho nó.
Khi trăng lên, chúng tôi lên đường đi tiếp, sau khi đã rót đầy nước vào dạ dày và các bình, và tất nhiên là với khí thế hăng hái hơn trước rất nhiều. Đêm hôm ấy chúng tôi đi được gần hai mươi lăm dặm, và tất nhiên là không còn gặp chỗ nào có nước nữa. Ngày hôm sau, chúng tôi lại gặp may vì tìm được một ít bóng râm trong một tổ kiến. Khi mặt trời mọc, xua tan bức màn sương mù huyền bí, chúng tôi lại nhìn thấy dãy núi Xulâyman và hai đỉnh nhọn hùng vĩ của Vú Nữ hoàng Xava cách chúng tôi không quá hai mươi dặm.
Chúng tôi có cảm giác như núi đang treo trên đầu, và trông lại càng hùng vĩ hơn trước. Đêm đến chúng tôi lại đi và rạng sáng hôm sau đã ở dưới chân núi Vũ Nữ hoàng Xava là cái đích của suốt chặng đường đã qua. Lúc này chúng tôi lại hết nước, lại bị cơn khát dày vò, và tất nhiên không có hi vọng tìm thấy nó trước khi leo lên đến những mảng tuyết đang phủ cao trên đầu chúng tôi. Ngồi nghỉ một hai giờ, chúng tôi lại lên đường đi tiếp với cái khát cháy khô trong cuống họng. Dưới ánh nắng gay gắt, chúng tôi leo lên một cách vô cùng vất vả theo sườn núi dốc đứng phủ một lớp nham thạch đã đông cứng. Hóa ra chân núi khổng lồ này được tạo nên bởi nhiều lớp nham thạch chồng lên nhau do núi lửa phun ra hàng vạn năm về trước.
Đến mười một giờ, chúng tôi hoàn toàn kiệt sức, và vất vả lắm mới giữ được để không bị ngã khụy. Lớp nham thạch đông cứng ở đây kể ra cũng tương đối trơn tru, so với những loại nham thạch khác mà tôi đã nghe nói - Như ở đảo Vonexe chẳng hạn, - Nhưng lại không bằng phẳng, làm đôi chân của chúng tôi đau nhức nhối. Cách chúng tôi mấy trăm mét có một mảng nham thạch nhô ra, tạo thành mái che làm chỗ nghỉ rất tốt.
Vất vả lê chân được đến đó, chúng tôi vô cùng ngạc nhiên (kể cũng lạ là chúng tôi còn chưa mất hết khả năng ngạc nhiên!) thấy trên khoảng trống bằng phẳng bên cạnh có mọc phủ một lớp cỏ xanh. Chắc là do nham thạch phân hóa thành đất và dần dần chim tha các hạt giống cỏ lên đó. Tuy nhiên, nó chẳng làm chúng tôi quan tâm lâu, vì dù sao chúng tôi cũn không thể ăn cỏ mà sống như vua Navukhodonoxor (Vua Ba-bi-ông) được. Để làm được điều đó, trước hết cần có Chúa trời chọn được loại nào ăn được, loại nào không, sau nữa phải có bộ máy tiêu hóa đặc biệt. Chúng tôi ngồi dưới tảng đá và thở dài buồn bã. Riêng tôi, tôi thực sự hối hận rằng đã tham gia vào cuộc phiêu lưu gian khổ này.
Bỗng tôi thấy Ambov đứng dậy đi về phía có cỏ, và chỉ ít phút sau, tôi ngạc nhiên đến tột độ khi thấy anh ta một người luôn chừng mực và đầy lòng tự trọng, đang nhảy cẫng lên, vừa kêu to như một thằng điên, vừa huơ huơ một cái gì đấy màu xanh.
Nghĩ anh ta tìm thấy nước, chúng tôi vội tiến lại gần với tốc độ nhanh nhất mà đôi chân rã rời cho phép.
- Có chuyện gì thế, Ambov, con trai của một thằng ngốc? Tôi nói bằng tiếng Dulux.
- Đây, thức ăn và nước đây, Macumazan! - Anh ta lại giơ lên cái vật màu xanh nọ.
Tôi xem kĩ õ anh ta cầm gì, thì ra đó là một quả dưa bở. Chúng tôi tiến đến khu đất xanh, nơi lăn lóc hàng nghìn quả dưa dại đã chín.
- Dưa! - Tôi kêu to với Huđơ, người đi sau tôi.
Và chỉ một giây sau, ông ta đã cắm ngập bộ răng giả của mình vào một quả. Tôi nghĩ mỗi người chúng tôi đã ăn ít nhất là sáu quả. Dù chúng không thật ngon lắm, nhưng lúc ấy tôi tưởng như trong đời mình chưa từng được ăn cái gì ngon đến thế.
Nhưng dưa bở không phải là món ăn chắc bụng, vì vậy sau khi đã nhai ngấu nghiến đến thỏa thích cái chất mềm mọng nước của nó và hái thêm một số để dự phòng, chúng tôi lại cảm thấy đói kinh khủng. Chúng tôi đang còn một ít thịt khô, nhưng vừa nghĩ đến chúng, ai cũng nhăn mặt buồn nôn, vả lại cũng phải dè sẻn, vì khó lòng mà đoán biết bao giờ chúng tôi mới lại tìm được thức ăn lần nữa. Nhưng vào đúng lúc này chúng tôi lại gặp may. Nhìn về phía sa mạc, tôi thấy có một đàn độ mười con chim to. Chúng bay thẳng về phía chúng tôi.
- Skit, Baas, Skii! (Bắn đi, thưa ông chủ, bắn đi!) anh chàng người Gốttentốt vừa khẽ bảo tôi, vừa vội nằm rạp xuống.
Tất cả chúng tôi làm theo anh ta.
Tôi nhận ra đó là một đàn diệc, đang bay cao trên đầu tôi, cách năm mươi mét. Cầm một khẩu winchester tôi chờ đúng đến lúc chúng bay ngang đỉnh đầu rồi bất ngờ đứng dậy. Như tôi dự đoán, thấy tôi, đàn diệc hoảng sợ bay tụm vào một chỗ. Tôi bắn hai phát và may mắn trúng một con. Đó là một con rất đẹp, cân nặng gần chín cân. Nửa giờ sau con chim đã được nướng trên ngọn lửa do chúng tôi nhặt các dây dưa khô nhóm lên. Lần đầu tiên trong suốt cả tuần, chúng tôi mới được ăn một bữa tiệc như thế. Chúng tôi ăn hết toàn bộ con chim, trừ xương và nỏ. Ăn xong, ai cũng thấy khỏe khoắn hẳn lên.
Đêm đến, chờ trăng lên, chúng tôi lại lên đường mang theo một số lượng dưa nhiều nhất mà chúng tôi có thể mang được. Càng lên cao, không khí càng mát và điều ấy làm chúng tôi dễ chịu hơn. Rạng sáng, chúng tôi chỉ còn cách chỗ có tuyết mấy dặm. ƠŒ đây chúng tôi lại gặp dưa, và ý nghĩ về cái khát không còn làm chúng tôi lo lắng nữa, vì sắp tới sẽ có thừa tuyết để ăn. Nhưng bây giờ leo lên là việc rất nguy hiểm, và chúng tôi đi chậm một cách kinh khủng - Một giờ chưa được một dặm. Thêm vào đó, đêm hôm ấy chúng tôi đã ăn hết miếng thịt khô cuối cùng.
Suốt cả thời gian này, chúng tôi không hề gặp một sinh vật nào trong núi, trừ đàn diệc, và cũng không thấy có mạch nước ngầm hay con suối nào. Điều này làm chúng tôi ngạc nhiên, vì trên đỉnh núi là hàng mảng tuyết dày mà chúng tôi cho là thỉnh thoảng phải tan thành nước. Sau này tôi mới biết rằng vì một liù do nào đấy không thể giải thích nổi, tất cả các con suối đều chảy về phía bắc, phía bên kia núi.
Bây giờ thì vấn đề thiếu thức ăn làm chúng tôi rất lo lắng. Hoàn toàn có thể nghĩ rằng chúng tôi thoát được khỏi chết khát chỉ để đến lúc này phải chết đói. Những ghi chép sau đây mà tôi ghi một cách đều đặn vào cuốn sổ của tôi có lẽ sẽ giúp bạn đọc hình dung rõ hơn những gì đã xảy ra trong ba ngày tiếp theo lúc ấy.
“Ngày 21-5. Ra đi vào lúc mười một giờ sáng, vì trời đủ lạnh để có thể đi ban ngày. Mang theo một số dưa bở. Suốt ngày lê chân đi một cách hết sức vất vả. Không còn thấy nơi nào có dưa - Chắc là đã vượt qua vùng đất mà chúng có thể mọc. Không gặp một loại muông thú nào để săn bắn. Khi mặt trời lặn, chúng tôi dừng lại để nghỉ. Chưa được ăn gì suốt cả mấy giờ trước đấy. Ban đêm rét kinh khủng.
"Ngày 22. Rạng sáng lại ra đi, càng thấy yếu hơn trước. Cả ngày chỉ đi được năm dặm. Gặp một vài mảnh đất nhỏ phủ tuyết. Chúng tôi đã ăn tuyết, vì chẳng còn gì khác để ăn. Nằm ngủ dưới mái che của một tảng đá khổng lồ nhô ra về phía trước. Rét cắt thịt. Chúng tôi uống một ít rượu rồi đi nằm, co ro trong chăn, người này áp chặt người kia để khỏi bị chết rét. Cái đói và cái mệt làm chúng tôi vô cùng đau đớn. E rằng Venfogen khó mà sống nổi đến sáng mai.
"Ngày 24. Lại lần nữa cố gắng đi tiếp, nhưng chỉ sau khi mặt trời lên khá cao và ít nhiều sưởi ấm những đôi chân giá lạnh. Chúng tôi ở trong một tình trạng đáng lo sợ, và tôi nghĩ rằng, nếu không kiếm được thức ăn, hôm nay sẽ là ngày cuối cùng của cuộc hành trình. Chai rượu chỉ còn lại rất ít. Huđơ, Henry và Ambov tỏ ra rất vững vàng, nhưng Venfogen thì thật đáng lo ngại. Như phần lớn những người Gôttentốt, anh ta không chịu được lạnh. Tôi không còn cái đau nhói ở dạ dày nữa, mà chỉ thấy âm ỉ tê dại. Những người khác nói rằng họ cũng vậy. Bây giờ chúng tôi đã leo lên đến lớp nham thạch nối liền hai núi với nhau. Từ đây nhìn xung quanh cảnh tượng thật đẹp.Sau lưng chúng tôi, trải dài ra tận chân trời là sa mạc mênh mông lấp lánh, còn phía trước là những gợn sóng tuyết trắng bằng phẳng, dài hàng dặm, nhấp nhô vươn lên cao. Chính giữa những ngọn sóng tuyết ấy là đỉnh núi cao khoảng 2.000 mét. Không thấy một sinh vật nào. Mong Chúa hãy rủ lòng thương cứu vớt chúng con. Tôi sợ rằng giờ phút cuối cùng của chúng tôi đã đến...".
Còn bây giờ tôi sẽ để cuốn nhật kí của mình sang một bên, một phần vì nội dung của nó làm bạn đọc buồn chán, phần khác vì những gì xảy ra sau đấy có lẽ đáng được kể lại một cách chi tiết hơn.
Trong suốt cả ngày hôm ấy (23-5), chúng tôi chậm chạp bò lên theo dốc núi phủ tuyết, thỉnh thoảng lại nằm xuống nghỉ lấy sức. Chắc nhìn chúng tôi sẽ buồn cười lắm. Năm người đói rét, mệt mỏi, chậm chạp lê từng bước chân nhức nhối của mình trên dốc núi trắng xóa, đôi mắt hau háu nhìn ra xung quanh. Nhưng làm thế cũng vô ích, tất nhiên, vì chỉ có nhìn chăm chú đến đâu, cũng không thể tìm thấy cái gì ăn được. Ngày hôm ấy chúng tôi chỉ đi được không quá bảy dặm. Ngay trước khi mặt trời lặn, chúng tôi đã lên tới đỉnh phía trái của núi Vú nữ hoàng Xava, bên cạnh một mỏm đá khổng lồ bằng phẳng phủ đầy tuyết cứng, vươn lên cao hàng nghìn mét. Dù quá mệt mỏi, chúng tôi vẫn không thể không chiêm ngưỡng cảnh tượng kì diệu đang trải ra trước mắt. Những dòng ánh sáng phát ra từ mặt trời đang lặn càng tăng thêm vẻ đẹp của bức tranh hùng vĩ, nhuộm đỏ tuyết rải rác ở một vài chỗ.
- Này, các ông biết không. - Huđơ bỗng nói, - Chắc chúng ta đang ở gần cái hang núi mà ông già người Bồ Đào Nha đã nhắc tới.
- Vâng, - Tôi đáp, - Nếu quả có một hang núi như thế.
- Này ông Quotécmên, - Henry thở dài nói, - Không nên nói như thế. Tôi hoàn toàn tin vào ông già Bồ Đào Nha ấy. Hãy nhớ lại hồ nước thì biết. Sắp tới, chúng ta sẽ tìm thấy hang núi.
- Nếu từ giờ đến tối không tìm thấy nó, chúng ta có thể coi như mình đã chết, thế thôi, - tôi đáp không lấy gì làm vui vẻ lắm.
Chúng tôi tiếp tục đi thêm mươi phút trong im lặng, Ambov đi cạnh tôi, người quấn chăn, chiếc thắt lưng da thít chặt quanh hông, đến nỗi eo bụng của anh ta thon lại như con gái. Anh ta nói phải thít chặt như thế để “bắt cái rét phải co lại”. Bỗng anh ta túm lấy tay tôi.
- Nhìn kìa! - Anh ta nói, tay chỉ về phía đỉnh núi.
Tôi nhìn theo và thấy cách chúng tôi khoảng hai trăm mét, có một chấm đen trông như lỗ hổng trên nền tuyết trắng bằng phẳng.
- Đấy là hang núi. - Anh ta nói.
Bằng những cố gắng cuối cùng, chúng tôi đi về hướng ấy và thấy đó đúng là cửa dẫn vào hang núi, chắc chắn là cái hang mà Hoxe Xinvext đã nói tới. Chúng tôi đến rất đúng lúc vì ngay lúc đó mặt trời lặn nhanh một cách đáng ngạc nhiên, và tất cả bỗng chìm trong bóng tối. ƠŒ những vùng này hầu như không có hoàng hôn. Hóa ra hang cũng không rộng lắm. Chúng tôi bò vào hang, người này áp sát người kia cho đỡ lạnh, và mỗi người một ngụm chúng tôi đã uống hết số rượu còn lại. Sau đó, chúng tôi cố ngủ để quên hoàn cảnh bi thảm của mình, nhưng vì quá lạnh không ai chợp mắt nổi.
Tôi tin rằng ở đây nhiệt độ không ít hơn 14-15 độ dưới không. Điều ấy nghĩa là gì đối với chúng tôi, những người kiệt sức vì đi đường, thiếu ăn, khô rạc vì cái nắng của sa mạc. Chắc bạn đọc sẽ tự đoán hiểu tốt hơn là tôi nói ra đây. Chỉ cần nói rằng tôi chưa bao giờ cảm thấy cái chết gần mình như thế, là đã quá đủ.
Cái đêm khủng khiếp ấy kéo dài hết giờ này đến giờ khác. Chúng tôi ngồi trong hang và cảm thấy rõ Thần băng tuyết đang đi lại xung quanh, châm muôn ngàn mũi kim vào tay, chân và mặt. Chúng tôi càng ôm chặt nhau hơn, cố gắng sưởi ấm nhau một cách vô ích, bởi vì trong cơ thể thảm hại, gầy gò vì thiếu ăn của chúng tôi đã chẳng còn chút hơi ấm nào.
Thỉnh thoảng có ai đó trong chúng tôi chợp mắt mơ màng được ít phút, nhưng nói chung nằm rất lâu mà không sao ngủ nổi. Cũng có thể như thế là tốt hơn, vì tôi nghĩ nếu ngủ quên, chúng tôi sẽ chẳng còn bao giờ thức dậy nữa.
Tôi tin rằng chính nhờ sức mạnh của ý chí, chúng tôi mới sống qua được đêm ấy.
Gần sáng, tôi bỗng nghe Venfogen thở mạnh một cái rồi im hẳn, dù trước đấy suốt đêm, hai hàm răng của anh ta luôn đập vào nhau vì rét. Lúc ấy, tôi chẳng chú ý nhiều tới điều đó, vì nghĩ anh ta đã ngủ thiếp. Anh ta ngồi quay lưng về phía tôi, và tôi có cảm giác rằng người anh ta đang lạnh dần, lạnh dần, cho đến lúc cứng lại như một tảng băng.
Cuối cùng ánh bình minh xuất hiện thay chỗ bóng tối, sau đó những tia nắng vàng bắt đầu lóe lên trên tuyết trắng, và mặt trời rực rỡ nhô lên sau đỉnh núi, chiếu sáng những hình người buốt lạnh của chúng tôi, soi sáng cả Venfogen lúc này đang ngồi chết cứng. Chẳng trách trước đấy tôi có cảm giác rằng lưng anh ta rất lạnh.
Anh chàng tội nghiệp đã chết khi tôi nghe anh ta thở hắt, còn bây giờ thì hầu như bị đông cứng như một khúc cây.
Vô cùng hoảng sợ, chúng tôi bò ra khỏi xác chết (kể cũng lạ, bao giờ chúng ta cũng sợ hãi khi nhìn thấy xác chết), và để anh ta ngồi đấy một mình, hai tay ôm chặt đầu gối như cũ.
Đến lúc ấy, những tia sáng của mặt trời lạnh lẽo (đúng là chúng lạnh thật) đã chiếu vào sâu trong hang. Tôi bỗng nghe có ai đấy kinh hoàng kêu lên, quay lại nhìn về phía trong hang.
Và sau đây là cái tôi đã nhìn thấy: ƠŒ cuối hang (hang chỉ dài không quá sáu mét) có một hình người khác đang ngồi, đầu cúi xuống ngực, hai cánh tay dài để thõng xuống hai bên. Tôi nhìn kĩ và thấy đó cũng là một xác chết. Hơn thế nữa, một xác chết của người da trắng.
Những người bạn đường của tôi cũng nhìn thấy ông ta, và thần kinh rệu rã của chúng tôi đã không còn chịu đựng nổi cảnh ấy! Cùng có chung một ý nghĩ nhanh chóng thoát khỏi hang núi khủng khiếp này chúng tôi vội bò ra với tốc độ nhanh nhất mà những đôi chân hầu như giá lạnh hoàn toàn của chúng tôi cho phép.
lặng.
thiensu96 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn  
Trả Lời Với Trích Dẫn
Unread 13-05-2012, 07:56 AM   #7
Default

Chương 6
CON ĐƯỜNG CỦA VUA XOLOMONG

Vừa từ hang núi bước ra một bãi trống tuyết phủ lấp lánh dưới mặt trời, chúng tôi đã lập tức dừng lại. Tôi nghĩ trong chúng tôi ai cũng cảm thấy ngượng ngùng vì vừa rồi đã tỏ ra hèn yếu khi nhìn thấy xác chết.
- Tôi quay lại hang núi, - Henry nói.
- Để làm gì? - Huđơ hỏi.
- Tôi có cảm giác như... như đó là em trai tôi. - Henry đáp, giọng hồi hộp.
Cho rằng rất có thể là như thế, tất cả chúng tôi cùng quay lại để xem có đúng hay không. Lúc đầu, vì vừa ở ngoài nắng lóa và quen nhìn tuyết trắng, chúng tôi không nhìn thấy gì trong hang mờ tối. Nhưng một chốc sau, khi đã quen với bóng tôi, chúng tôi thận trọng đi về phía xác chết.
Henry quỳ xuống, nhìn chăm chú vào mặt người chết.
- Lạy Chúa! - Ông kêu lên nhẹ nhõm. - Đây không phải là Georg!
Tôi cũng đi đến và quan sát kĩ lưỡng. Đó là một người đàn ông cao, đã đứng tuổi, có khuôn mặt thanh tú và chiếc mũi khoằm, bộ ria mép dài đen và mái tóc đen điểm bạc. Da của ông ta rất vàng và dán chặt vào khuôn mặt đã khô héo. Trên người ông không có một thứ quần áo nào, ngoài chiếc quần đang mục nát và đã rách bươm từ lâu. Cổ ông ta mang một cây thánh giá bằng ngà voi.
- Đây có thể là ai được nhỉ? - Tôi ngạc nhiên thốt lên.
- Không lẽ ông không đoán ra à? - Huđơ hỏi.
Tôi lắc đầu.
- Còn ai vào đây nữa, nếu không phải là Hoxe Xenvextra!
