Closed Thread
Ðiều Chỉnh
Unread 23-04-2012, 01:04 AM   #1
Default tín ngưỡng thờ mẫu. nét văn hóa đặc sắc Việt Nam

Việt Nam là 1 quốc gia có nền văn hóa, tín ngưỡng đa dạng, phong phú và độc đáo. Trong các tín ngưỡng truyền thống thể hiện bản sắc của văn hóa Việt Nam thì tín ngưỡng thờ Mẫu là 1 trong các tín ngưỡng nổi bật đặc sắc và giữ 1 vị trí quan trọng trong văn hóa Việt Nam. Là 1 quốc gia có nền văn hóa nông nghiệp, âm tính, coi trọng sự sinh sôi nảy nở tín ngưỡng thờ Mẫu càng thể hiện vai trò quan trọng, nó đã trở thành 1 tín ngưỡng điển hình trong văn hóa Việt Nam.
1. Định nghĩa về tín ngưỡng thờ mẫu.
Tín ngưỡng thờ mẫu là sự tin tưởng, ngưỡng mộ, tôn vinh và thờ phụng những vị nữ thần gắn với các hiện tượng tự nhiên, vũ trụ được người đời cho rằng có chức năng sáng tạo, bảo trợ và che chở cho sự sống của con người (như: trời, đất, sông nước, rừng núi..): thờ những thái hậu, hoàng hậu, công chúa là những người khi sống tài giỏi, có công với dân, với nước, khi mất hiển linh phù trợ cho người dân, “giúp đỡ” cho đất nước.
Từ định nghĩa trên ta có thể thấy sự độc đáo trong tín ngưỡng thờ Mẫu. Ít có nơi đâu mà các nữ thần được tôn vinh và giữ “vị trí” quan trọng trong người dân như ở Việt Nam. Ở các hệ thống thần thoại Trung Quốc hay Hi Lạp. Ta có thể thấy bóng dáng của các nữ thần quyền uy. Tuy nhiên họ chỉ là nhân vật phụ, chỉ là công cụ để các nam thần lập uy, thể hiện sức mạnh.
2. Các hình thức của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam
2.1. Hệ thống Tam Phủ, Tứ Phủ

- Tam Phủ là hệ thống thờ 3 Mẫu là Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn và Mẫu Thoải ( cách đọc chệch của Thủy). Ba vị này lần lượt tượng trưng cho 3 yếu tố: trời, đất và nước. Theo truyền thuyết thì sự tích về các Mẫu trong Tam Phủ là.
+Mẫu Thượng Thiên (còn gọi là Mẫu đệ nhất) cai quản bầu trời. Mẫu Liễu Hạnh được coi là hóa thân của Mẫu Thượng Thiên. Bà còn được tôn vinh trong hệ thống tứ bất tử. Mẫu Liễu Hạnh còn được thờ trong một tín ngưỡng riêng gọi là Tam Tòa Thánh Mẫu. Đời thứ nhất Mẫu giáng sinh tại thôn Quảng Nạp xã Vỉ Nhuế huyện Thái An phủ Nghĩa Hưng trấn Sơn Nam trong nhà thái ông họ Phạm hiệu là Huyền Viên, thái bà hiệu là Thuần hai người cùng một quê. Ở đời này mẫu cũng luôn giữ chữ Trinh hiếu thảo thờ phụng cha mẹ, sau trở về chốn linh tiêu, mẫu tại thế từ năm Giáp Dần niên hiệu Thiệu Bình nguyên niên (1434) cho tới năm Quí Tỵ