Không thể thế được! - Tôi thì thầm bằng giọng đứt quãng vì hồi hộp. - Ông ta chết cách đây đã ba trăm năm!
- Thì có gì đáng lạ? - Huđơ bình thản đáp. - Giữa cái lạnh thế này, ông ta có thể yên tâm ngồi như vậy thêm ba nghìn năm nữa. ƠŒ nhiệt độ như ở đây, máu và thịt có thể giữ tươi suốt đời, như thịt bò ướp Tân Tây Lan vậy. Ánh sáng mặt trời không lọt được vào đây, cũng chẳng có con thú nào tới tìm mồi, bởi vì ở đây chẳng hề có sinh vật nào sinh sống. Không còn nghi ngờ gì nữa, người nô lệ mà Xivenxtr nhắc đến trong thư, đã cởi quần áo và để xác ông ta lại đây, vì hắn không còn đủ sức để chôn cất. Ông hãy nhìn đây! - Huđơ cúi xuống nhặt một mẩu xương được mài nhọn có hình thù khá kì dị.- Đây là cái mà ông ta dùng để vẽ tấm bản đồ.
Chúng tôi quá ngạc nhiên vì sự khám phá này, đến nỗi quên cả những nỗi bất hạnh đang phải chịu. Tất cả những điều ấy có vẻ như hoàn toàn phi liù. Chúng tôi đứng lặng, chăm chú nhìn mẩu xương và cái xác của ông già Bồ Đào Nha.
- Hãy nhìn kia, - Cuối cùng Henry lên tiếng, chỉ vào một vết thương nhỏ in mờ mờ trên tay trái của Xinvextơra. - Ông ta lấy máu từ đây để viết thư. Trong đời mình, đã có ai từng thấy một cảnh như thế này chưa?
Bây giờ thì không còn nghi ngờ gì nữa: Trước mắt chúng tôi là Hoxe Xenvextra. Thú thật rằng tôi cảm thấy rờn rợn trong người.
Vâng, trước mặt chúng tôi đang ngồi cái con người cách đây gần mười thế hệ đã vẽ bản đồ dẫn chúng tôi hôm nay vào hang núi này. Tôi đang giữ trong tay mình mẩu xương thô kệch mà ông ta đã dùng để viết bức thư lúc hấp hối, nhìn thấy chiếc thánh giá mà khi chết, ông ta đã đưa lên đôi môi giá lạnh của mình.
Nhìn xác chết, tôi hình dung khá rõ trong đầu đoạn kết của tấn bi kịch.- Hình dung thấy một người du khách đang chết dần trong cảnh cô đơn vì đói và lạnh, nhưng lại muốn truyền cho người khác biết điều bí mật vĩ đại của mình. Thậm chí, tôi còn có cảm giác như trong nét mặt khắc khổ của ông ta, tôi nhìn thấy đôi nét giống với người bà con xa xôi của mình, tức là ông bạn Xinvextơra tội nghiệp của tôi, người đã chết trên tay tôi cách đây hai mươi năm. Cũng có thể đấy chỉ là do tôi tưởng tượng ra. Nhưng dù sao thì con người ấy vẫn đang ngồi kia trước mặt chúng tôi, như một lời cảnh cáo đáng sợ cho tất cả những ai coi thường thần số mệnh, dám hé bức màn bí mật của tạo hóa. Hàng nghìn năm sẽ trôi qua, nhưng ông ta vẫn tiếp tục ngồi đấy với dấu ấn của Thần chết trên mặt để làm kinh hoàng những người du khách ngẫu nhiên, như chúng tôi, dám đến hang núi này để quấy rầy sự yên tĩnh của ông ta. Mặc dù đang sắp chết, vì đói và rét, cảnh tượng này đã làm chúng tôi xúc động đến tận đáy sâu của tâm hồn.
- Ta đi khỏi đây thôi, - Henry khẽ nói. - A mà khoan! Chúng ta sẽ để lại cho ông ấy một người bạn cùng cảnh ngộ bất hạnh để san bớt sự đơn độc.
Rồi ông bế xác Venfogen đến đặt cạnh nhà quý tộc già Xinvextơra. Sau đó ông cúi xuống giật mạnh chiếc dây đã bị mục cùng chiếc thánh giá treo trên cổ ông ta. Henry không tháo cởi vì ngón tay ông lạnh cóng. Tôi nghĩ rằng ông còn giữ chiếc thánh giá ấy đến bây giờ. Còn tôi thì lấy mẩu xương đã được dùng thay bút. Bây giờ nó hiện đang nằm trước mặt tôi, trên bàn làm việc. Thỉnh thoảng tôi vẫn dùng nó để kí tên mình.
Để lại người da trắng dũng cảm của thời xa xưa và anh chàng người Gốttentốt tội nghiệp canh giữ sự im lặng vĩnh cửu của băng tuyết nguyên thủy, rồi hoàn toàn kiệt sức, chúng tôi rời hang núi bước ra một khoảng trống bằng phẳng phủ đầy tuyết óng ánh dưới mặt trời rực rỡ, và đi tiếp. Sâu trong lòng, mỗi người chúng tôi đều nghĩ rằng chẳng bao lâu nữa chúng tôi cũng sẽ gặp một số phận như thế.
Đi được gần nửa dặm, chúng tôi lại gặp một khoảng trống bằng phẳng khác và phát hiện thấy đỉnh núi cao nhất không nằm ở chính giữa như chúng tôi đã tưởng khi còn ở phía sa mạc. Vì sương mù buổi sáng quá dày, chúng tôi không thể nhìn thấy những gì ở phía dưới. Nhưng chẳng bao lâu sau sương mù tan, và chúng tôi nhìn thấy một bãi cỏ xanh ngay sát phần núi bị tuyết bao phủ. Bãi cỏ ở phía dưới, cách chúng tôi gần bốn trăm mét và có một con suối nhỏ chảy qua. Nhưng đấy chưa phải là tất cả: trên bờ suối, độ mươi, mười lăm con sơn dương loại lớn đang nằm sưởi dưới ánh mặt trời. ƠŒ một khoảng xa như thế, tất nhiên chúng tôi không thể xác định chúng thuộc nhóm nào.
Thật khó mà diễn tả hết sự vui mừng của chúng tôi khi nhìn thấy chúng. Đó là thức ăn của chúng tôi, thức ăn không hạn chế số lượng, đành rằng trước hết cần phải bắn chúng chết đã.
Đàn sơn dương ở cách xa chúng tôi ít nhất cũng năm trăm mét, nghĩa là quá xa, thậm chí đối cả với một người bắn giỏi, mà mạng sống của chúng tôi lại phụ thuộc vào phát súng đầu tiên này.
Chúng tôi vội vàng hội ý với nhau. Không thể nghĩ tới việc bò lại gần hơn, vì gió thổi về phía đàn sơn dương và chúng sẽ đánh hơi biết. Vả lại, dù thận trọng đến đâu, chúng tôi cũng không thể giấu mình nổi giữa nền tuyết trắng xóa.
- Thế thì đành phải bắn từ đây thôi, Henry nói. - Có điều nên chọn loại súng nào, “winchester” hay “Express”. Ông nghĩ thế nào, ông Quotécmên?
Đó là một vấn đề quan trọng và không dễ giải quyết. Loại súng “winchester” có hộp đạn (chúng tôi có hai khẩu, Ambov giữ một khẩu, khẩu kia của Venfogen giờ cũng do Ambov giữ nốt), có thể bắn xa một nghìn mét; còn loại “Express” hai nòng chỉ bắn được hơn ba trăm năm mươi mét. Xa hơn hơi mạo hiểm, vì có thể không trúng đích. Nhưng nếu trúng, con vật dễ bị chết hơn. Tôi đắn đo và cuối cùng quyết định phải liều bắn bằng súng “Express”. - Mỗi người sẽ bắn con trước mặt mình, - Tôi nói, - Nên ngắm vào ngực hoặc cao hơn một tí. Còn cậu, Ambov, cậu sẽ ra hiệu để chúng tôi bóp cò cùng một lúc.
Tiếp đến là im lặng. Cả ba chúng tôi cùng cố ngắm bắn thật trúng, vì biết rõ cùng với phát súng ấy, số phận chúng tôi sẽ được quyết định.
- Một hai... bắn! - Ambov ra lệnh bằng tiếng Dulux, và hầu như cùng một lúc cả ba khẩu cùng nổ vang.
Trong mấy giây, trước mặt chúng tôi treo lửng lơ ba đám khói xanh, và tiếng súng nổ nối nhau vọng lại rất lâu, phá tan sự yên tĩnh của tuyết trắng. Rồi khói tan - Ôi, sung sướng thay! - Chúng tôi nhìn thấy một con sơn dương đực to lớn đang nằm ngửa, đạp đạp chân trong cơn hấp hối. Bây giờ thì không còn lo chết đói nữa. Chúng tôi đã được cứu sống! Mặc dù hoàn toàn kiệt sức, chúng tôi cùng kêu to sung sướng và lao về phía dưới theo dốc núi phủ tuyết. Mười phút sau, trước mặt chúng tôi đã thấy tim và gan con vật. Nhưng bây giờ lại nẩy ra một vấn đề mới: Không có củi để nhóm lửa nướng thịt! Chúng tôi thất vọng, nhìn nhau một cách buồn bã.
- Đứng trước cái sống và cái chết, - Huđơ nói - con người không nên kén chọn quá. Chúng ta sẽ ăn thịt sống!
Trong hoàn cảnh của chúng tôi quả không còn lối thoát nào khác. Cái đói dày vò chúng tôi đến mức đề nghị ấy không làm ai ghê tởm, điều nhất định sẽ xảy ra trong những trường hợp khác.
Chúng tôi vùi tim và thận sơn dương trong tuyết một chốc để chúng nguội hẳn, rồi đem rửa sạch trong nước suối lạnh băng và bắt đầu ăn.
Bây giờ, khi viết những dòng này, tôi cảm thấy đó là một điều kinh khủng, nhưng phải thú thật rằng, lúc ấy tôi cảm thấy mình chưa bao giờ được ăn một cái gì ngon như thế. Chỉ cần mười lăm phút sau, chúng tôi đã trở thành những người khác hẳn, đến mức khó nhận ra: ai cũng tươi tỉnh, sức lực được hồi phục và máu trong cơ thể đã bắt đầu đập mạnh trở lại. Tuy nhiên, biết rằng đang đói mà ăn quá nhiều sẽ gây ra những hậu quả gì, chúng tôi tỏ ra rất thận trọng, chỉ ăn vừa đủ và biết dừng lại đúng lúc, khi còn cảm thấy đói.
- Lạy chúa! - Henry kêu lên. - Con vật này đã cứu ta thoát chết. Ông Quotécmên, đây là con gì đấy nhỉ?
Tôi đứng dậy đi lại gần con vật để nhìn kĩ và còn chưa tin hẳn rằng đấy là sơn dương.
Nó to không kém con lừa, lông dày màu nâu với những đường vằn đỏ mờ mờ, sừng lớn và cong về phía sau. Tôi chưa bao giờ gặp loài vật nào như thế này, nhưng về sau tôi biết dân bản xứ gọi nó là “inco”. Đây là một loài hiếm thấy thuộc họ sơn dương, chỉ có ở những vùng núi rất cao, nơi không một giống vật nào khác sinh sống. Con vật của chúng tôi bị bắn ngay vào ngực. Khó mà nói ai bắn, nhưng tôi nghĩ rằng Huđơ, nhớ lại phát súng kì diệu đã giết chết con hươu cao cổ ngày nào, chắc đang thầm cho rằng mình đã lập nên chiến công này. Tất nhiên không ai tranh cãi với ông ta về điều ấy.
Vì mải ăn, chúng tôi không chú ý mình đang ở đâu. Nhưng sau khi đã làm thỏa mãn cái đói khủng khiếp, chúng tôi bắt đầu quan sát xung quanh và sai Ambov chọn cắt những phần thịt ngon nhất để mang theo. Lúc ấy đã là tám giờ sáng, không khí trong suốt, sạch sẽ và có cảm giác như mặt trời đã hút hết làn sương buổi sáng dày đặc vào lòng mình. Tôi bất lực không thể nào miêu tả nổi bức tranh hùng vĩ đang trải ra trước chúng tôi. Phía sau, cao trên đầu chúng tôi là đỉnh phủ tuyết của núi Vú nữ hoàng Xava, còn phía dưới, cách chỗ chúng tôi đứng khoảng một nghìn năm trăm mét, kéo dài hàng mấy dặm là cánh đồng quê tuyệt diệu. Ngay trước mặt là một dòng sông rộng uốn mình giữa những ngọn đồi, những cánh đồng và những khu rừng rậm màu xanh thẫm. Phía trái dòng sông là những đồng cỏ rộng mênh mông tầm mắt không bao quát hết, nơi thấp thoáng những đàn súc vật mà từ xa chúng tôi không phân biệt nổi là đã được con người thuần hóa hay còn hoang dại. Phía chân trời xa có những ngọn núi xanh nhấp nhô. Bên phải, địa hình bằng phẳng hơn. Những ngọn đồi giống nhau nằm xen kẽ với những vệt cánh đồng kéo dài đã được canh tác. ƠŒ đấy có những nhóm nhỏ gồm những ngôi nhà đơn sơ có mái hình tròn gộp lại. Những đỉnh núi trông như đỉnh Anpơ, đứng lặng trong vẻ trang nghiêm lộng lẫy được trang điểm bằng những vòng tuyết trắng dưới ánh mặt trời tươi vui rực rỡ. Tất cả toát lên một niềm hạnh phúc đầy sức sống.
Chúng tôi rất lấy làm ngạc nhiên khi cả vùng đất đang trải ra trước mặt nằm ở độ cao ít nhất là một nghìn mét so với sa mạc mà chúng tôi đã vượt qua, và tất cả các con sông đều chảy từ phía nam sang phía bắc. Trước đây, lúc phải chịu những thử thách ghê gớm, chúng tôi đã biết được rằng suốt cả dải bờ phía nam của dãy núi không hề có một giọt nước nào, trong khi đó thì ở phía bắc, như chúng tôi bây giờ được thấy, lại có rất nhiều khe suối, phần lớn đổ vào dòng sông rộng đang ngoằn ngoèo uốn khúc đưa nước vào sâu trong nội địa.
Chúng tôi ngồi, im lặng chiêm ngưỡng cảnh đẹp kì diệu. Henry là người đầu tiên phá tan sự im lặng đó.
- Này, ông Quotécmên, - ông nói với tôi, - Đa Xenvextơra có đánh dấu Con đường Vĩ đại của vua Xolomon trên bản đồ không?
Tôi gật đầu, vẫn tiếp tục ngắm nhìn phong cảnh.
- Nếu vậy ông hãy nhìn đây. - Henry đưa tay chỉ chếch về bên phải một ít. - Nó kia!
Tôi và Huđơ nhìn theo và thấy ở cách không xa chúng tôi có một con đường lớn mà lúc đầu chún tôi không nhận ra, vì đi đến đồng bằng, nó quay ngang và khuất sau những ngọn đồi nhấp nhô. Kể cũng lạ là điều ấy không làm chúng tôi ngạc nhiên lắm, có thể vì sau tất cả những cái được chứng kiến, chúng tôi đã để mất hết khả năng ngạc nhiên chăng? Thậm chí chúng tôi cũng chẳng thấy rằng đó là điều không thể giải thích nổi. Rằng ở một đất nước còn hoang dã không ai biết đến lại có thể có một con đường ghép đá bằng phẳng như những con đường cổ La Mã. Lúc ấy chúng tôi coi đó như một điều hoàn toàn bình thường.
- Tôi nghĩ con đường phải đi ngang gần đâu đây ở bên phải chúng ta, - Huđơ nói, - Ta thử tìm xem sao.
Đó là một lời khuyên khá thông minh, và xuống suối rửa ráy xong, chúng tôi lại đi tiếp. Thời gian đầu chúng tôi phải đi trên những tảng đá lớn và những bãi trống phủ đầy tuyết, cuối cùng, sau khi đã đi được chừng một dặm, chúng tôi lên đến đỉnh một ngọn đồi nhỏ và nhìn thấy con đường nằm ngay dưới chân mình.
Đó là một con đường rải đá tuyệt diệu ăn sâu vào núi, rộng ít nhất cũng phải mười lăm mét, chắc được chăm sóc cẩn thận vì còn rất tốt. Lúc đầu chúng tôi tưởng nó bắt đầu ngay từ chỗ chúng tôi đứng, như khi đi xuống, quay lại nhìn về phía núi Vú nữ hoàng Xava, chúng tôi thấy nó còn ngoằn ngoèo vươn lên cao, nhưng lại bỗng biến mất cách chúng tôi độ một trăm bước. Tiếp đó, tất cả bề mặt của chân núi được phủ bằng đá tảng và tuyết như trước.
- Theo ông thì thế này là thế nào? - Henry hỏi tôi. - Con đường biến đi đâu?
Tôi lắc đầu không giải thích nổi.
- Tất cả rất dễ hiểu! - Huđơ nói. Tôi tin chắc đã có thời con đường này chạy vượt qua núi, xuyên qua sa mạc. Nhưng dần dần, vì núi lửa hoạt động, các nham thạch phun ra làm lấp một số đoạn trên núi, còn ở sa mạc thì bị
- Ý kiến này nghe hoàn toàn có lý. - Ít ra là chúng tôi không cãi lại Huđơ, và lại tiếp tục xuống núi. So với khi leo lên, bây giờ đi xuống mới khác hẳn làm sao. Bây giờ chúng tôi no, và đi trên con đường tuyệt diệu này quả không còn gì thích bằng, trong khi leo lên thì phải kéo lê từng bước một, ngập sâu trong tuyết, hoàn toàn kiệt sức vì lạnh và đói. Nếu không phải đau sót nhớ lại số phận đáng buồn của Venfogen và cái hang núi ảm đạm, thì có thể nói chúng tôi cảm thấy hầu như hoàn toàn hạnh phúc, mặc dù đang đi vào một đất nước đầy bí ẩn và không loại trừ cả nguy hiểm.
Càng đi xuống, không khí càng trở nên mát mẻ, dễ chịu, và miền đất đang trải ra trước mặt càng làm chúng tôi ngạc nhiên thêm bằng vẻ đẹp của mình. Còn về bản thân con đường thì phải nói rằng trong đời tôi chưa bao giờ được thấy một công trình xây dựng nào tương tự, tuy Henry có khẳng định rằng con đường vượt qua núi Xengotad ở Thuỵ Sĩ rất giống nó.
Ngày xưa, những người thiết kế con đường này đã không để lại bất kì một trở ngại hoặc vật cản nào nằm chắn ngang nó. ƠŒ một chỗ khi gặp một khe núi chiều rộng gần một trăm mét, chiều sâu không ít hơn ba mươi mét, chúng tôi thấy con đường được ghép bằng những tảng đá khổng lồ bào nhẵn, phía dưới có làm vòm mái để thông nước. Con đường cứ thế vượt qua sông một cách vững tin và đầy kiêu hãnh. ƠŒ một chỗ khác, nó ngoằn ngoèo lượn theo bờ vực sâu hơn một trăm năm mươi mét. ƠŒ chỗ thứ ba, nó chui qua một đường hầm dài mười mét được đục xuyên một mỏm đá nằm chắn ngang. Chúng tôi nhận thấy trên bức tường đường hầm có chạm trổ rất nhiều hình nổi, phần lớn miêu tả các chiến binh mặc áo giáp sắt đang điều khiển cỗ xe ngựa. Có một hình nổi đặc biệt xinh đẹp: phía trước miêu tả một trận đánh, còn phía xa là những người thua trận đang bị bắt làm tù binh.
Henry ngắm nhìn tác phẩm nghệ thuật này của thời cổ đại một cách rất chăm chú.
- Tất nhiên có thể gọi đây là Con đường vĩ đại của vua Xolomon, - ông nói, - Nhưng theo nhận xét khiêm tốn của tôi thì chắc chắn những người Ai Cập đã kịp đến trước Xolomon, vì bức tranh này rất giống các tác phẩm nghệ thuật của thời Ai Cập cổ.
Đến trưa, chúng tôi đã đi được khá xa về phía dưới, đến chỗ bắt đầu có cây. Lúc đầu chỉ gặp các bụi cây thưa, nhỏ, nhưng càng đi xa, cây cối càng trở nên rậm rạp và xanh tốt. Cuối cùng là một rừng cây thưa mà con đường xuyên qua. Cây ở đây có lá óng ánh bạc như những cây vẫn thấy ở dốc núi Bàn Ăn ở Keptao. Điều này làm tôi rất ngạc nhiên vì tôi đã đi nhiều nhưng chưa bao giờ thấy ở đâu có giống cây này, trừ ở Keptao.
- Ôi! - Huđơ kêu lên một cách sung sướng khi nhìn những tán lá lấp lánh. - Củi ở đây nhiều quá! Đề nghị dừng lại và chuẩn bị nấu ăn. Cái dạ dày của tôi đã từ chối không còn muốn tiêu hóa món thịt sống nữa rồi!
Không ai phản đối, và thế là chúng tôi rẽ sang lề đường, đi về hướng có con suối nhỏ đang róc rách bên cạnh, nhặt cành cây khô, và chỉ mấy phút sau đã nhóm được một đống lửa tuyệt diệu. Chọn cắt từ số thịt mang theo mấy miếng to ngon, và bắt chước những người Caphơ, xâu vào đầu que nhọn, chúng tôi đem nướng chín rồi ăn một cách rất ngon lành.
Ăn no, chúng tôi châm tẩu hút rồi khoan khoái nằm nghỉ, tận hưởng những giây phút thần tiên sau chừng ấy đau đớn và gian khổ. Bờ suối mà chúng tôi đang nằm nghỉ được phủ một lớp dương xỉ cao dày, đây đó nhô lên những túm lông trắng của những cây măng tây dại, mịn như chỉ thêu đăng ten.
Con suối chảy róc rách vui vẻ. Ngọn gió dịu dàng khẽ lay động những tán lá màu bạc. Xung quanh là tiếng hót của bầy chim cu, và những con chim có bộ lông sặc sỡ đậu trên cây, óng ánh như những viên đá quý. Đây quả đúng là thiên đường! Ý nghĩ rằng những nỗi bất hạnh và những mối nguy hiểm liên tiếp ập đến mà chúng tôi gặp dọc đường đi, đã lùi lại phía sau, và rằng chúng tôi đã đi đến miền đất hứa mong đợi, vì cuối cùng là cảnh thiên nhiên kì diệu đã làm chúng tôi ngây ngất, đến nỗi mọi người bỗng đứng im lặng trong chốc lát.
Henry và Ambov ngồi cạnh nhau đang trò chuyện bằng thứ tiếng Anh sai bét và bằng thứ tiếng Dulux cũng sai không kém. Tôi nằm trên tấm thảm dương xỉ thoảng hương thơm nheo mắt ngắm nhìn họ. Bỗng nhận thấy Huđơ biến đâu mất. Tôi đưa mắt nhìn quanh và thấy ông ta, người chỉ mặc chiếc áo sơ mi đang ngồi bên bờ suối, nơi ông ta đã kịp tắm. Thói quen ưa sạch sẽ ở ông thuyền trưởng mạnh đến nỗi đáng lẽ nằm nghỉ, ông ta đã say sưa chăm chút trang điểm cho mình.
Ông ta đã kịp giặt sạch chiếc cổ áo hồ cứng, cẩn thận giữ và phủi sạch chiếc áo khoác, áo Gile, chiếc quần dài đã bị rách, và buồn bã lắc đầu ngắm nhìn vô số các chỗ sờn rách trên đấy. Sau đó, cẩn thận xếp quần áo vào một chỗ, Huđơ lấy một túm dương xỉ lau sạch đôi giày cáu bẩn. Sau khi bôi lên giày một lớp mỡ mà ông ta đã cất giấu khi chúng tôi bắn chết con incô, Huđơ bắt đầu đánh bóng cho đến lúc đôi giầy trở nên tử tế trở lại. Tiếp đến, ngắm nhìn kĩ đôi giầy của mình qua chiếc kính một mắt, ông xỏ nó vào chân, và lại tiếp tục làm cái công việc trang điểm công phu ấy. Lôi ra từ chiếc túi nhỏ luôn đeo bên mình chiếc lược có gắn liền với một chiếc gương bé xíu, thuyền trưởng Huđơ chăm chú ngắm nghía khuôn mặt mình. Có lẽ ông ta cảm thấy không hài lòng và sau đó bắt đầu cẩn thận chải và vuốt vuốt mái tóc. Soi gương một lần nữa, hình như vẫn chưa thật hài lòng lắm, ông ta sờ vào chiếc cằm mọc đầy râu tua tủa vì đã mười ngày nay chưa cạo.
“Không, - Tôi nghĩ, - Không thể như thế được. Không lẽ ông ta định cạo râu chắc?”.
Nhưng tôi đã không nhầm. Huđơ cầm lấy mẩu mỡ mà ông ta vừa bôi giày, đem rửa sạch trong nước suối. Sau đấy ông ta lại lục tìm trong chiếc túi và lôi ra một chiếc dao cạo nhỏ mà người ta vẫn hay dùng khi đi biển. Lau kĩ hai má và cằm bằng mỡ, Huđơ bắt đầu cạo râu. Hình như việc ấy có làm ông ta đau, vì tôi thấy thỉnh thoảng ông ta lại xuýt xoa rên rỉ. Còn tôi thì vừa nhìn, vừa phải bò ra cười khi thấy ông ta vật lộn một cách vất vả với đám râu cứng mọc tua tủa ra các phía ấy.
Cuối cùng, Huđơ khi đã cạo nhẵn nửa má và cằm bên phải, tôi bỗng thấy một cái gì đó như tia chớp vụt bay qua đầu ông ta.
Huđơ văng một câu tục khủng khiếp rồi nhảy chồm dậy (tôi nghĩ rằng nếu lưỡi dao sắc, có lẽ ông ta đã cứa đứt cổ mình). Tôi cũng chồm dậy nhưng không văng tục, và nhìn thấy một tốp người đang đứng cách tôi hai mươi bước, và cách Huđơ mười bước. Họ là những người rất cao lớn, có nước da màu đồng hun. Một vài người trên đầu đeo vòng có cắm những chiếc lông chim màu đen, còn trên vai là chiếc áo choàng da báo. Đó là tất cả những gì tôi kịp nhìn thấy vào lúc ấy.
Đứng hẳn về phía trước là một chàng trai khoảng mười bảy tuổi, tay còn giơ cao, giống một bức tượng người ném đĩa cổ đại. Có lẽ anh ta là người đã ném con dao trông như tia chớp đã bay qua đầu ông thuyền trưởng.
Khi tôi quan sát họ, từ đám người thổ dân bước ra một ông già với dáng điệu uy nghi của một chiến binh, rồi cầm tay chàng trai, nói với anh ta một điều gì đó. Sau đấy, cả bọn tiến về phía chúng tôi. Henry, Huđơ và Ambov vội cầm súng giơ lên một cách đe dọa, nhưng những người thổ dân hoàn toàn không để ý tới điều ấy, và vẫn tiếp tục tiến lại gần. Tôi hiểu ngay rằng họ chưa hề biết súng đạn là gì, nếu không họ đã chẳng tỏ ra khinh thường như vậy.
- Hãy bỏ ngay súng xuống! - Tôi kêu to với những người bạn đường của tôi. Lập tức tôi hiểu rằng chúng tôi cần phải cho những người thổ dân biết chúng tôi tới đây với mục đích hòa bình, để bằng cách ấy chiếm được sự cảm tình của họ. Đó là cách duy nhất có thể bảo vệ được mạng sống của chúng tôi. Các bạn tôi liền bỏ súng xuống, tôi bước lên phía trước và quay về phía ông già vừa ngăn chàng trai lại.
- Chào các ông! - Tôi nói bằng tiếng Dulux, mặc dù không biết ông ta nghe hiểu loại tiếng nào.
Tôi rất ngạc nhiên khi thấy ông hiểu tôi.
- Chào các ông! Ông ta đáp, không phải bằng tiếng Dulux chính cống, mà bằng một thổ ngữ nào đó rất gần, đến nỗi tôi và Ambov hiểu ngay lời ông ta.
Sau này chúng tôi biết rằng họ nói bằng tiếng Dulux cổ. Sự khác nhau giữa tiếng Dulux cổ và hiện đại cũng giống như sự khác nhau giữa tiếng Anh thời Sôxơ(Nhà thơ Anh nổi tiếng (1340-1440), người sáng lập ra tiếng Anh văn học) và tiếng Anh thế kỷ thứ mười chín.
- Các ông từ đâu tới đây? - Người chiến binh già hỏi chúng tôi. - Các ông là ai? Và tại sao ba trong số các ông có khuôn mặt trắng, còn khuôn mặt người thứ tư lại giống chúng tôi? - Ông ta hỏi thêm. Tay chỉ về phía Ambov.
Tôi nhìn anh chàng Dulux của chúng tôi và chợt nghĩ ông già nói đúng. Nét mặt và khổ người to lớn của anh ta cũng giống người thổ dân. Nhưng lúc ấy tôi chẳng còn lòng dạ nào mà nghĩ tới điều đó.
- Chúng tôi là những người lạ, tới đây với mục đích hòa bình, - Tôi đáp, cố nói một cách chậm chạp để ông ta có thể hiểu. - Còn người này, - Tôi nói thêm, tay chỉ Ambov, - là người hầu của chúng tôi.
- Ông nói dối, - Ông già không tin. - Không một người nào vượt qua được dãy núi này, nơi không có một sinh vật nào sống nổi. Ông nói dối như thế cũng vô ích, vì người lạ không được phép đặt chân đến Đất nước của những người Cucuan. Tất cả các ông sẽ phải chết. Luật của vua là thế. Hỡi những người da trắng, hãy chuẩn bị để đón chờ cái chết!
Xin thú thực rằng những lời ấy đã làm tôi ít nhiều hoảng sợ, nhất là khi tôi thấy tất cả bọn họ đều đưa tay lên thắt lưng, nơi có treo một cái gì đó trông giống như con dao to nặng.
- Con khỉ già nói gì thế? - Huđơ hỏi tôi.
- Ông ta nói rằng họ sẽ giết chúng ta, - tôi cau có đáp.
- Ôi, lạy chúa! - Huđơ rên rỉ, và giống như mọi lần khi quá hồi hộp, ông ta đưa tay vào miệng rút bộ răng giả của mình ra.
Sau đó ông ta lại nhanh chóng lắp vào, chậc chậc lưỡi.
Rõ ràng đó là một việc làm rất thành công của Huđơ, vì trông thấy thế, những người Cucuan kiêu hãnh rú lên hoảng sợ, và lùi lại phía sau mấy mét.
- Gì thế nhỉ? Chuyện gì đã xẩy ra? - Tôi ngơ ngác hỏi Henry.
- Đó là hàm răng giả của Huđơ đã làm họ hoảng sợ - Henry hồi hộp khẽ bảo tôi. - Ông ta rút hàm răng ra, và thế là họ sợ. Quẳng nó đi Huđơ, quẳng nó đi, nhanh lên!
Ông thuyền trưởng vội vàng nghe theo và khéo léo giấu hai hàm răng giả của mình vào ống áo sơ mi.
Sau đó sự tò mò đã lấn át nỗi sợ, và những người thổ dân lại chậm chạp, rón rén tiến về phía chúng tôi. Hình như họ đã quên đi cái ý định tốt đẹp của họ là cắt đứt cuống họng của đám người lạ mặt.
- Hãy nói cho chúng tôi biết, hỡi những người da trắng, - Ông già kêu lên một cách long trọng, tay chỉ Huđơ đang mặc độc chiếc áo sơ mi, một nửa mặt cạo nhẵn thín. - Hãy nói cho chúng tôi biết vì sao con người to béo kia, vai khoác áo, đôi chân để truồng, tóc chỉ mọc một nửa trên khuôn mặt trắng, còn nửa kia thì không mọc, và ở một mắt của ông ta lại có thêm một mắt nữa, trong suốt và lấp lánh? Và vì sao răng của ông ta lại có thể chui ra khỏi miệng và tự quay lại chỗ cũ?
- Hãy mở miệng ra! - Tôi khẽ bảo Huđơ.
Ông thuyền trưởng liền mở miệng, mà mắt vẫn nhìn ông già, dẩu môi gầm gừ như một con chó giận dữ, rồi hé cho ông ta xem hai hàm lợi đỏ hồng không có một chiếc răng nào, giống hệt miệng một con voi con mới đẻ.
Đám thổ dân ồ lên một tiếng ngạc nhiên.
- Răng của ông ta trốn đi đâu? - Họ hoảng sợ kêu lên. - Chúng tôi vừa được tận mắt nhìn thấy chúng cơ mà!
Ném về phía đám người man rợ một cái nhìn đầy khinh bỉ, Huđơ quay mặt sang bên, cho tay vào miệng, rồi quay lại há to miệng, và ôi, thật kì diệu, những người thổ dân lại nhìn thấy hai hàm răng tuyệt đẹp của ông ta.
Lúc này chàng trai đã ném vào Huđơ liền sụp lạy xuống đất, rú lên một tiếng dài hoảng sợ. Còn ông già thì hai đầu gối run lên bần bật.
- Bây giờ thì tôi hiểu rằng các ông là những vị thần, - Ông ta ấp úng nói, - Bởi không một ai do người phụ nữ sinh ra có tóc chỉ mọc trên nửa mặt, và một con mắt tròn trong suốt và cả hai hàm răng biết tự tháo ra lắp vào như thế! Hãy tha thứ cho chúng tôi thưa các vị thần bất tử!
Không cần nói, các bạn cũng biết tôi sung sướng chừng nào khi nghe những lời ấy. Lập tức chớp lấy cơ hội thuận lợi này, tôi mỉm cười một cách độ lượng rồi kiêu hãnh tuyên bố:
- Chúng tôi sẵn sàng tha thứ cho các ông. Bây giờ các ông cần biết sự thật sau đây: Chúng tôi tới đây từ thế giới khác, từ ngôi sao to sáng nhất ban đêm vẫn chiếu trên bầu trời, mặc dù bề ngoài chúng tôi là người như các ông.
- Ôi! Ôi! - Những người thổ dân đồng thanh kêu lên vì kinh ngạc.
- Vâng, chúng tôi tới đây từ những vì sao, - Tôi nói tiếp với nụ cười phúc hậu; - chính tôi cũng lấy làm ngạc nhiên vì sự dối trá của mình. - Chúng tôi xuống trái đất để thăm các ông và ban hạnh phúc cho đất nước các ông bằng sự có mặt của mình. Các ông thấy đấy, để tới đây, tôi thậm chí còn học thuộc cả tiếng các ông...
- Vâng, quả đúng thế! Đúng thế! - Tất cả đám thổ dân đồng thanh đáp.
- Ôi! Thưa ông chủ của tôi, - ông già ngắt lời tôi. - Có điều ông học không được tốt lắm!
Tôi nhìn ông ta với vẻ giận dữ, đến mức ông ta phải hoảng sợ và lập tức im lặng.
- Còn bây giờ thì, thưa các bạn của tôi, - Tôi nói tiếp, - chắc các bạn đang nghĩ rằng sau một hành trình dài và vất vả như thế mà chúng tôi lại được các bạn đón tiếp chẳng ra gì, nên chúng tôi đang muốn trả thù và sẽ giết chết con người đã dám giơ tay ném dao vào vị thần có hàm răng biết di động...
- Xin hãy tha thứ cho hắn, thưa các ông chủ của tôi, - ông già nói chen vào bằng giọng cầu khẩn. - Hắn là con trai của đức vua chúng tôi. Còn tôi là chú hắn. Nếu có điều gì xẩy ra với hắn, thì máu của hắn sẽ đổ lên đầu tôi, vì tôi chịu trách nhiệm về hắn.
- Chú có thể tin chắc là như thế, - chàng trai khẽ nói, rõ ràng và giận dữ.
- Có thể các ông nghĩ chúng tôi không đủ khả năng trả thù chăng? - Tôi nói tiếp, không hề chú ý đến lời hắn nói. - Hãy chờ đấy, rồi các ông sẽ thấy. Ê, tên nô lệ và là con chó kia, - tôi nói với Ambov bằng giọng giận dữ nhất mà tôi có thể có. - Hãy đưa chiếc ống phù thủy biết nói lại đây cho ta! - Và tôi khéo léo nháy mắt, chỉ khẩu súng Express.
Ambov hiểu ngay ý tôi và đưa khẩu súng. Lần đầu tiên trong đời tôi thấy trên khuôn mặt kiêu hãnh của anh ta có một cái gì đấy trông như nụ cười.
- Đây, nó đây, thưa ông chủ của tất cả các ông chủ! - Anh ta cúi gập người xuống, cung kính nói.
Trước đấy tôi nhìn thấy một con sơn dương nhỏ đứng trên núi đá cách chúng tôi gần một trăm mét và tôi quyết định bắn nó.
- Các ông có thấy con vật kia không? - Tôi chỉ con sơn dương, nói với đám thổ dân. - Liệu con người do phụ nữ sinh ra có thể giết được nó chỉ bằng một tiếng động hay không?
- Không thể được, thưa ông chủ của tôi, - ông già đáp.
- Thế mà tôi làm được, - tôi nói giọng bình thản.
Ông già mỉm cười:
- Thậm chí cả ông, thưa ông chủ, cũng không thể làm được điều ấy.
Tôi nâng súng lên và bắt đầu ngắm. Con sơn dương này rất bé, nên dễ dàng bắn trượt ở một khoảng cách xa thế này, nhưng tôi biết rằng bằng bất cứ giá nào, tôi cũng phải bắn trúng. Con vật đứng yên hầu như không động đậy. Tôi nín thở bóp cò.
Bum!- súng nổ giòn, con sơn dương nhảy tung lên rồi ngã xuống chết ngay tại chỗ. Những người thổ dân rú lên kinh sợ.
- Nếu các ông muốn lấy thịt, - tôi lãnh đạm nói, - thì hãy mang nó đến đây!
Ông già ra hiệu, một người trong đám thổ dân chạy về phía sau núi và chẳng bao lâu sau quay lại với con vật đã bị giết chết. Tôi hài lòng nhận thấy viên đạn bắn trúng vào chỗ tôi ngắm, tức là cao hơn ngực một tí. Những người thổ dân đứng quan sát con vật tội nghiệp và chăm chú nhìn vào lỗ hổng do viên đạn xuyên qua với vẻ ngạc nhiên và lo sợ đầy mê tín.
- Các ông thấy chưa? - Tôi nói với họ, - tôi đã nói là làm được.
Không có ai trả lời.
- Nếu các ông còn nghi ngờ vào sức mạnh của chúng tôi, - tôi nói tiếp, - thì xin mời một người nào đó trong các ông đứng trên tảng đá, và tôi sẽ làm với anh ta như với con sơn dương này.
Nhưng không ai muốn thử điều ấy. Tiếp đến là mấy phút im lặng, rồi anh con trai của vua nói:
- Hay chú thử lên đứng trên tảng đá xem? Phép phù thủy chỉ giết được con vật chứ không phải con người.
Nhưng lời đề nghị của thằng cháu rõ ràng không được ông già thích lắm, thậm chí ông ta còn tỏ ra khó chịu.
- Không, không! - Ông ta vội kêu lên. - Đôi mắt già của tôi nhìn thấy thế là đủ. - Rồi quay sang đám tuỳ tùng, ông ta nói. - Những người này là quỷ thần, phải dẫn họ tới trình đức vua. Còn nếu ai trong số các anh muốn thử phép lạ của người lạ mặt, thì có thể đi lên đứng trên núi đá để chiếc ống thần có thể nói chuyện.
Nhưng cả lần này cũng không có ai muốn nghe ống thần nói chuyện.
- Không cần để phí vô ích sức mạnh thần thánh của những người từ các vì sao xuống đây đối với cơ thể đáng khinh của chúng tôi, - một người trong đám thổ dân nói. - Chúng tôi nhìn như thế là quá đủ. Tất cả những thầy phù thủy của chúng ta không thể cho xem một cái gì tương tự.
- Anh nói thế rất đúng, - ông già thở dài nhẹ nhõm, nói, - Quả là như thế thật. Hãy lắng nghe chúng tôi, hỡi những con người của các vì sao, những người có chiếc mắt lấp lánh và hàm răng biết tự tháo ra lắp vào, những người biết điều khiển sấm sét và làm chết con vật từ xa! Tôi là Inphadux, con trai của Capha, người đã từng làm vua của đất nước Cucuan. Còn chàng trai này là Xcraga.
- Cái thằng Xcraga này suýt nữa cho tôi sang thế giới bên kia, - Huđơ khẽ thì thầm (ƠŒ đây tác giả chơi chữ, không dịch được: Scrag tiếng Anh nghĩa là vặn cổ hay giết chết. Con trai của vua được gọi là Xcraga).
- Xcraga, - Inphadux trịnh trọng nói tiếp, - là con trai của Tuala. Vua Tuala vĩ đại là chồng của một nghìn bà vợ, là ông chủ và là người cầm đầu của dân tộc Cucuan, là người bảo vệ Con đường vĩ đại, là mối lo sợ của kẻ thù, là người thông minh biết hết mọi bí mật của trời đất và phép lạ, là thủ lĩnh của một trăm nghìn chiến binh, Tuala chột mắt, Tuala Đen, Tuala đáng sợ!
- Nếu thế thì hãy dẫn chúng tôi tới gặp Tuala. - Tôi nói, giọng kiêu hãnh. - Chúng tôi không muốn nói chuyện với những người dưới quyền và người hầu của ông ta.
- Đề nghị của ông sẽ được thực hiện, thưa các ông chủ, chúng tôi sẽ dẫn ông tới gặp vua, nhưng đường tới đó rất xa. Chúng tôi đến đây để đi săn và đang ở cách xa vua ba ngày đường. Xin các ông hãy chờ đợi, ba ngày nữa các ông sẽ thấy đức vua Tuala vĩ đại.
- Được, - Tôi nói vẻ dễ dãi. Chúng tôi chẳng cần vội, bởi vì chúng tôi là các thần bất tử. Chúng tôi đã sẵn sàng. Hãy dẫn chúng tôi đi. Nhưng hãy nghe đây, Inphadux và cả anh nữa, Xcraga! Đừng có giở trò lừa dối chúng tôi! đừng hòng đưa chúng tôi vào cạm bẫy! Trước khi bộ óc bẩn thỉu của các người kịp nghĩ làm những việc gì đấy không tốt, chúng tôi đã biết hết và sẽ trả thù, bởi vì chúng tôi có phép thần biết đọc ý nghĩ của người khác. Ánh sáng tỏa ra từ con mắt trong suốt của vị thần có đôi chân trần truồng và khuôn mặt tóc chỉ mọc một nửa kia, sẽ giết chết các ngươi ngay tại chỗ, và sẽ mang tai họa cho đất nước các ngươi. Hai hàm răng biết tự tháo ra và lắp vào của thần sẽ cắm ngập vào cơ thể của các ngươi và không chỉ nghiền nát các ngươi, mà cả vợ con các ngươi, và những chiếc ống phù thủy sẽ xuyên thủng qua cơ thể của các ngươi thành những lổ hổng lớn.
Bài nói hùng hồn này của tôi đã gây được một ấn tượng thật mạnh, mặc dù chưa hẳn đã cần phải làm thế, vì những người bạn mới của chúng tôi không cần dọa cũng đã hết sức sợ hãi trước những phép lạ mà chúng tôi vừa cho họ biết.
Người chiến binh già sụp lậy trước chúng tôi và nói: “Kuum, Kuum!”. Sau này tôi hiểu rằng hai tiếng ấy là lời chào mà theo phong tục Dulux, chỉ được nói với nhà vua hoặc họ hàng nhà vua. Sau đó, ông ta nói điều gì đấy với đám người thổ dân. Những người này lập tức giành lấy tất cả mọi đồ vật của chúng tôi, trừ những khẩu súng mà họ không dám động tới, thậm chí họ còn cầm cả quần áo của Huđơ, mà nếu bạn đọc còn nhớ, trước đấy đã được gấp xếp cẩn thận bên bờ suối. Thấy thế, ông thuyền trưởng muốn giành lại, và thế là một cuộc giằng co gay gắt đã xẩy ra giữa những người thổ dân và Huđơ.
- Xin ông chủ của chúng tôi và là vị thần có con mắt trong suốt không phải bận tâm đến đồ vật của mình. Những người nô lệ của người sẽ mang chúng hộ.
- Nhưng tôi muốn mặc quần của tôi! - Huđơ nửa kêu, nửa khóc bằng tiếng Anh. Ambov dịch lời của ông ta.
- Thưa ông chủ của tôi! - Inphadux nói. - Không lẽ ông muốn giấu đôi chân trắng tuyệt vời của mình không cho những người nô lệ hèn hạ nhìn thấy! (Huđơ tóc đen, nhưng da của ông ta trắng một cách lạ lùng). Chúng tôi đã làm gì để ông ta nổi giận? Thưa ông chủ, ông mặc quần để làm gì?
Nhìn Huđơ, tôi những muốn phá lên cười to. Trong lúc ấy, một người trong đám thổ dân đã kịp giành lấy chiếc quần và bỏ chạy.
- Quỷ tha ma bắt hắn đi! - Huđơ gào lên.- Thằng mọi đen lếu láo kia đã đánh cắp quần của tôi!
- Này ông Huđơ, Henry nói, ông xuất hiện ở đất nước này với một vai trò nhất định, và ông phải đóng màn kịch này đến cùng. Chừng nào còn ở đây, ông sẽ chẳng được mặc quần nữa. Từ nay ông chỉ được diện bằng cái áo sơ mi, đôi giày và chiếc kính một mắt.
- Vâng, tôi nói thêm, và bằng nửa bộ râu. Nếu ông xuất hiện trước những người Cucuan với dạng khác, họ sẽ cho chúng ta là những người nói dối. Tôi rất tiếc rằng ông buộc phải ăn mặc thế này, những điều tôi nói là hoàn toàn nghiêm túc, ông Huđơ ạ. Ông không còn lối thoát nào khác. Nếu để họ nghi ngờ dù chỉ chút ít, tính mạng của chúng ta sẽ chẳng còn đáng giá một đồng xu nhỏ.
- Ông nghĩ thế thật à? - Huđơ giận dữ hỏi.
- Vâng, tất nhiên! “Đôi chân trắng tuyệt vời” và chiếc kính một mắt của ông đã cứu sống chúng ta. Ông Henry hoàn toàn đúng khi nói ông cần sắm vai của mình đến cùng. Ông phải tạ ơn chúa, rằng ông đã kịp đi giày, và ở đây trời ấm.
Huđơ thở dài ngao ngán và không nói gì thêm. Chỉ hai tuần sau ông ta mới quen được cái kiểu ăn mặc lạ lùng ấy.
lặng.
thiensu96 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn  
Trả Lời Với Trích Dẫn
Unread 13-05-2012, 08:02 AM   #8
Default

Chương 7
ĐI VÀO ĐẤT NƯỚC CỦA NHỮNG NGƯỜI CUCUAN
Suốt cả ngày hôm ấy chúng tôi đi theo con đường kì diệu thẳng về hướng tây bắc. Inphadux và Xcraga cùng đi với chúng tôi, còn đám tùy tùng của họ thì đi phía trước cách khoảng một trăm bước.
- Này Inphadux, - tôi nói với ông già sau một lúc im lặng. - Ông có biết ai đã làm nên con đường này không?
- Thưa ông chủ, nó đã có từ thời xa xưa. Không ai biết nó đã được xây dựng vào lúc nào và bao giờ. Cả Gagula, người đàn bà thông thái nhất, người đã sống qua rất nhiều thế hệ, cũng không biết được điều ấy. Thế thì hỏi chúng tôi biết làm sao được? Bây giờ không ai còn có thể làm được những con đường thế này, vì vậy mà đức vua bảo vệ nó để nó khỏi bị cỏ mọc che lấp.
- Thế ai đã khắc những hình như trên vách núi đá mà chúng tôi đã đi qua? - tôi hỏi, ý nói về những bức phù điêu giống như của người Ai Cập chúng tôi đã gặp trước.
- Chính những bàn tay xây dựng con đường này đã vẽ lên những hình thù kì diệu đó, thưa ông chủ. Nhưng chúng tôi không biết là ai.
- Thế người Cucuan đi đến đất nước này từ bao giờ?
- Thưa ông chủ, người Cucuan chúng tôi tới đây như hơi thở của cơn bão từ nơi cách xa đây mười con trăng, từ những vùng đất vĩ đại trên kia, - và ông ta chỉ lên phía bắc. - Như tổ tiên của chúng tôi, những người đã tới đây từ lâu, và Gagula, người đàn bà thông minh, người săn phù thủy đã nói: người Cucuan chúng tôi không thể đi tiếp được nữa vì gặp những dãy núi vĩ đại này chắn đường, - ông ta đưa tay chỉ những đỉnh núi phủ tuyết - Đất nước này rất tuyệt diệu, vì vậy tổ tiên chúng tôi đã ở lại đây, trở thành những người hùng mạnh, bây giờ đông như cát giữa sa mạc. Khi Tuala, vua của chúng tôi, tập hợp các chiến binh của mình lại, thì những chiếc lông chim cắm trên đầu của binh sĩ ngài che kín hết cả một vùng rộng mênh mông mà mắt người có thể bao quát.
Nhưng một khi đất nước được các dãy núi bao bọc xung quanh thì quân đội còn đánh nhau với ai?
- Không, thưa ông chủ, vẫn còn cửa thông ra ngoài, - và ông ta lại chỉ về phía bắc. - Thỉnh thoảng quân của một đất nước xa lạ nào đó lại ào xuống rất đông, và chúng tôi giết chết họ. Kể từ lần đánh nhau cuối cùng đến nay đã được một phần ba đời người. Hàng vạn người bỏ mạng trong cuộc chiến tranh ấy, nhưng chúng tôi đã giết chết những người tới đây để xâm chiếm đất nước Cucuan. Từ đấy chưa có một cuộc chiến tranh nào thêm.
- Thế thì quân đội của các ông chắc phải buồn lắm?
- Không, thưa ông chủ của tôi, ngay khi đánh thắng những người tấn công chúng tôi, ở đây lại xẩy ra đánh nhau. Nhưng nó là một cuộc nội chiến. Người ta lao vào nhau chém giết như những con chó điên.
- Tại sao vậy?
-Tôi sẽ kể cho ông nghe, thưa ông chủ. Đức vua của chúng tôi hiện nay là anh em cùng cha khác mẹ với tôi. Ngài có một người anh em cùng sinh một ngày, và cùng bởi một người đàn bà. Theo luật lệ của chúng tôi thì không được để cả hai anh em cùng sống - đứa yếu hơn sẽ phải chết. Nhưng mẹ vua đã giấu đứa con yếu hơn và sinh sau của mình, vì bà yêu quý nó. Đứa con ấy chính là Tuala, vua của chúng tôi. Tôi là em trai của ngài, nhưng sinh bởi một người đàn bà khác.
- Rồi sau thì sao?
- Capha, đức vua cha của chúng tôi, chết khi chúng tôi đến tuổi trưởng thành, và Imôtu, anh trai của tôi, được đưa lên làm vua thay cha. Ngài trị vì đất nước một thời gian và sinh được một người con trai với người vợ mà ngài yêu quý. Khi đứa bé tròn ba tuổi - là lúc vừa kết thúc cuộc chiến tranh vĩ đại, trong thời gian chiến tranh không ai có thể cày cấy được - một trận đói kinh khủng đã đổ xuống đầu đất nước chúng tôi. Nạn đói đã làm người Cucuan kêu ca và giận dữ như con sư tử khi đói bụng đang đi tìm mồi. Lúc ấy, Gagula, người đàn bà hiểu biết mọi điều và làm ai cũng phải run sợ, người đàn bà không bao giờ chết, đã nói với chúng tôi như sau: “Imôtu là vua không hợp pháp”. Lúc này Imôtu đang phải nằm yên trên giường vì bị thương trong trận đánh trước đấy. Sau đó, Gagula vào một trong những ngôi nhà và dẫn ra Tuala, người anh cùng cha khác mẹ của tôi, và là người em sinh đôi của Imôtu. Ngay từ khi mới sinh. Tuala đã được Gagula giấu kín trong khe núi, và bây giờ bà ta chỉ cho mọi người xem hình con rắn thiêng đang quấn quanh người ngài. Đó là cách người ta đánh dấu đứa con của nhà vua khi sinh. Gagula kêu to: “Hãy nhìn đây, đây mới chính là vua của các ngươi!. Bị cái đói dày vò và hoàn toàn mất hết lí trí, không phân biệt được đâu là thật, đâu là giả, mọi người cùng đồng thanh đáp lại: ”Vua! Vua!". Nhưng tôi thì tôi biết rằng không phải như thế, vì Imôtu mới là con cả, nghĩa là vua hợp pháp. Khi tiếng kêu và tiếng ồn lên đến đỉnh cao nhất, thì vua Imôtu, mặc dù đang rất yếu đã bước ra, tay dắt theo vợ mình. Theo sau họ là đứa con trai còn nhỏ tuổi Icnôzi (có nghĩa là tia chớp). “Có chuyện gì mà ồn thế? - Imôtu hỏi. - Sao các ngươi kêu” “Vua, Vua!”? Khi ấy, Tuala, người em trai của vua, cùng sinh bởi một người đàn bà và cùng một lúc, đã chạy đến, túm tóc vua rồi đâm một nhát dao găm vào tim ngài. Con người thường hay thay đổi và bao giờ cũng sẵn sàng cúi chào mặt trời mới mọc, vì vậy lúc ấy mọi người đã vỗ tay và kêu to: “Tuala là vua của chúng ta! Bây giờ chúng ta biết Tuala mới là vua!”.
- Thế còn vợ của Imôtu và Icnôzi, con trai họ thì sao? Không lẽ cũng bị Tuala giết chết?
- Không, thưa ông chủ của tôi, khi thấy vua bị giết, bà ta đã kêu rú lên rồi ôm con bỏ chạy. Hai ngày sau cái đói đã đưa bà ta đến một ngôi nhà nào đấy, nhưng bây giờ không còn ai muốn cho bà sữa hoặc một thứ thức ăn nào khác, vì nói chung con người thường ghét những người bất hạnh. Tuy nhiên, đêm đến, có một cô bé nào đó đã mang cho một ít thức ăn. Ăn xong bà ta cảm ơn đứa bé rồi dắt con đi về hướng núi cho đến khi mặt trời mọc. Có lẽ bà ta đã chết ở đấy. Từ bấy đến nay không ai còn nhìn thấy bà ta, cũng như Icnôzi, con trai bà.
- Nghĩa là nếu cậu bé Icnôzi ấy còn sống, thì cậu ta sẽ là vua hợp pháp của các ông?
- Vâng, đúng thế, thưa ông chủ. Quanh người của cậu ấy có vẽ hình con rắn thiêng. Nếu còn sống, cậu ấy sẽ là vua. Nhưng than ôi, cậu ấy đã chết từ lâu. Hãy nhìn kia, thưa ông chủ. - Và ông già chỉ tay xuống dưới, về phía cánh đồng, nơi có một nhóm những ngôi nhà đơn sơ được bọc quanh bằng một bờ dậu cao, phía ngoài còn đào một đường hào sâu bao bọc. - Đó là khu làng nơi người ta nhìn thấy hai mẹ con Icnôzi lần cuối cùng. Hôm nay, chúng ta sẽ ngủ qua đêm ở đấy, nếu các ông chủ của tôi... - Ông ta nói thêm với vẻ ít nhiều ngờ vực, - cũng nằm ngủ trên trái đất này.
- Khi đã đến với những người Cucuan, ông bạn Inphadux của tôi ạ, chúng tôi sẽ cư xử như những người Cucuan, - tôi nói một cách long trọng rồi quay lại định bảo một điều gì đó với Huđơ, người đang cau có đi theo tôi và phải luôn cố gắng một cách vô ích để giữ chiếc áo sơ mi khỏi bị làn gió buổi
Quay lại, tôi ngạc nhiên vì suýt va phải Ambov. Anh ta đi kề sát tôi và hình như rất chăm chú lắng nghe câu chuyện giữa tôi và Inphadux, khuôn mặt của Ambov tỏ vẻ hết sức quan tâm. Trông anh ta giống một người đang cố gắng đến cao độ để nhớ, và chỉ nhớ một phần những gì đã bị lãng quên từ lâu.
Trong suốt cả quãng thời gian ấy, chúng tôi đi rất nhanh theo một vùng đồi tương đối bằng phẳng đang xuôi về phía dưới. Những ngọn núi khổng lồ mà chúng tôi đã vượt qua bây giờ đang treo cao, mờ mờ trên đầu chúng tôi; những cuộn sương mù như biết giữ ý đã bay đến che kín cặp Vú của Nữ hoàng Xava. Càng đi về phía trước, chúng tôi thấy phong cảnh càng đẹp hơn. Cây cỏ xanh tươi một cách đáng ngạc nhiên, nhưng hoàn toàn không phải là cây cỏ nhiệt đới. Mặt trời chiếu ấm áp nhưng không gay gắt. Đất nước này quả đúng là một thiên đường trên trái đất, và trong chúng tôi chưa ai từng được thấy một nơi nào có thể sánh cùng nó về vẻ đẹp, sự giàu có tự nhiên và khí hậu. Tơranxvaan là một xứ sở tuyệt vời, nhưng cũng không thể đem so với Đất nước Cucuan này được.
Khi chúng tôi vừa lên đường, Inphadux đã cho một người chạy về báo trước để dân làng chuẩn bị đón tiếp chúng tôi. Cần phải nói thêm rằng, làng này cùng nằm dưới quyền cai quản quân sự của ông ta. Người đưa tin chạy nhanh một cách khó tin nổi. Theo Inphadux nói thì anh ta có thể chạy với tốc độ ấy suốt dọc đường, vì tất cả những người Cucuan đều thường xuyên luyện tập chạy.
Chẳng bao lâu chúng tôi đã được tận mắt khẳng định rằng người đưa tin đã hoàn thành một cách xuất sắc nhiệm vụ được giao. Còn ở cách làng gần hai dặm, chúng tôi đã nhìn thấy các chiến binh đứng thành từng toán nối đuôi nhau đi về phía chúng tôi.
Henry để tay lên vai tôi và nói đó hình như là dấu hiệu báo trước rằng chúng tôi sắp được “đón tiếp nồng nhiệt”. Có cái gì đó trong giọng nói của ông đã làm Inphadux chú ý.
- Xin các ông chủ của tôi đừng thấy thế mà lo lắng, - ông ta vội nói, - vì trong trái tim tôi không hề có một sự phản bội nào. Những chiến binh này thuộc quyền tôi chỉ huy và theo lệnh tôi; họ đang đi đến đây để chào đón các ông.
Tôi bình thản gật đầu, mặc dù trong lòng không thật yên tâm lắm.
Cách cổng làng khoảng nửa dặm bắt đầu có một sườn đồi thoai thoải kéo dài theo dọc đường. Các toán chiến binh đã sắp hàng đứng trên sườn đồi đó. Đúng là một cảnh tượng hùng vĩ. Các toán quân (mỗi toán gần ba trăm người) nhanh chóng chạy lên sườn đồi và đứng nghiêm như tượng ở nơi đã được quy định. Các ngọn giáo của họ long lanh dưới ánh mặt trời; gió thổi làm rung rung các lông chim trang điểm trên đầu họ. Lúc ấy, khi chúng tôi đi đến sườn đồi, cả mười hai toán quân như thế, tức là ba nghìn sáu trăm chiến binh liền leo lên đứng ở chỗ của mình dọc hai bên đường.
Khi lại gần một toán, chúng tôi ngạc nhiên thấy tất cả các chiến binh đều là những người to cao, khỏe mạnh. Trước đấy, chúng tôi chưa hề gặp những người to cao tương tự, nhất là với một khối lượng lớn như thế. Tất cả họ đều khoảng bốn mươi tuổi, không một người nào thấp dưới một mét tám, và nhiều người còn cao hơn thế đến tám hoặc mười xăngtimét. Đầu của họ được trang điểm bằng những lông chim Xacubola cao, dày, màu đen. Cả những người đang đi cùng chúng tôi cũng thế. Tất cả các chiến binh đều quấn đuôi trâu trắng quanh hông, quanh chân phải mỗi người ở phía dưới đầu gối cũng có quấn những vòng đuôi trâu như thế. Tay trái mỗi người giữ một chiếc khiên rộng gần nửa mét.
Những cái khiên này rất đáng chú ý. Chúng là những tấm kim loại dát mỏng được phủ bằng da trâu màu sữa. Khí giới của các chiến binh đơn giản nhưng trông rất đáng sợ, gồm một chiếc giáo cán gỗ, mũi bằng sắt rất nặng, ngắn, có lưỡi sắc cả hai bên, chỗ rộng nhất đến mười lăm xăngtimét. Các cây giáo này không dùng để ném, mà sử dụng như dao hoặc dao găm trong khi đánh giáp lá cà. Những vết thương do giáo đâm thường rất kinh khủng. Ngoài ra mỗi chiến binh còn được vũ trang ba chiếc dao găm to và nặng, mỗi chiếc gần một kilôgam. Một chiếc giắt vào thắt lưng đuôi trâu, còn hai chiếc kia giấu trong mặt sau của khiên, loại dao này được người Cucuan gọi là tôlơ, thay cho loại dao ném của người Dulux. Các chiến binh Cucuan có thể ném trúng rất chính xác ở khoảng cách gần ba mươi mét, và trước khi lao vào đánh giáp lá cà, họ thường ném về phía kẻ thù hàng trăm nghìn những con dao như thế.
Các toán quân đứng lặng như những pho tượng bằng đồng nhưng khi chúng tôi đi đến gần, thì theo hiệu lệnh của người chỉ huy - dễ nhận ra vì khoác chiếc da báo - cả toán bước lên phía trước mấy bước, giơ cao giáo lên trời và từ ba trăm chiếc miệng bỗng bay ra tiếng chào chỉ được dùng cho nhà vua: “Kuum!”. Khi chúng tôi đi qua, cả toán quân liền đứng xếp hàng phía sau và hộ tống chúng tôi đi về phía làng. Cứ thế dần dần cả đội quân “Xain” (có tên gọi như thế vì họ mang khiên màu xám), đội quân tinh nhuệ nhất của toàn quân đội Cucuan, nối đuôi nhau bước theo chúng tôi theo nhịp chân bước đều, làm rung chuyển cả mặt đất.
Cuối cùng, tách khỏi con đường vĩ đại của vua Xolomon một chút, chúng tôi gặp một đường hào sâu bao bọc quanh khu làng có chu vi gần một dặm. Trong đường hào một bờ rào kiên cố được đóng bằng những khúc gỗ to và chắc. ƠŒ cổng làng có một chiếc cầu thô sơ nâng lên hạ xuống được bắc qua hào. Đến nơi, chiếc cầu đã được lính quy hoạch một cách tuyệt diệu. Một con đường rộng chạy qua trung tâm làng, cắt vuông góc với những con đường khác nhỏ hơn, và bằng cách ấy chia làng ra làm nhiều khu, mỗi khu có một số nóc nhà nhất định, và cũng là chỗ ở của một toán quân.
Các ngôi nhà có mái hình cầu, và như nhà của những người Dulux, được dựng bằng những cành cây đẽo nhẵn quấn cỏ xung quanh rất đẹp, nhưng khác ở chỗ có cửa ra vào đủ cao, đi không cần cúi. Ngoài ra, chúng còn rộng hơn nhiều và có bờ hiên bao quanh rộng gần hai mét, được đổ bằng vôi độn rơm màu đỏ. Dọc hai bên đường chạy qua làng có hàng trăm phụ nữ đang đứng. Họ đến đây cốt để nhìn chúng tôi. Đối với người bản xứ thì họ quả là rất xinh đẹp. Người họ cao, cân đối và đầy đặn. Tóc để ngắn, uốn cong, nhưng không giống các sợi len. Nhiều người có nét mặt thanh tú và môi không dày như phần lớn các dân tộc khác ở châu Phi. Nhưng điều làm chúng tôi ngạc nhiên hơn cả là vẻ ngoài bình tĩnh và đầy tự trọng của họ.
Theo cách riêng của mình, họ là những người có giáo dục tốt, không kém đám khách thường xuyên của các phòng trà quý tộc châu Âu, và điều này đã nâng họ lên cao hơn hẳn phụ nữ Dulux hay phụ nữ bộ lạc Madai sống ở vùng đất phía Nam Danziba. Mặc dù họ đến đây vì tò mò chỉ để xem chúng tôi, nhưng không ai có một lời nào thô lỗ tỏ vẻ ngạc nhiên, không một nhận xét bất nhã nào khi chúng tôi mỏi mệt lê chân đi qua trước mặt họ. Thậm chí cả khi ông già Inphadux kín đáo đưa tay chỉ cho họ xem điều kì diệu nhất trong tất cả những điều kì diệu là “đôi chân trắng tuyệt vời” của ông thuyền trưởng tội nghiệp, họ cũng không cho phép mình bộc lộ thành tiếng sự ngưỡng mộ tột độ của họ đối với cảnh tượng có một không hai này. Chỉ đơn giản là họ không thể không dán đôi mắt đen của mình lên cặp giò trắng lốp xinh đẹp của người khách lạ. Nhưng đối với Huđơ, một người bản chất khiêm tốn, thì như thế cũng quá đủ.
Khi chúng tôi đến chính giữa làng thì Inphadux dừng lại bên cửa ra vào một ngôi nhà lớn có các ngôi nhà nhỏ khác bao bọc xung quanh ở một quãng xa nhất định.
- Hỡi những người con của các vì sao, xin mời vào - ông ta nói một cách long trọng. - Mời các ông chủ hạ cố nghỉ ngơi trong căn nhà tồi tàn của chúng tôi. Người ta sẽ mang đến đây một ít thức ăn để các ông chủ khỏi phải thít chặt dây thắt lưng vì đói, một ít mật ong và sữa, một hoặc hai con bò đực và dăm con cừu. Chừng ấy tất nhiên là rất ít, thưa các ông chủ của tôi, nhưng dù sao vẫn là thức ăn.
- Rất tốt! - Tôi đáp. - Inphadux, chúng tôi bay từ các vì sao tới đây đang rất mệt. Bây giờ hãy để chúng tôi nghỉ ngơi.
Chúng tôi bước vào nhà, trong nhà mọi thứ đã được chuẩn bị một cách chu đáo - hai chiếc giường to được trải bằng các tấm da thú, và nước để rửa ráy.
Bỗng bên ngoài có tiếng ồn vọng vào. Chúng tôi ra cửa xem và thấy một đoàn dài các cô gái mang sữa bánh ngô và một bình mật đến. Phía sau là mấy chàng trai đang dắt một con bò đực còn non, béo núng nính. Chúng tôi nhận thức ăn, sau đó một trong số các chàng trai rút dao và khéo léo chọc tiết con bò. Chưa đầy mười phút sau, họ đã lột xong da bò và bắt đầu chặt thịt ra từng khúc. Chỗ nào ngon được cắt dành riêng cho chúng tôi, phần còn lại, tôi thay mặt mọi người tuyên bố tặng cho các chiến binh đang đứng xung quanh. Họ nhận thịt rồi vui vẻ chia nhau “quà của những người da trắng”.
Ambov và một cô gái có vẻ ngoài rất dễ coi bắt tay vào việc. Họ nấu thịt trong một cái nồi đất lớn bắc trên đống lửa nhóm ngay trước nhà. Khi thịt gần chín chúng tôi cho người đi tìm Inphadux để mời ông ta và Xcraga, con trai của vua, đến cùng dự bữa tiệc nhỏ với chúng tôi.
Chỉ một lát sau họ tới, ngồi xuống hai chiếc ghế thấp (trong nhà có mấy chiếc như thế. Khác với người Dulux, người Cucuan không ngồi xổm) và tiếp chúng tôi ăn. Inphadux tỏ ra rất lịch sự và nhiệt tình, nhưng chúng tôi ngạc nhiên vì thấy Xcraga luôn nhìn chúng tôi với vẻ nghi ngờ rõ rệt. Như tất cả những người khác, hắn thật sự hoảng sợ trước màu da và các tài năng phi thường của chúng tôi. Nhưng tôi nghĩ khi thấy chúng tôi cùng ăn, uống và ngủ như những trần tục, thì trong hắn sự hoảng sợ đã bắt đầu nhường chỗ cho sự nghi ngờ khó chịu, điều đã làm chúng tôi phải cảnh giác.
Trong khi ăn, Henry nêu lên ý kiến về việc hỏi chủ nhà về số phận em trai của ông, xem họ có bao giờ thấy hay nghe gì về ông ta hay không. Tôi đáp có lẽ bây giờ không nên đả động đến vấn đề ấy.
Ăn xong, chúng tôi cho thuốc vào tẩu và bắt đầu hút. Điều này lại làm cho Inphadux và Xcraga rất ngạc nhiên. Có lẽ người Cucuan còn chưa biết đến hương vị thần kì của khói thuốc. Ơ đây cây thuốc lá mọc đầy, nhưng cũng như người Dulux, họ chỉ hút và hoàn toàn không biết sử dụng nó dưới dạng đốt thành khói để hút.
Tôi hỏi Inphadux bao giờ sẽ lên đường đi tiếp, và rất sung sướng khi nghe nói rằng đang chuẩn bị để sáng mai xuất phát, và rằng đã cử người về báo với vua. Chúng tôi được biết vua Tuala đóng đô ở Luu và đang chuẩn bị để đón ngày lễ lớn hàng năm sắp tổ chức vào tuần đầu tiên của tháng sáu. Vào ngày lễ này thường có duyệt binh long trọng tất cả quân đội của đất nước, trừ những đơn vị đóng ở biên giới. Ngoài ra, còn tổ chức một cuộc săn bắt phù thủy rất lớn mà ở phần sau tôi sẽ nói đến.
Chúng tôi phải lên đường lúc rạng sáng, Inphadux người sẽ đi theo hộ tống chúng tôi, cho rằng nếu ngẫu nhiên không bị nước sông dâng cao cản trở, chúng tôi sẽ đến Luu vào đêm ngày hôm sau.
Báo cho chúng tôi biết tất cả những điều ấy xong các ông khách chúc chúng tôi ngủ ngon rồi ra về. Chúng tôi quyết định thay nhau canh phòng, rồi ba người lăn ra giường ngủ một giấc say sưa, còn người thứ tư thì thức để nếu có sự phản trắc nào cũng không bị bất ngờ...
lặng.
thiensu96 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn  
Trả Lời Với Trích Dẫn
Unread 13-05-2012, 08:03 AM   #9
Default

Chương 8
VUA TUALA

Tôi nghĩ không cần phải kể tỉ mỉ về chuyến đi của chúng tôi tới Luu. Chỉ cần nói rằng chúng tôi đi suốt hai ngày liên tục theo con đường rộng và bằng phẳng của vua Xolomon, chạy dài vào nội địa đất nước Cucuan.. Càng đi, chúng tôi thấy đất càng màu mỡ hơn và càng thêm nhiều khu làng bao quanh bởi nhiều cánh đồng. Tất cả các làng được quy hoạch giống như cái làng chúng tôi đã nghỉ lại trước đấy, và đều được các toán quân lớn bảo vệ. Ơ đất nước Cucuan, cũng như ở đất nước của người Đulux và Madai, tất cả những người khỏe mạnh đều là chiến binh, vì vậy, tham gia chiến tranh, cả chiến tranh tự vệ lẫn xâm lược, thực chất là tất cả dân chúng. Dọc đường đi, hàng nghìn chiến binh đã vượt lên đi trước chúng tôi. Họ phải nhanh chóng đến Luu để kịp tham gia cuộc diễu binh long trọng tổ chức hằng năm. Trong đời tôi chưa bao giờ được thấy những đội quân hùng dũng như thế.
Ngày thứ hai, chúng tôi nghỉ đêm ở đỉnh một ngọn đồi nhỏ nằm chắn ngang đường đi. Từ ngọn đồi này chúng tôi nhìn rõ một khu đồng bằng rộng lớn, xinh đẹp và màu mỡ, là nơi thành phố Luu được xây dựng. Đối với một diện tích rất rộng: tôi nghĩ chu vi phải đến năm dặm, nếu kể cả những làng ngoại ô. Các toán quân từ những miền xa xôi khắp nước kéo về để tham dự diễu binh sẽ đóng ở các làng này. Cách Luu hai dặm về phía bắc có một ngọn đồi trông như hình móng ngựa, mà sau này chúng tôi có dịp biết rất kỹ.
Thành phố được xây dựng ở một chỗ tuyệt đẹp. Một con sông lớn có mấy chiếc cầu bắc ngang (đó chính là con sông chúng tôi đã nhìn thấy từ đỉnh của núi Vú nữ hoàng Xava) chảy qua khu vực vua ở và chia nó làm hai cửa. ƠŒ phía xa, cách khoảng sáu mươi hay bảy mươi dặm có ba ngọn núi nổi lên tạo thành một hình tam giác giữa một vùng đất hoàn toàn bằng phẳng. Trên những đỉnh núi dựng đứng, chưa hề in dấu chân người ấy là tuyết phủ trắng quanh năm, và về hình dáng, chúng khác xa núi Vú nữ hoàng Xava, là núi có triền dốc thoai thoải và tương đối bằng phẳng.
Thấy chúng tôi chăm chú nhìn chúng, Inphadux nói:
- Con đường vĩ đại kết thúc ở đấy, dưới chân những ngọn núi ấy, mà chúng tôi gọi là núi “Ba phù thủy”.
- Tại sao lại ở đấy mà không phải nơi khác? - Tôi hỏi.
- Ai mà biết được? - Ông già nhún vai đáp. - Ơ những ngọn núi ấy có nhiều hang núi,- ông ta nói tiếp, - và có một giếng sâu. Chính những người thông minh ngày xửa ngày xưa đã tới đấy để tìm cái đã dẫn họ đến đất nước này. Và cũng ở đấy, ở Lâu đài Thần chết chúng tôi chôn cất các đức vua của mình.
- Thế những người thông minh kia đến đấy làm gì? - Tôi sốt ruột hỏi ông ta.
- Điều ấy thì tôi không biết. Thưa các ông chủ của tôi, các ông, những người từ trên trời xuống đây, các ông phải biết mới đúng, - Inphadux đáp, sau khi đưa mắt nhanh chóng nhìn chúng tôi.
Hình như ông ta không muốn nói hết tất cả những gì đang biết.
- Ông nói đúng, - tôi đáp. - Chúng tôi là con nhà trời, biết nhiều điều mà các ông không thể biết. Thí dụ: tôi có nghe nói những người thông minh của thời xa xưa ấy đã tới những ngọn núi này để tìm những viên cuội lấp lánh xinh đẹp và thứ sắt màu vàng.
- Ông chủ của tôi hiểu biết hết vạn vật, - ông ta đáp một cách lạnh nhạt. - So với ông, tôi chỉ là một đứa bé ngu dại, vì vậy tôi không được phép trò chuyện với ông về những việc như thế. Ông chủ của tôi cần phải nói chuyện với bà Gagula khi đến chỗ vua ở, vì bà ta cũng thông minh như ông chủ.
Nói xong, Inphadux bỏ đi. Khi chỉ còn riêng mấy người với nhau, tôi chỉ tay về phía những hòn núi xa xa, nói với các bạn tôi:
- Kia, đằng kia là các kho báu kim cương của vua Xolomon!
Ambov, lúc này đang đứng cạnh Henry và Huđơ, đã nghe rõ những lời tôi nói. Tôi nhận thấy rằng thời gian gần đây anh ta trở nên trầm ngâm, lơ đãng và ít khi nói chuyện với chúng tôi.
- Vâng, Macumazan, - anh ta nói với tôi bằng tiếng Dulux, đúng là có kim cương ở đấy, và tất nhiên nó sẽ thuộc về các ông, vì những người da trắng các ông rất thích tiền và những viên đá lấp lánh.
- Sao anh biết ở đấy có kim cương, Ambov? - tôi hỏi anh ta, giọng gay gắt. Tôi không thích vẻ bí hiểm và những câu nói bao giờ cũng lấp lửng của anh ta.
Ambov cười.
- Hôm qua tôi nằm mơ thấy như thế, thưa các ông chủ của tôi. - Anh ta đáp rồi quay ngang, bỏ đi.
- Anh bạn da đen của ta nói thế nghĩa là thế nào? Henry hỏi, - và anh ta đang nghĩ gì trong đầu? Rõ ràng anh ta biết một điều gì đấy nhưng không muốn nói. Mà này, ông Quotécmên, anh ta có nghe những người dẫn đường của chúng ta nói gì về... về em trai tôi không?
- Rất tiếc là không. Anh ta đã hỏi tất cả những người anh ta mới kịp quen biết về điều đó, nhưng được trả lời rằng ở đất nước này chưa bao giờ và chưa có ai thấy một người da trắng nào.
- Không lẽ ông nghĩ em trai ông có thể đến được đây? - Huđơ hỏi. - Bởi vì chính chúng ta đến đây cũng là điều không thể tin nổi. Vả lại làm sao ông ấy tìm thấy đường mà đi, một khi không có bản đồ trong tay?
- Tôi không biết, - Henry đáp, nét mặt ông trở nên ảm đạm, - nhưng tôi tin là dù sao tôi cũng tìm được em tôi.
Trong khi chúng tôi nói chuyện, mặt trời đã từ từ chiếu xuống phía chân trời, và bóng tối bỗng bao trùm mặt đất. ƠŒ những vùng này không có hoàng hôn, nghĩa là không có một sự chuyển tiếp dần dần và nhẹ nhàng từ ngày sang đêm, mà ngày bỗng chấm dứt rất nhanh và đột ngột như sự sống bỗng rời khỏi cơ thể người chết. Mặt trời lặn là lập tức vạn vật chìm trong bóng đêm.
Cuộc đời của tôi là một chuỗi dài khó khăn và lo lắng, nhưng cũng có một số ấn tượng mà mỗi lần nhớ lại, tôi đều cảm ơn số phận đã cho tôi được sống trên đời. Một trong những ấn tượng đó là cảnh trăng sáng mà tôi được chứng kiến ở Đất nước Cucuan.
Bỗng ông bạn già Inphadux lịch lãm của chúng tôi lên tiếng, làm cắt đứt những dòng suy nghĩ của tôi.
- Nếu các ông chủ của tôi đã nghỉ ngơi xong, - ông ta nói, - thì bây giờ chúng ta có thể đi tiếp. Chỗ ở đã được chuẩn bị sẵn cho các ông ở Luu. Hôm nay trăng sáng, sẽ soi đường cho ta đi.
Chúng tôi liền đồng ý và lên đường ngay lập tức. Một giờ sau, chúng tôi đã đến gần Luu. Chúng tôi có cảm giác như thành phố trải ra vô tận. Hàng nghìn đống lửa canh phòng khổng lồ được nhóm lên xung quanh, tạo thành một vành đai lửa vĩ đại bao bọc thành phố. Chẳng bao lâu sau chúng tôi đi tới mép đường hào sâu rộng có cầu nhấc lên hạ xuống bắc qua và nghe có tiếng khí giới va vào nhau, và tiếng hô khe khẽ của người lính gác, Inphadux đọc mấy tiếng mật khẩu mà tôi không hiểu rõ lắm. Người lính gác nhận ra chỉ huy của mình, lên tiếng chào và cho chúng tôi đi vào thành phố.
Gần nửa giờ chúng tôi đi dọc theo phố chính, ngang qua vô số các dãy nhà được làm bằng cây leo, cuối cùng Inphadux dừng lại bên mấy ngôi nhà lớn hơn đứng bao quanh một cái sân nhỏ láng vôi.
Bước vào sân, Inphadux nói rằng “tệ xá” này sẽ là chỗ ở của chúng tôi. Mỗi người trong chúng tôi được dành riêng một nhà. Những ngôi nhà này tốt hơn nhiều những ngôi nhà chúng tôi đã thấy. Trong mỗi nhà có một chiếc giường rất êm được lót bằng nệm mịn phủ hai lần lông thú, bên cạnh là những chiếc bình đất to đựng nước. Bữa cơm đã được chuẩn bị sẵn từ trước, vì chưa kịp rửa ráy, chúng tôi đã thấy mấy cô gái xinh đẹp cúi chào rất thấp rồi bê vào món thịt rán và bánh ngô được bày trong những cái đĩa bằng gỗ rất đẹp.
Chúng tôi ăn một cách ngon lành rồi yêu cầu mang tất cả giường vào một nhà. Biện pháp phòng ngừa này đã làm các cô gái mỉm cười. Mệt rã rời vì đi đường xa, chúng tôi lăn ra giường và ngủ một giấc như chết.
Khi chúng tôi tỉnh dậy, mặt trời đã lên cao. Không hề biết giả vờ xấu hổ, các cô gái phục vụ đã có mặt trong phòng, vì họ được lệnh đến giúp chúng tôi mặc quần áo để chuẩn bị yết kiến nhà vua.
-Mặc quần áo? - Huđơ làu bàu. - để Mặc chiếc áo sơ mi và xỏ chân vào giầy thì có lâu la gì. Này Quotécmên, nhờ ông bảo chúng mang hộ quần lại cho tôi.
Tôi làm theo lời ông ta, nhưng được trả lời rằng cái bảo vật ông đã được đem trình nhà vua, và ông ta chờ gặp chúng tôi vào lúc giữa trưa.
Sau khi yêu cầu các cô gái xinh đẹp tạm ra ngoài (điều này hình như đã làm họ ngạc nhiên và thất vọng không ít), chúng tôi bắt đầu mặc quần áo, cố gắng cẩn thận và chải chuốt đến mức có thể.
Không thể cưỡng được ý muốn, tất nhiên Huđơ đã lại cạo nhẵn má phải của khuôn mặt đầy râu, và đang định cạo nốt cả má bên kia, nhưng chúng tôi đã kịp ngăn lại, bảo ông ta trong bất kì trường hợp nào cũng không được đụng đến nó. Còn tôi và Henry thì chỉ rửa ráy sạch sẽ và chải lại mái tóc. Những món tóc của Henry đã mọc quá tốt, dài chấm vai và càng làm ông trông giống một người Đan Mạch cổ hơn bao giờ hết. Còn bộ râu bạc của tôi thì dài hơn độ dài cho phép ít nhất cũng gần ba xăngtimét.
Sau khi ăn sáng và mỗi người hút xong một tẩu thuốc, thân chinh Inphadux đến nói rằng nếu chúng tôi muốn, vua Tuala đã có thể tiếp.
Chúng tôi đáp rằng muốn chờ mặt trời lên cao rồi mới đến gặp vua, rằng chúng tôi đang rất mệt sau một chặng đường dài như thế, vân vân và vân vân. Khi tiếp xúc với người bản xứ, bao giờ cũng nên xử sự như thế: không được nhận lời ngay, vì họ có thể xem hành động lịch sự của bạn là dấu hiệu của lo sợ và hèn yếu. Vì vậy mặc dù cũng muốn sớm được nhìn thấy Tuala không kém ông ta muốn nhìn chúng tôi, chúng tôi vẫn dềnh dàng thêm một giờ nữa, và trong khoảng thời gian ấy, lo chọn trong số đồ đạc ít ỏi còn lại những cái thích hợp để làm quà cho vua và cận thần của ông ta. Quà của chúng tôi gồm: khẩu winchester của Venphôghen và một ít chuỗi hạt. Chúng tôi quyết định tặng súng và đạn cho đức vua vĩ đại, còn chuỗi hạt thì cho vợ và các cận thần của ông ta. Trước đấy, Inphadux và Xcraga đã được chúng tôi tặng chuỗi hạt. Họ hết sức vui mừng vì trong đời chưa bao giờ nhìn thấy một cái gì tương tự. Cuối cùng, chúng tôi tuyên bố là đã sẵn sàng gặp vua, rồi đi ra khỏi nhà có Inphadux hộ tống và Ambov đi bên, mang theo các quà tặng.
Đi được mấy chục mét, chúng tôi gặp một bờ rào giống bờ rào bao quanh nhà chúng tôi, như dài hơn độ năm mươi lần, vì nó khoanh tròn một diện tích không ít hơn sáu hoặc bảy trăm mét vuông. Phía bên ngoài, vòng theo bờ rào là những dãy nhà nối nhau được dành cho vợ của vua ở. Đối diện với cổng chính, nằm sẵn trong một khu đất khổng lồ là một ngôi nhà rất lớn đứng biệt lập - Đó là dinh thự của đức vua vĩ đại. Phần còn lại của đất bỏ trống, hay nói đúng hơn - sẽ bỏ trống, nếu không có vô số các toán quân đang đứng, ít nhất cũng phải đến bảy, tám nghìn người. Khi chúng tôi đi ngang, họ đứng lặng như những pho tượng.
Thật khó mà diễn tả nổi cảnh tượng hùng vĩ của đội quân này, gồm những chiến binh đầu cắm lông chim phấp phới, tay cầm giáo và khiên sắt được bọc da trâu lấp lánh dưới ánh mặt trời. Giữa khoảng trống trước ngôi nhà của vua, có đặt mấy chiếc ghế. Theo sự chỉ dẫn của Inphadux, chúng tôi ngồi xuống ba trong số ghế ấy, Ambov đứng phía sau chúng tôi, còn Inphadux thì đứng cạnh cửa ra vào ngôi nhà vua ở.
Một sự im lặng tuyệt đối bao trùm lên tất cả. Hơn mười phút, chúng tôi chờ vua ra, và suốt trong thời gian ấy, cả tám nghìn đôi mắt luôn nhìn chúng tôi một cách tò mò. Cần phải nói rằng điều ấy không thật dễ chịu lắm, nhưng chúng tôi vẫn tỏ ra như không hề có gì xảy ra.
Cuối cùng cánh cửa ngôi nhà lớn mở toang và từ đó bước ra một người cao lớn khổng lồ, vai khoác chiếc áo choàng ngắn bằng da hổ tuyệt đẹp. Theo sau ông ta là Xcraga, và như chúng tôi lúc đầu tưởng một con khỉ già khô, nhăn nheo bọc trong chiếc áo lông thú. Gã khổng lồ ngồi lên một chiếc ghế, Xcraga đứng phía sau, còn con khỉ thì bò bằng bốn tay chân đến ngồi xổm trong bóng râm của mái nhà.
Sự im lặng rùng rợn vẫn tiếp tục.
Bỗng gã khổng lồ hất bỏ chiếc áo khoác và đứng thẳng người. Đúng là một cảnh tượng thật sự đáng kinh sợ. Gã có đôi môi dày xấu xí, chiếc mũi rộng và dẹt, và chỉ độc một con mắt đen đang long lên một cách giận dữ. Còn ở chỗ đáng lẽ là mắt thứ hai là một hố sâu.
Trong đời tôi chưa bao giờ gặp khuôn mặt nào độc ác, ghê tởm và quái dị đến thế. Trên chiếc đầu to lớn của gã là chiếc mũ cắm đầy những chiếc lông đà điểu to màu trắng; ngực gã mang một chiếc áo giáp lấp lánh; quanh bụng và chân phải có quấn đuôi trâu trắng, thứ đồ trang sức truyền thống. Trên cổ của con người khủng khiếp này là một chiếc vòng vàng có hình dây thừng bện, còn trên trán dính một viên kim cương rất to lấp lánh, nhưng không sáng lắm vì chưa được mài nhẵn. Tay gã cầm một chiếc giáo dài và nặng. Chúng tôi hiểu ngay rằng đó là vua Tuala.
Im lặng vẫn tiếp tục, nhưng không lâu lắm.
Bỗng vua giơ cao chiếc giáo của mình. Để đáp lại cả tám nghìn cánh tay cùng giơ giáo lên trời, và từ tám nghìn cái miệng bay ra ba lần câu chào chỉ được dành riêng cho vua: “Kuum!”. Tôi có cảm giác như mặt đất đang rung lên vì ba tiếng kêu ấy, cái chỉ có thể được ví với tiếng sấm.
- Hãy quy hàng và nhẫn nhục hỡi con người. - Một giọng nói the thé, chối tai bay ra từ dưới mái che, nơi con khỉ ngồi.- Đây là vua!
- Đây là vua!, -như tiếng vọng, cả tám nghìn cái miệng cùng đồng thanh hô vang. - Hãy quy hàng và nhẫn nhục, hỡi con người!
Lại một lần nữa sự im lặng bao trùm lên tất cả.
Bỗng một trong số các chiến binh đứng ở phía trái vô ý để chiếc khiên rơi xuống nền đất trát vôi, phá tan sự im lặng.
Tuala lãnh đạm hướng con mắt duy nhất của hắn về phía người chiến binh để rơi khiên.
- Ê, tên kia, lại đây! - Hắn kêu to, giọng vang như sấm.
Một người thanh niên khỏe đẹp bước ra khỏi hàng và đứng nghiêm trước vua. -Chính mày đã để rơi khiên phải không, con chó vụng về kia? Chính mày đã làm nhục ta trước con mắt của những người lạ tới đây từ các vì sao? Sao mày cả gan dám làm điều ấy?
Dù da của chàng trai rất đen, chúng tôi cũng thấy rõ anh ta đã tái mặt.
- Ôi, thưa Con trai của bò Đen.- Người chiến binh trẻ run rẩy nói, - Chỉ vì con vô ý...
-Được, thế thì vì cái sự vô ý ấy mày phải đem mạng mình chuộc lại. Mày đã làm tao bẽ mặt. Hãy chuẩn bị để đón cái chết!
- Con chỉ là một con bò đực của vua! - Chàng trai khẽ rên rỉ.
- Xcraga! - Tuala gầm lên. - Hãy cho ta xem con sử dụng vũ khí thế nào. Hãy giết chết con chó vụng về kia cho ta.
Với nụ cười độc ác. Xcraga bước ra phía trước và giơ cao chiếc giáo của mình. Người chiến binh trẻ đáng thương chỉ biết đứng yên, hai tay ôm mặt. Còn chúng tôi thì lạnh toát cả người vì kinh sợ.
Xcraga vung giáo hai lần rồi đâm vào ngực chàng trai, nhát đâm mạnh đến nỗi mũi giáo xuyên qua ngực đến hơn ba mươi xăngtimét. Người chiến binh bất hạnh giang tay rồi ngã xuống đất chết ngay. Một làn sóng phản đối chạy qua các hàng quân đứng sát nhau như tiếng sấm xa xa rồi từ từ tắt hẳn.
Còn chưa kịp ý thức hết ý nghĩa của tấn thảm kịch vừa xảy ra, chúng tôi đã thấy xác của người chiến binh đáng thương nằm lăn dưới chân mình, Henry kêu lên một lời nguyền rủa độc địa, định chồm dậy, nhưng thấy xung quanh đang yên lặng một cách nặng nề đành từ từ ngồi lại vào chỗ của mình.
- Cú đấm khá lắm! - Tuala nói. Hãy đem nó ra khỏi đây!
Bốn người bước ra khỏi hàng, nâng cái xác lên rồi mang đi.
- Hãy lấp các vết máu lại! - Giọng nói the thé chói tai của hình người giống khỉ lại vang lên.- Vua đã nói xong lời của mình, và bản án đã được thi hành.
Từ sau nhà, một cô gái đi ra, tay mang chiếc lọ đựng đầy vôi bột, rồi rắc xuống các vũng máu. Henry điên lên vì tức giận, đang cố giữ cơn thịnh nộ sắp sửa bùng lên. Vất vả lắm chúng tôi mới thuyết phục được ông bình tĩnh trở lại.
- Vì Chúa, xin ông hãy ngồi yên cho! - Tôi khẽ bảo ông. - Đừng quên rằng nếu ông làm điều gì không phải là tất cả chúng ta sẽ chết.
Henry hiểu ra và từ đó ngồi yên.
Trong khi các vết bẩn được làm sạch, Tuala ngồi im, nhưng cô gái vừa đi khuất, hắn liền quay sang phía chúng tôi:
- Hỡi những người da trắng mà ta không biết từ đâu tới đây, và tới đây để làm gì, xin chào các ông.
- Xin chào ông, Tuala, vua của Đất nước Cucuantôi đáp.
- Hỡi những người da trắng, các ông từ đâu tới đây và định tìm gì ở đất nước chúng tôi?
- Chúng tôi từ các vì sao xuống đây để thăm Đất nước Cucuan. Xin đừng hỏi chúng tôi đã xuống đây bằng cách nào.
- Các ông đã làm một cuộc du hành lớn để thăm một đất nước bé nhỏ. Thế còn người này, - hắn nói, tay chỉ Ambov, - cũng từ các vì sao xuống ư?
- Vâng, cả anh ta cũng thế, - tôi đáp. - Trên trời cũng có người da đen như các ông. Nhưng đừng hỏi thêm chúng tôi về những điều mà ông không hiểu nổi, thưa vua Tuala.
- Các ông là người của các vì sao, các ông ăn nói với ta bạo dạn lắm, - Tuala đáp bằng cái giọng mà tôi rất không thích. Xin đừng quên rằng sao ở xa, mà các ông thì ở gần chúng tôi. Các ông sẽ nghĩ thế nào, nếu tôi đối với các ông cũng giống như với con người mà quân hầu vừa bê ra khỏi đây?
Tôi phá lên cười to, mặc dù lúc ấy hoàn toàn không có gì đáng cười.
- Ôi, Tuala! - tôi nói. - Xin ông hãy cẩn thận khi dẫm chân lên lửa để khỏi bị cháy da; và khi cầm giáo, hãy cầm ở cán gỗ để khỏi đứt tay. Chỉ cần ông làm rụng một sợi tóc trên đầu tôi hay đầu của các bạn tôi, là lập tức ông sẽ chết! Lẽ nào người của ông, - tôi nói tiếp, chỉ vào Inphadux và thằng Xcraga khốn nạn, - không nói ông biết chúng tôi là ai? Và đã bao giờ ông được nhìn thấy ai như người này chưa? - Tôi đưa tay chỉ Huđơ, hoàn toàn tin rằng hắn chưa bao giờ được thấy một người nào như thế.
- Đúng là những người thế này ta chưa thấy thật - Hắn thú nhận.
- Lẽ nào người ta không nói với ông rằng chúng tôi có thể giết chết từ xa?
- Có nói, nhưng ta không tin. Thế thì hãy cho ta xem đi. Hãy giết một trong số những chiến binh đang đứng đằng kia, - và hắn chỉ về phía đối diện ngôi nhà. Lúc ấy ta sẽ tin.
- Không, - tôi đáp.- Chúng tôi không giết những người vô tội. Chúng tôi chỉ giết người nào đáng bị giết, sau khi phạm một tội nào đó. Nếu ông muốn biết sức mạnh của chúng tôi, hãy sai quân hầu lùa vào đây một con bò, nó sẽ ngã xuống chết trước khi chạy được hai mươi bước.
- Không! - Tuala cười to.- Phải giết người lúc ấy ta mới tin.
- Được, tốt lắm! Tôi sẽ làm theo ý vua, - tôi bình tĩnh đáp. - Thế thì mời ông đi tới đằng kia, và trước khi đi tới đó, ông đã ngã xuống chết. Nếu ông không muốn đi thì cho Xcraga, con ông đi cũng được. (Cần nói thêm rằng lúc ấy tôi sẽ rất sung sướng nếu được bắn thằng khốn nạn trẻ tuổi ấy).
Vừa nghe những lời này, Xcraga đã rú lên bỏ chạy vào nhà.
Tuala kiêu kì nhìn tôi rồi nhíu mày lại: rõ ràng là đề nghị của tôi không làm hắn thích lắm.
- Cho dẫn vào đây một con bò đực! - Hắn ra lệnh cho hai người hầu.
Hai người kia vội vàng chạy ra ngoài.
- Bây giờ ông sẽ bắn, - tôi nói với Henry. - Tôi muốn cho thằng quỷ sứ này thấy rằng trong chúng ta không chỉ một mình tôi là phù thuỷ
Henry liền cầm súng và lên đạn.
- Hi vọng rằng tôi sẽ không bắn trượt, - ông thở dài và nói.
- Nếu bắn trượt viên đạn đầu, hãy bắn viên tiếp. Hãy ngắm bắn ở khoảng cách năm mươi mét, và chờ khi nào con vật quay hông về phía mình mới bóp cò.
Một lần nữa lại im lặng.
Bỗng con bò đực xuất hiện ở cổng. Thấy nhiều người nó đứng lại, đưa đôi mắt sợ hãi, đần độn nhìn xung quanh, rồi quay người, cất tiếng rống.
- Bắn đi! - Tôi khẽ nói.
Bum! Bum! - hai tiếng nổ vang lên và tất cả nhìn thấy con vật nằm chổng cẳng, giật giật trong cơn hấp hối. Viên đạn bắn đúng vào sườn nó. Cả tám nghìn người đứng lặng vì ngạc nhiên và sợ hãi.
Với vẻ bình thản, tôi quay lại bảo Tuala:
- Thế nào, tôi nói có đúng không?
- Đúng, người da trắng ạ, ông đã nói đúng, - Tuala đáp, run lên vì sợ.
- Hãy nghe tôi nói, Tuala, - tôi nói tiếp. - Ông đã được nhìn thấy tất cả. Ông phải biết rằng chúng tôi đến đây không phải để đánh nhau, mà với mục đích hòa bình. Hãy nhìn đây! - Tôi giơ cao khẩu <M>winchester<D>. - Như chúng tôi, ông cũng có thể giết chết con bò bằng chiếc gậy có lỗ hổng này. Có điều đừng quên rằng tôi đã phù phép nó. Nếu ông dùng chiếc gậy thần này định giết một người nào đó thì nó sẽ giết chết không phải người ấy, mà là chính ông. Hãy xem chừng! Tôi còn muốn cho ông xem một đôi điều nữa. Hãy sai một chiến binh của ông cắm cán giáo của mình xuống đất cách bốn mươi bước và để bề rộng của mũi giáo hướng về phía tôi.
Yêu cầu này được thực hiện ngay lập tức.
- Bây giờ thì thưa vua, hãy nhìn đây! Từ đây tôi sẽ phá tan ngọn giáo kia! Sau khi ngắm cẩn thận, tôi bóp cò, viên đạn trúng vào giữa lưỡi giáo làm nó vỡ nát.
Trên khu đất lại có tiếng thì thầm ngạc nhiên và kinh sợ.
- Thế đấy, Tuala! Chúng tôi sẽ tặng ông chiếc gậy thần này, và dần dần tôi sẽ dạy ông cách sử dụng nó. Nhưng hãy coi chừng khi định dùng nó để chống lại bất cứ con người nào trên trái đất! - Nói xong tôi trao khẩu súng cho ông ta.
Tuala đỡ lấy nó một cách rất thận trọng rồi để xuống bên chân mình. Đúng lúc ấy, tôi nhìn thấy cái hình người giống khỉ lại bò từ bóng râm mái che ra. Nó bò bằng bốn tay chân, nhưng khi đến chỗ ngồi của vua, nó đứng dậy, vứt bỏ chiếc áo lông khỏi người, để lộ trước mắt chúng tôi một sinh vật hình người kì dị và kinh tởm đến không thể tưởng tượng nổi. Đó là một mụ già người khô, nhăn nheo như một khúc gỗ khuôn mặt héo quắt và co rúm lại vì tuổi tác, trông không lớn hơn khuôn mặt của đứa bé một tuổi. Nó bị đan chéo ngang dọc bởi những đường nhăn sâu màu vàng, kể cả một vệt lõm dài tức là cái miệng, phía dưới nhô ra một chiếc cằm nhọn vểnh lên. Mũi thì hoàn toàn không có. Nói chung có thể tưởng nhầm mụ là một cái xác được phơi khô dưới mặt trời nếu trên mặt mụ không có đôi mắt to đen rực lửa, đôi mắt thông minh luôn dõi nhìn một cách tinh quái dưới đôi lông mày hoàn toàn màu trắng, còn phía trên là chiếc trán màu vàng như tấm da phơi khô. Còn cái đầu thì trọc lốc, cũng màu vàng, nhăn nheo và có thể co vào, giãn ra như da đầu rắn hổ mang.
Chúng tôi vô tình rùng mình vì sợ và kinh tởm khi nhìn thấy mụ già khủng khiếp này. Mụ đứng yên một phút rồi bất ngờ chìa một cánh tay xương xẩu có móng dài đến mấy phân, như móng chân của chim ác, và đặt lên vai Tuala. Bỗng mụ cất tiếng rồi bằng cái giọng the thé gớm ghiếc của mình:
- Ôi, thưa vua, hãy nghe ta! Hãy nghe ta, hỡi các chiến binh! Hãy nghe ta, hỡi núi, hỡi các cánh đồng và các dòng sông, hỡi toàn thể Đất nước Cucuan thân yêu! Hãy nghe ta, hỡi trời xanh và mặt trời rực rỡ, hỡi mưa, hỡi gió, hỡi sương mù! Hãy nghe ta, hỡi những người đàn ông và những người đàn bà, hỡi các chàng trai và các cô gái, và hỡi cả những đứa trẻ còn nằm trong bụng mẹ! Hãy nghe ta, hỡi tất cả những gì đang sống và sẽ phải chết! Hãy nghe ta. Hỡi tất cả những gì đã chết và sẽ phải sống lại và sẽ chết! Hãy lắng nghe ta! Linh hồn cuộc sống đang ở trong ta và ta sắp nói những lời tiên tri! Những lời tiên tri! Những lời tiên tri vĩ đại!
Những câu cuối cùng của mụ tan dần cùng tiếng kêu yếu ớt, làm tất cả những người có mặt, kể cả chúng tôi, phải hoảng sợ. Mụ già đúng thật là kinh khủng.
- Máu! Máu! Máu! Cả một dòng sông máu! Máu khắp nơi! - mụ lại rít lên. - Ta nhìn thấy máu, ngửi thấy mùi của nó, nếm được cái ngon của nó, những giọt máu mặn! Máu chảy thành dòng trên mặt đất, máu rơi từ trời xuống như mưa.
Có tiếng những bước chân! Những bước chân! Những bước chân! Đó là người da trắng đang đi. Hắn đi từ xa lại đây. Mặt đất đang rung lên vì bước chân của hắn, đang run sợ trước thượng đế của hắn!
Ôi, những dòng máu này mới ngon sao, mới đẹp sao, những dòng máu đỏ! Không có gì tuyệt bằng mùi máu tươi. Con sư tử sẽ gầm lên, sung sướng uống máu! Con chim ác sẽ nhúng hai cánh của mình vào máu và cất tiếng kêu vui thích!
Ta là người già! Rất già! Trong đời ta đã thấy nhiều máu. Ha! Ha! Ha! Và ta sẽ còn thấy nhiều hơn nữa trước khi chết: và lòng ta sẽ tràn đầy sung sướng và vui vẻ. Các người có biết ta bao nhiêu tuổi không? Bố các người đã biết ta, và bố của bố các người đã biết ta. Và cả bố của bố của bố các người cũng biết ta. Ta đã nhìn thấy một người da trắng và đã biết được ý định của hắn. Ta già, nhưng núi còn già hơn ta. Hãy nói ta nghe ai đã làm nên Con đường vĩ đại? Ai đã khắc các hình vẽ lên núi đá? Ai đã dựng lên Thần Im lặng đang ngồi trên núi, bên chiếc giếng khổng lồ và đang nhìn về phía chúng ta? - Mụ chỉ tay về phía những ngọn núi cao trước đây đã làm chúng tôi chú ý. - Các người không biết, nhưng ta thì ta biết. Lâu, rất lâu trước khi các người đến đây, ở đây đã in dấu chân của người da trắng. Và họ sẽ còn tới đây nữa, lúc ấy sẽ không còn các người, vì chúng sẽ ăn thịt, sẽ giết chết các người. Đúng thế! Đúng thế! Đúng thế.
Và chúng tới đây làm gì, những người da trắng ấy, những người thông minh, đáng sợ, khỏe mạnh cương quyết và giỏi các phép phù thuỷ như vậy?
- Ôi, thưa vua! Vua lấy hòn đá lấp lánh đang đính trên đầu vua kia từ đâu? Ôi, thưa vua! Bàn tay ai đã làm nên chiếc áo sắt vua đang mang trên ngực? Vua không biết, nhưng ta biết. Ta - một người già. Ta am hiểu hết mọi việc trên đời và dưới đất. Ta - Izanuzi một pháp sư vĩ đại!
Rồi mụ quay chiếc đầu trọc như đầu chim ưng về phía chúng tôi, và nói tiếp:
- Các người định tìm gì ở đây, hỡi những người da trắng từ trên các vì sao... Vâng, vâng, từ trên các vì sao bay xuống? Các người tìm một người mất tích ư? Sẽ không bao giờ tìm thấy đâu! Người ấy không có ở Đất nước Cucuan này. Từ lâu, đã từ rất lâu chưa hề có một người da trắng nào đặt chân đến đây, trừ một người, và rồi cuối cùng hắn cũng bỏ đây mà đi, để chết đâu đó. Các người tới đây vì những viên đá lấp lánh! Ta biết, ta biết rõ điều đó. Các người sẽ tìm thấy chúng khi máu đã khô. Nhưng liệu các người có trở về được nơi mà các người đã rời bỏ để đến đây không, hay phải ở lại đây cùng ta? Ha! Ha! Ha!
- Còn ngươi, ngươi, với nước da đen và dáng điệu kiêu hãnh kia, - mụ chỉ những ngón tay xương xẩu vào Ambov. - Ngươi là ai và đến đây làm gì? Tất nhiên không phải vì những viên đá lấp lánh và những cục sắt màu vàng - những cái ấy ngươi sẽ nhường lại cho “những người từ các vì sao xuống”. Ta có cảm giác như có biết ngươi. Ta như ngửi thấy mùi máu trong tim ngươi. Hãy cởi quần áo cho ta xem...
Bỗng khuôn mặt của con mụ ghê tởm ấy giật giật, miệng sủi bọt mép, và trong cơn kích động, mụ ngã xuống đất. Lập tức mụ được bê vào trong nhà.
Tuala đứng dậy, người run lên từ đầu đến chân. Hắn vẫy tay ra hiệu, và cả tám nghìn người xếp thành hàng thẳng băng đi về phía cổng.
Mười phút sau, cả khu đất rộng lớn trở nên vắng tanh, để lại chúng tôi ngồi riêng với Tuala và một ít cận thần của hắn.
- Hỡi những người da trắng, - hắn nói, - ta nghĩ ta phải giết chết tất cả các ngươi. Gagula đã tiên tri những điều lạ lùng. Các ngươi nghĩ thế nào? Tôi phá lên cười:
- Ồ, thưa vua, hãy cẩn thận! Giết được chúng tôi không dễ đâu. Ông không thấy chúng tôi đã làm gì với con bò đực sao? Không lẽ ông cũng muốn làm với ông như thế?
Tuala nhíu mày:
- Không ai được phép dọa vua, - hắn nói một cách ảm đạm.
- Chúng tôi không dọa, mà là nói điều có thật. Ôi, thưa vua, cứ thử giết chúng tôi xem, rồi ông sẽ biết.
Gã khổng lồ man rợ đặt tay lên trán suy nghĩ một phút rồi cuối cùng nói:
- Thôi được, các ông đi đi. Tối nay sẽ có cuộc vui vĩ đại. Các ông sẽ được mời đến xem. Đừng sợ, ta không đưa các ông vào bẫy đâu. Ngày mai ta sẽ quyết định nên làm gì với các ông.
- Rất tốt, thưa vua, - tôi bình thản đáp.
Chúng tôi đứng dậy và cùng Inphadux đi kèm, quay lại ngôi nhà dành riêng cho chúng tôi.
lặng.
thiensu96 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn  
Trả Lời Với Trích Dẫn
Unread 13-05-2012, 08:05 AM   #10
Default

Chương 9
SĂN PHÙ THUỶ

Về tới nhà, tôi ra hiệu cho Inphadux cùng đi vào với chúng tôi.
- Này, Inphadux - tôi bảo ông ta - chúng tôi muốn nói chuyện với ông.
- Mời các ông chủ cứ nói.
- Chúng tôi có cảm giác rằng vua Tuala là một người độc ác.
- Quả đúng thế, thưa các ông chủ. Than ôi, cả đất nước đang phải đau khổ vì sự độc ác của ông ta. Các ông sẽ tự thấy điều đó đêm nay, khi cuộc săn phù thủy được tiến hành. Nhiều người sẽ bị săn lùng và giết chết. Không ai có thể yên tâm về tính mạng của mình. Nếu vua muốn lấy súc vật hay mạng sống của một người nào đó, hay nghi ngờ người ấy có thể nổi dậy chống ông ta, lúc ấy Gagula mà các ông đã thấy, hay một người nào đó trong những người đàn bà chuyên săn bắt phù thủy được Gagula dạy nghề, sẽ đánh hơi và tuyên bố rằng người ấy là phù thủy và sẽ bị giết chết. Đêm nay, trước khi trăng lặn sẽ có nhiều người chết. Xưa nay bao giờ cũng thế. Có thể cả tôi cũng bị đe dọa. Tôi còn được sống đến nay chỉ vì tôi là người có kinh nghiệm trong chiến tranh, và được các chiến binh của tôi yêu mến. Nhưng tôi không biết liệu tôi còn được sống bao lâu nữa? Cả đất nước rên xiết dưới sự thống trị tàn bạo của vua Tuala.
- Thế thì tại sao các ông không giết ông ta đi?
- Ồ không thưa ông chủ, vì dù sao ông ta vẫn là vua. Vả lại, nếu ông ta có bị giết thì Xcraga sẽ lên thay, mà trái tim của hắn thì còn đen hơi trái tim bố hắn nhiều. Nếu Xcraga được làm vua, thì cái ách hắn quàng lên cổ chúng tôi sẽ nặng hơn cái ách của Tuala. Giá Imôtu còn sống, hay Icnôzi, con trai của ngài chưa chết thì mọi việc sẽ khác hẳn. Nhưng than ôi, họ đã chết từ lâu.
- Sao ông biết rằng Icnôzi đã chết? - Có người nào đấy đứng phía sau chúng tôi hỏi.
Chúng tôi ngạc nhiên quay lại, thì ra đó là Ambov.
- Anh ta nói nghĩa là thế nào? - Inphadux hỏi. - Và tại sao anh lại dám nói?
- Ông hãy lắng nghe tôi, Inphadux, - Ambov nói.
- Hãy nghe những gì tôi sắp nói. Rất nhiều năm về trước ở đất nước này vua Imôtu bị giết chết, còn vợ ông ta và đứa con là Icnôzi thì bỏ trốn, có đúng thế không?
- Đúng thế?
- Người ta nói hai mẹ con bà đã chết trong núi, đúng thế không?
- Vâng đúng thế.
- Tốt. Nhưng thực ra lại khác. Cả bà mẹ, lẫn cậu con, Icnôzi đã không chết. Họ đã trèo qua núi và cùng với một bộ lạc du mục nào đó vượt sa mạc ở phía bên kia cuối cùng đến được những miền đất có nước và có cây cỏ.
- Sao anh biết được điều ấy?
- Ông hãy nghe tôi đã. Rồi họ đi tiếp đi mãi cho đến khi gặp đất nước của những người Amazula dũng cảm có dòng máu gần với người Cuculan. Trong nhiều năm liền, hai mẹ con sống giữa những người Amazula cho đến ngày bà mẹ chết mới thôi. Sau đó người con, Icnôzi lại bắt đầu lang thang đây đó, đến tận đất nước kì diệu của những người da trắng, ở đấy anh ta sống nhiều năm và học được nhiều điều thông minh của họ.
- Những điều anh kể nghe lạ lùng lắm, Inphadux nói vẻ nghi ngờ.
- Anh ta sống rất lâu ở đó, lúc thì làm đầy tớ, lúc làm chiến binh, nhưng trái tim anh ta bao giờ cũng khắc sâu những gì bà mẹ kể về quê hương của mình. Anh ta luôn nghĩ tới việc quay về để được nhìn lại một lần nữa bà con và ngôi nhà của cha trước khi chết. Trong nhiều năm anh ta chờ đợi, cho đến lúc cuối cùng số phận đã cho anh ta gặp những người da trắng đang muốn tìm đến đất nước ấy. Và anh ta đã nhập vào đoàn của họ. Những người da trắng lên đường đi; đi mãi về phía trước để tìm kiếm một người mất tích. Họ vượt qua sa mạc nóng bỏng, vượt qua những đỉnh núi phủ tuyết, đến được Đất nước Cucuan và gặp ông, ông Inphadux ạ.
- Chắc chắn anh là một người điên, nếu không đã chẳng nói thế - người chiến binh già đáp, rất đỗi ngạc nhiên vì những gì nghe được.
- Đừng nghĩ thế. Đây, tôi cho ông xem đây, hỡi người em của cha tôi! Tôi là Icnôzi vua hợp pháp của đất nước Cucuan!
Vừa nói, bằng một động tác dứt khoát, anh ta vừa cởi lớp vải quấn quanh người và trở nên hoàn toàn trần truồng.
- Ông nhìn đi - anh ta nói - Ông biết cái này nghĩa là gì chứ? - Rồi chỉ vào hình con rắn thần chàm bằng mực xanh trên người anh ta.
Đuôi của con rắn nhỏ dần và biến mất dưới bẹn, Inphadux nhìn, đôi mắt lồi hẳn ra ngoài vì ngạc nhiên. Sau đó ông ta quỳ xuống đất:
- Kuum! Kuum! - Ông ta kêu lên. - Đây là con trai của anh tôi! Đây là vua!
- Thì tôi chẳng bảo với ông như thế rồi sao, hỡi người em của cha tôi? Hãy đứng dậy. Tôi còn chưa là vua, nhưng với sự giúp đỡ của ông và những người bạn da trắng dũng cảm của tôi, tôi sẽ là vua. Mụ già Gagula nói đúng - Trước hết máu sẽ thấm đỏ mặt đất, nhưng tôi cũng nói thêm rằng cả máu của mụ cũng đổ, nếu trong cơ thể của mụ có máu, vì chính mụ đã giết chết cha tôi bằng lời nói, và đã làm mẹ tôi phải phiêu bạt. Còn bây giờ thì Inphadux ông hãy quyết định. Ông có muốn góp phần giúp tôi không? Ông có muốn chia sẻ các mối nguy hiểm đang đe dọa tôi và lật đổ tên bạo chúa và là tên giết người kia hay không? Ông hãy lựa chọn và quyết định đi.
Ông già để tay lên trán lưỡng lự rồi đứng dậy đi về chỗ Ambov, hay bây giờ là Icnôzi đứng và cúi lạy khẽ chạm vào tay anh ta:
- Thưa Icnôzi vua hợp pháp của người Cucuan, tôi đồng ý đặt bàn tay của tôi vào lòng tay ngài, và sẽ phục vụ ngài cho đến khi chết. Khi ngài còn bé, tôi đã ẵm ngài trên tay, bây giờ cánh tay già này sẽ cầm giáo chiến đấu vì ngài và vì tự do.
- Ông đã nói những lời đẹp đẽ, Inphadux! Nếu tôi giành được thắng lợi, ở đất nước này, ông sẽ là người thứ nhất sau vua. Nếu thất bại, ông chỉ phải chết, mà cái chết của ông cũng không còn xa nữa. Hãy đứng dậy, hỡi em trai của cha tôi. Còn các ông hỡi những người da trắng, các ông có giúp tôi không? Tôi có thể đề nghị với các ông? Nếu tôi giành được thắng lợi và tìm thấy những viên đá lấp lánh ấy, các ông có thể lấy mang khỏi đây bao nhiêu tùy thích. Như thế có đủ không?
Tôi dịch lời của anh ta.
- Ông hãy nói rằng anh ta đã hiểu không đúng về người Anh chúng ta - Henry đáp - Chúng ta sẽ không từ chối vàng bạc kim cương nếu gặp trên đường đi, nhưng chúng ta không bán mình để đổi lấy những thứ đó. Nhưng riêng tôi, tôi muốn nói như sau: Bao giờ tôi cũng có cảm tình với Ambov và tôi sẽ giúp đỡ anh ta trong mọi việc. Tôi sẽ rất sung sướng nếu được tính sổ với con quỷ Tuala độc ác kia. Còn các ông thì sao. Ông Huđơ và Ông Quotécmên?
- Cũng được, - ông thuyền trưởng nói - ông có thể nói với anh ta bằng cái ngôn ngữ bóng bẩy mà ở đây người ta đang rất mê ấy, rằng đánh nhau là một việc không quá tồi, và rằng dòng máu trong trái tim những người đàn ông chân chính luôn chảy mạnh. Vì vậy cả tôi, tôi cũng là người anh ta có thể tin cậy được. Tôi chỉ đặt một điều kiện duy nhất, là sau này anh ta phải cho tôi mặc quần!
Tôi dịch lời của hai người cho Ambov nghe.
- Xin cảm ơn các ông những người bạn của tôi - Icnôzi, trước kia là Ambov, đáp - Còn ông thì sao, ông Macumazan? Ông có giúp tôi không, hỡi người thợ săn già, thông minh hơn cả con trâu khi bị thương?
Tôi đưa tay gãi gáy, lưỡng lự trong giây lát.
- Ambov hay Icnôzi - cuối cùng tôi nói - tôi không thích các cuộc dấy loạn. Tôi là người yêu hòa bình, thậm chí hơi nhút nhát (nghe vậy Icnôzi mỉm cười), nhưng mặt khác, tôi là người chung thủy với bạn bè. Anh đã trung thành với chúng tôi, và tỏ ra là người đàn ông thực thụ, vì vậy tôi sẽ không bỏ rơi anh. Nhưng cũng đừng quên rằng tôi là một lái buôn và còn phải kiếm sống. Nên tôi chấp nhận đề nghị của anh về kim cương, nếu quả chúng ta có thể tìm thấy nó. Còn một việc nữa: như anh biết, chúng tôi đến đây để tìm người em của Incubu. Anh phải giúp chúng tôi trong việc này.
- Tất nhiên. Icnôzi đáp - Này Inphadux anh ta nói tiếp. - Nhân danh con rắn thần đang quấn quanh người tôi, tôi hỏi ông: ông có biết người da trắng nào đã đặt chân đến đây chưa?
- Không, Icnôzi.
- Nếu quả có người da trắng đã đến được đây và người khác có thấy và nghe nói về ông ta, thì liệu ông có biết không?
- Nếu thế chắc chắn tôi phải biết.
- Ông nghe rồi chứ, ông Incubu? - Icnozxi quay sang hỏi Henry - Chưa có ai đến đây cả.
- Vâng, vâng - Henry thở dài nói - chắc là thế. Tôi cũng nghĩ rằng em trai tôi không đến được đây. Ôi, Georg đáng thương! Nghĩa là mọi cố gắng của chúng ta đều vô ích. Trời bắt sao đành chịu vậy.
- Thôi, bây giờ ta bắt tay vào bàn công việc - tôi ngắt lời Henry để tránh kéo dài cái đề tài không lấy gì làm vui này - Tất nhiên để làm vua phải có quyền thừa kế theo ý trời, nhưng Icnôzi anh định trở thành vua trong thực tế như thế nào?
- Tôi không biết. Ông có kế hoạch gì không, Inphadux?
- Thưa Icnôzi con trai của tia chớp - ông già đáp đêm nay sẽ có cuộc vui vĩ đại và hội săn phù thủy. Nhiều người bị tình nghi và sẽ bị giết, nhưng trong trái tim của nhiều người khác là cái đau, cái sợ và cái tức giận đối với vua Tuala. Khi cuộc vui kết thúc, tôi sẽ nói chuyện với một số người cầm đầu các đạo quân, và nếu gặp may, tôi lôi cuốn được họ về phía mình, họ sẽ nói chuyện với các chiến binh của họ. Lúc đầu tôi sẽ bí mật nói chuyện với các vị đó và dẫn tới đây để họ được tận mắt trông thấy rằng chính ngài mới là vua. Tôi tin chắc rằng đến rạng sáng ngày mai, ngài đã có dưới quyền mình hai mươi nghìn mũi giáo. Còn bây giờ tôi phải xin lui để suy nghĩ, nghe ngóng và chuẩn bị. Khi cuộc vui kết thúc, nếu tất cả chúng ta còn sống, tôi sẽ gặp ngài ở đây để bàn bạc thêm. Xin nhớ cho rằng trong trường hợp may mắn nhất, chúng ta cũng không khỏi phải đánh nhau lớn.
Đúng lúc ấy cuộc họp mặt của chúng tôi bị ngắt quãng bởi những tiếng hô to, báo hiệu có người của vua đến. Chúng tôi ra lệnh cho họ vào, và lập tức có ba người bước vào nhà mỗi người bê một chiếc áo giáp lấp lánh và một chiếc đao tuyệt đẹp.
- Đây là quà của đức vua Tuala gửi tặng những người da trắng từ các vì sao xuống! - Người truyền lệnh đi theo tuyên bố.
- Chúng tôi xin gửi lời cám ơn tới nhà vua, - tôi nói. - Các ông có thể ra về được.
Khi họ đi khỏi, chúng tôi lập tức xem xét các quà tặng của Tuala một cách tò mò và chăm chú. Chúng tôi quả chưa bao giờ được nhìn thấy những bộ áo giáp nào đẹp như thế. Các mắt xích nhỏ đến nỗi khi gấp lại cả bộ áo giáp có thể nằm gọn trong hai lòng bàn tay.
- Không lẽ những vật này được làm ở đất nước các ông, Inphadux? - Tôi hỏi - Chúng rất đẹp.
-Không, thưa ông chủ, chúng được truyền lại từ tay tổ tiên chúng tôi. Chúng tôi không biết do ai làm ra. Bây giờ chúng còn lại rất ít, và chỉ những người có dòng máu nhà vua trong tim mới được phép mặc chúng. Đây là những chiếc áo đã được phù phép giáo đâm không thủng. Những người mặc chúng, khi đánh nhau hầu như hoàn toàn yên tâm, không lo bị giết. Vua Tuala gửi chúng đến đây hoặc vì đang rất hài lòng, hoặc vì đang rất sợ hãi một điều gì đó. Đêm hôm nay các ông hãy mặc chúng vào người, thưa các ông chủ.
Phần còn lại của ngày hôm ấy chúng tôi được để yên. Chúng tôi nằm nghỉ và thảo luận về hoàn cảnh của mình, cái mà phải nói rằng không làm chúng tôi thật yên tâm lắm. Cuối cùng, mặt trời lặn, hàng trăm đống lửa canh phòng được nhóm lên và trong bóng đêm chúng tôi nghe rõ tiếng bước chân nặng nề của hàng nghìn, hàng vạn bàn chân, tiếng va vào nhau của hàng nghìn hàng vạn ngọn giáo - đó là các đoàn quân tập kết về chỗ được quy định cho họ để chuẩn bị tham gia cuộc vui vĩ đại.
Vầng trăng tròn sáng rực xuất hiện. Chúng tôi đang đứng ngắm trăng thì Inphadux đến. Ông ta mang trên người tất cả các đồ trang điểm của một chiến binh có một đoàn tùy tùng gồm hai mươi người có nhiệm vụ đưa chúng tôi đến dự cuộc vui.
Theo lời khuyên của Inphadux chúng tôi mặc vào người những chiếc áo giáp do Tuala tặng, bên ngoài mặc thêm quần áo bình thường. Thật là đáng ngạc nhiên vì mặc vào chúng tôi thấy hoàn toàn nhẹ nhàng và thoải mái. Những chiếc áo kim loại ngày xưa chắc được làm cho những người cao to, nên bây giờ đối với tôi và Huđơ thì hơi rộng, nhưng đối với Henry thì vừa vặn. Nó bám vào thân hình lực sĩ của ông như chiếc găng tay bó chặt các ngón. Sau đó chúng tôi giắt súng lục vào thắt lưng, cầm giáo do Tuala gửi tặng rồi ra đi.
Khi đến ngôi nhà lớn nơi được đón tiếp buổi sáng, chúng tôi thấy khắp nơi toàn là người. Gần hai mươi nghìn chiến binh đứng thẳng hàng, mỗi đạo quân đứng riêng một nơi. Các đạo quân lại được chia nhỏ thành từng toán, ở giữa có lối đi để các mụ săn phù thủy đi lại.
Thật khó mà hình dung nổi cái gì hùng tráng hơn cảnh hàng chục nghìn người được vũ trang đứng thẳng đều thành các đội hình như thế. Họ đứng trong một sự im lặng tuyệt đối, và mặt trăng tròn dọi ánh sáng của mình xuống cả một rừng ngọn giáo lấp lánh xuống những thân hình lực lưỡng, những chiếc lông chim phấp phới và những chiếc khiên nhiều màu của họ.
- Chắc đây là toàn quân đội của các ông? - Tôi hỏi Inphadux.
- Không thưa Macumazan - ông ta đáp - đây mới chỉ là một phần ba thôi. Hàng năm một phần ba quân đội tham gia cuộc vui này, một phần ba khác đóng xung quanh để đề phòng có sự cố khi bắt đầu chém giết phù thuỷ. Thêm vào đó là mười nghìn chiến binh được bố trí canh phòng ở các cửa ngõ vào Luu. Số còn lại đóng giữ các làng ở khắp toàn đất nước. Đất nước chúng tôi lớn lắm, ông biết đấy.
- Nhưng họ quá ư im lặng. Huđơ nhận xét.
Quả đúng như thế, sự im lặng căng thẳng bao trùm lên một số người đông thế này thường gây cho ta một cảm giác nặng nề.
- Buguam nói gì thế? - Inphadux hỏi.
Tôi dịch lời của Huđơ.
-Ai đang bị thần chết đe dọa bao giờ cũng im lặng ông ta ảm đạm nói.
-Sẽ có nhiều người chết lắm à?
-Rất nhiều!
Tôi quay sang nói với các bạn của tôi:
-Hình như ta sắp sửa được chứng kiến một trận đấu kiếm vĩ đại của nô lệ như ở thành La Mã thời cổ đại. Và lần này người ta không hạn chế số người bị giết.
Tôi thấy Henry khẽ rùng mình, còn Huđơ thì tuyên bố sẵn sàng không tham gia cuộc vui này.
- Này, Inphadux - tôi nói - Liệu tính mạng chúng tôi có bị đe dọa không?
-Tôi không biết, thưa ông chủ, nhưng tôi nghĩ rằng không. Ít ra thì các ông cũng đừng tỏ ra sợ hãi. Nếu các ông sống qua được đêm nay, mọi chuyện sẽ tốt đẹp. Các chiến binh đang rất bất bình với Tuala.
Trong suốt thời gian ấy, chúng tôi đi về phía trung tâm của bãi trống, nơi có đặt mấy chiếc ghế. Đang đi chúng tôi nhìn thấy một tốp nhỏ người khác cũng tiến lại từ phía ngôi nhà vua đang ở.
- Đấy là vua Tuala, Xcraga, con trai ông ta, mụ Gagula và những người hôm nay sẽ làm nhiệm vụ chém giết, - Inphadux chỉ đám người đi theo
Chúng có khoảng mười hai người, đứa nào cũng cao lớn và trông thật đáng sợ. Mỗi đứa một tay cầm giáo tay kia cầm một chiếc Kerri<D> nặng (tức là chiếc gậy).
Tuala ngồi xuống chiếc ghế chính giữa. Gagula ngồi xổm bên cạnh, còn Xcraga và bọn đao phủ thì đứng phía sau.
- Chào các ông, những người da trắng! Tuala nói to khi chúng tôi đi đến. Mời các ông ngồi xuống và đừng để phí thời gian vô ích. Đêm quá ngắn đã làm hết những việc chúng ta định làm. Các ông gặp may vì sắp được chứng kiến một cảnh tượng vĩ đại. Mời các ông hãy nhìn xung quanh, hỡi những người da trắng! - Hắn đưa con mắt duy nhất nhìn một lượt các đạo quân của hắn. - Liệu các vì sao có thể cho các ông xem một cảnh như thế này được không? Các ông hãy xem bọn chúng, những kẻ đang mang trong tim mình sự giận dữ và sợ hãi trước ngọn gió công liù của trời đất, đang run lên một cách hèn hạ thế nào!
- Bắt đầu! Bắt đầu đi! - Gagula kêu lên bằng cái giọng the thé của mình. - Bầy linh cẩu đói đang đòi ăn. Bắt đầu đi! Bắt đầu đi.
Sau đó là một phút im lặng căng thẳng, đáng sợ, chờ đợi những gì sắp xảy ra.
Tuala giơ giáo, lập tức cả hai mươi nghìn bàn chân giơ lên như thể thuộc một người điều khiển rồi hạ xuống, làm rung động cả mặt đất. Điều này lặp lại ba lần.
Tiếp đến, ở một góc xa nào đấy vọng lại một giọng hát kéo dài, nghe như đang cầu kinh. Điệp khúc của bài hát đại khái như sau:
- Số phận của con người được phụ nữ sinh ra là gì, là gì?
Và từ lồng ngực của hai mươi nghìn chiến binh vang lên lời đáp:
- Là cái chết! Cái chết!
Dần dần, hết toán quân này đến toán quân khác tiếp theo nhau hát theo cho đến khi cuối cùng, cả chừng ấy con người được vũ trang cùng đồng thanh hát. Tôi nghe không rõ tất cả các lời, nhưng hiểu rằng bài hát nói về cái đam mê, cái buồn, cái vui của con người. Có thể nghĩ rằng đó là một bài hát về tình yêu, lúc vang lên hùng tráng, lúc sầu não như bài kinh cầu hồn, cuối cùng được kết thúc đột ngột bằng những tiếng rú tuyệt vọng, nức nở. Tiếng vọng của bài hát bay xa khắp bốn xung quanh, làm máu trong tim như đứng lại. Sau đó im lặng lại bao trùm tất cả, nhưng Tuala giơ giáo làm tan sự im lặng đó. Có tiếng bước chân dậm nhanh và từ đội hình các chiến binh chạy ra những hình người kì dị và khủng khiếp.
Khi đến gần, chúng tôi nhận ra đó là những người đàn bà, hầu như tất cả đã già. Mái tóc bạc phơ của họ được trang điểm bằng những chiếc bong bóng cá, bay phấp phới. Mặt họ được vẽ bằng những vệt vàng và trắng xen nhau, các xác rắn vắt ngang qua vai, xương người màu trắng dắt đầy quanh lưng. Mỗi người trong số họ cầm trong cánh tay xương xẩu một chiếc gậy hai cạnh. Họ có mười người tất cả. Khi đến gần chúng tôi, họ dừng lại và một người chìa gậy về phía Gagula kêu to:
- Mẹ! Thưa mẹ già! Chúng con đã đến!
- Được! Được, Được! - Mụ già tượng trưng cho sự độc ác lên tiếng. - Mắt của các con, những con mắt biết nhìn trong bóng tối, có còn tinh nữa không?
Mắt chúng con vẫn còn tinh, thưa mẹ.
-Được! Được! Được! Tai của các con, những chiếc tai biết nghe cả những lời chưa nói, vẫn rộng mở đấy chứ.
- Tai chúng con vẫn mở rộng, thưa mẹ.
- Được! Được! Được! Nhưng đầu óc các con có còn tỉnh táo nữa không? Và các con vẫn còn ngửi thấy mùi của máu? Vẫn có thể làm sạch đất nước khỏi bọn phản loạn định chống lại nhà vua và láng giềng của mình? Các con, những người được ta dạy dỗ được ăn bánh mì của trí tuệ ta, được uống nước từ suối thần các phép màu của ta, và các con đã sẵn sàng thực hiện sự phán xử của trời đất chưa?
- Thưa mẹ, chúng con đã sẵn sàng.
-Nếu thế thì bắt đầu đi, còn phải chờ gì nữa, hỡi những người con độc ác của ta. Các con hãy nhìn những kẻ giết người kia, - rồi mụ chỉ về phía bọn đao phủ đang đứng sau chúng tôi. - Cứ để họ sử dụng thật tốt các mũi giáo của mình. Những người da trắng từ các vì sao xuống muốn được nhìn các con làm việc, Đi! đi!
Rú lên một tiếng kinh khủng, những mụ già thực hiện ý đồ của Gagula tản đi các phía, vừa chạy vừa rung rung những đoạn xương người đeo bên hông, tới các điểm khác nhau của cả vòng người khổng lồ khép chặt. Không thể theo dõi được tất cả, chúng tôi chỉ tập trung nhìn vào mụ già gần mình nhất. Khi đến các các chiến binh chỉ còn mấy bước, mụ dừng lại và bắt đầu điệu nhảy man rợ của mình với một tốc độ đáng kinh ngạc và vừa nhảy, mụ vừa kêu to những câu như: “Ta đã ngửi thấy nó, tên giết người!”. “Nó đây, gần lắm rồi, tên đã đầu độc mẹ mình!”, “Ta đã nghe thấy ý nghĩ của kẻ định giết vua!”.
Mụ nhảy mỗi lúc một nhanh hơn, dần dần cuồng loạn đến mức bọt mép sùi ra, bay từng miếng từ đôi hàm đang nghiến kèn kẹt: mắt mụ lồi hẳn ra ngoài như muốn rơi. Cả cơ thể mụ đang rung lên dữ dội. Bỗng mụ đứng lặng tại chỗ, dướn người về phía trước như con chó săn đang cố đánh hơi tìm mồi. Sau đó mụ chìa chiếc gậy về phía trước và bắt đầu bò lại gần các chiến binh đang đứng trước mặt.
Chúng tôi có cảm giác như mụ càng bò đến gần tinh thần của họ càng lung lay, và vô tình họ đã lùi về phía sau. Còn chúng tôi thì theo dõi các động tác của mụ mà toàn thân như tê dại vì hoảng sợ. Cuối cùng vẫn bò bằng bốn tay chân, mụ đã đến ngay trước mặt các chiến binh một lần nữa, và dừng lại ngồi chồm hỗm như con chó, rồi bò thêm hai bước về phía trước.
Phần kết xảy ra rất nhanh chóng. Mụ rú lên một tiếng rồi chồm dậy chìa chiếc gậy hai càng của mình vào một chiến binh cao lớn. Ngay lập tức hai người đứng bên liền túm lấy tay con người sẽ phải chết này và dẫn anh ta đi về phía Tuala.
Anh ta không chống cự, nhưng chúng tôi nhìn thấy rõ anh ta lê chân một cách khó nhọc như bị tê dại còn các ngón tay của anh ta thì trở nên cứng đờ như ngón tay người chết, làm rơi chiếc giáo xuống đất.
Trong khi anh ta bị dẫn đi, hai trong số những tên đao phủ đáng kinh tởm bước ra. Khi gặp con mồi chúng quay về vua, chờ đợi.
- Giết! - Vua nói.
- Giết! - Gagula kêu ré lên.
- Giết! - Xcraga họa theo với nụ cười sung sướng.
Cả ba tiếng ấy vừa mới vang lên, cái việc khủng khiếp phải xảy ra đã xảy ra. Một trong hai tên đao phủ đã đâm ngọn giáo vào tim con mồi, còn tên thứ hai thì giơ chiếc gậy khổng lồ của mình đập vỡ sọ anh ta, để tin chắc là đã chết hẳn.
- Một! Vua Tuala bắt đầu đếm.
Xác của anh ta bị kéo đi mấy bước rồi vứt ra ngoài.
Liền sau đó, một người bất hạnh khác lại được dẫn đến, như con bò được dẫn đến lò mổ. Lần này, cứ theo chiếc áo khoác da báo mà đoán thì đó là một người quan trọng. Lại một lần nữa lại vang lên ba tiếng kinh khủng và con mồi lại ngã xuống chết.
- Hai! - Tuala lại đếm.
Cứ thế trò chơi đẫm máu này tiếp tục cho đến khi gần một trăm xác chết được chất đống sau lưng chúng tôi. Tôi chỉ được nghe về những cuộc đấu kiếm của nô lệ dưới thời các vua La Mã và về những trận đấu bò ở Tây Ban Nha, nhưng tôi có thể dám nói chắc rằng tất cả những cái ấy nhiều lắm cũng chỉ đáng sợ bằng một nửa so với trò săn giết phù thủy này của người Cucuan. Ít ra thì đấu kiếm nô lệ và đấu bò Tây Ban Nha còn mang lại một ít vui vẻ cho người xem cái mà tất nhiên ở đây hoàn toàn không có. Ngay cả những người thích ấn tượng mạnh có lẽ cũng cố để không phải tham gia trò chơi này, nhất là khi biết rằng anh ta rất có thể là nạn nhân của nó.
Một lần, không kìm nổi, chúng tôi đã đứng dậy định phản đối nhưng Tuala đã cương quyết ngăn lại.
- Cứ để thần công liù làm việc, hỡi những người da trắng. Chúng là những con chó tội lỗi, những tên phù thủy, và việc giết chúng là hợp lẽ phải. - Đó là câu trả lời duy nhất mà Tuala đã ban cho chúng tôi.
Đến gần mười giờ rưỡi thì tạm nghỉ. Những mụ già săn phù thủy tập hợp với nhau một chỗ, chắc thấm mệt vì trò chơi đẫm máu của mình, và chúng tôi đã nghĩ có lẽ đến đây cuộc vui sẽ chấm dứt. Nhưng không. Chúng tôi vô cùng ngạc nhiên thấy Gagula bỗng chồm dậy từ chỗ trước đấy vẫn ngồi co mình lại. Tay chống gậy, mụ đi ngang bãi trống chỗ chúng tôi đang ngồi.
Mụ già ghê tởm có chiếc đầu như đầu chim kển kển đang còng lưng dưới gánh nặng của vô số tuổi tác ấy là một cảnh tượng kinh khủng, nhất là khi mụ cố lấy sức để cuối cùng chạy ngang dọc từ nơi này sang nơi khác không kém phần hăng hái so với các học trò của mụ. Vừa chạy, mụ vừa lẩm nhẩm hát những câu gì đó, rồi cuối cùng bỗng nhảy bổ vào một người cao to, đứng đầu một đạo quân. Khi tay mụ chạm vào người ông ta, trong hàng ngũ những chiến binh mà chắc ông ta cầm đầu nghe có cái gì như tiếng rên. Nhưng tuy thế vẫn có hai chiến binh của chính đạo quân ấy túm lấy ông ta, dẫn về phía nhà vua. Sau này chúng tôi được biết rằng ông ta là người rất giàu và có ảnh hưởng lớn vì là anh em cùng cha khác mẹ với vua.
Ông ta liền bị giết chết và vua Tuala đếm: một trăm linh ba. Sau đó Gagula lại vừa múa, vừa tiến lại gần chúng tôi.
- Cứ để người ta treo cổ tôi lên, nếu tôi nhầm rằng chính mụ đang muốn chơi cái trò này với cả chúng ta Huđơ hoảng sợ kêu lên.
- Nhảm nhí! Không thể thế được - Henry nói.
Còn tôi thì phải nói rằng khi thấy mụ lại gần, sống lưng của tôi lạnh toát. Đưa mắt nhìn những chồng xác bên cạnh, tôi run hẳn lên vì kinh sợ.
Trong khi đó thì Gagula cứ xích lại gần hơn, gần hơn, xoay tít, hệt như một chiếc gậy biết múa. Hàng vạn cặp mắt dõi theo mụ một cách căng thẳng. Cuối cùng mụ dừng lại.
- Mụ sẽ chọn ai đây trong số bọn ta? - Henry nói như thể tự hỏi mình.
Chỉ một giây sau, mọi nghi ngờ đều chấm dứt - Mụ già vươn tay chạm vào vai Ambov, hay gọi là Icnôzi cũng thế.
- Ta đã đánh hơi thấy nó, - mụ kêu to - Hãy giết nó đi! Giết đi, nó chính là sự độc ác. Hãy giết tên lạ mặt này đi, trước khi máu phải chảy thành sông vì nó. Ôi thưa vua, hãy giết nó đi!
Tiếp đến là một sự im lặng ngắn. Tôi vội chớp lấy cơ hội để nói:
- Thưa Vua. - Tôi đứng dậy kêu to, - người này là thằng hầu, là con chó của khách nhà vua. Nếu máu nó chảy nghĩa là máu của chúng tôi chảy. Tôi xin vua hãy vì luật hiếu khách thiêng liêng mà tha cho hắn.
- Gagula, mẹ của tất cả những người săn phù thủy, đã đánh hơi thấy hắn, vì vậy hắn phải chết, hỡi những người da trắng, - Tuala giận dữ nói.
- Không, hắn không thể chết.- Tôi đáp - Ai dám động đến hắn, người ấy sẽ chết!
- Bắt ngay thằng kia! - Tuala cất giọng vang như sấm quát bọn đao phủ đang đứng xung quanh từ đầu đến chân lấm đầy máu.
Chúng định bước về phía chúng tôi, nhưng bỗng dừng lại. Còn Icnôzi thì giơ cao ngọn giáo, rõ ràng là anh ta định bắt phải trả giá đắt cho cái chết của mình.
- Quay lại ngay, đồ chó đẻ, nếu chúng mày muốn sống đến ngày mai.- Tôi quát - Cứ khẽ động vào dù chỉ một sợi tóc của hắn thì ngay lập tức vua của chúng mày sẽ chết! - Rồi tôi hướng nòng súng lục về phía Tuala.
Henry và Huđơ cũng vội rút súng ra. Henry ngắm vào tên đao phủ chủ yếu vừa bước về phía trước một bước định thi hành bản án. Còn Huđơ thì ngắm rất chính xác vào Gagula.
Tuala khẽ rùng mình khi thấy tôi chĩa súng vào bộ ngực rộng lớn của hắn.
- Thế nào, - tôi hỏi - ông định thế nào, Tuala?
Lúc ấy hắn bèn đáp:
- Hãy cất những chiếc ống thần của các ông đi. Các ông yêu cầu tôi vì sự mến khách, tôi tha cho hắn, chứ không phải vì sợ các ông trả thù. Các ông đi đi.
-Được, - tôi bình tĩnh nói - chúng tôi đã mệt vì thấy quá nhiều máu chảy, và bây giờ muốn nghỉ. Cuộc vui xong rồi chứ?
-Xong rồi, - Tuala buồn bã đáp, rồi chỉ vào đống thây người, nói thêm: - Còn những con chó chết này thì hãy vứt đi cho linh cẩu và chim kển kển ăn! Tuala giơ cao ngọn giáo.
Lập tức các đạo quân lặng lẽ nối đuôi nhau đi ra. Chỉ còn lại một số chắc là nhận được lệnh ở lại thu dọn xác của những con mồi bất hạnh.
Sau đó chúng tôi cũng đứng dậy, chào từ biệt đức vua - nhưng thật đáng tiếc đức vua không thật chú ý nghe chúng tôi lắm - rồi quay về nhà của mình.
Bước vào nhà, việc đầu tiên chúng tôi làm là thắp sáng ngọn đèn mà người Cucuan vẫn thường dùng. Bấc đèn được làm bằng sợi của một thứ cọ nào đó, còn dầu là mỡ hà mã được lọc sạch.
- Các ông biết không - Henry nói khi chúng tôi đã ngồi xuống. Quả thật là tôi suýt buồn nôn.
-Nếu trước đó tôi còn đôi chút lưỡng lự trong việc giúp Ambov nổi dậy chống lại tên vua độc ác kinh tởm kia. Huđơ nói - thì bây giờ tôi chẳng còn gì để do dự nữa. Vừa rồi vất vả lắm tôi mới ngồi yên được để quan sát sự chém giết ấy. Tôi đã cố nhắm mắt, nhưng như để chọc tức tôi, đôi mắt tôi lại thường mở đúng vào những lúc cần phải nhắm. À, mà lúc này Inphadux đang ở đâu nhỉ? Này Ambov, anh bạn của tôi, anh phải cảm ơn chúng tôi đấy, vì suýt nữa thì chúng đã lột da anh.
- Tôi rất biết ơn các ông, Buguam, - Ambov đáp khi tôi dịch lời Huđơ cho anh ta nghe - và tôi sẽ không bao giờ quên điều đó. Còn Inphadux thì sắp đến đấy. Ta sẽ chờ ông ta.
Chúng tôi châm tẩu hút và ngồi chờ.
lặng.
thiensu96 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn  
Trả Lời Với Trích Dẫn
Trả lời

Ðiều Chỉnh

Chuyển đến


Bây giờ là 08:46 PM. Theo múi giờ GMT +7.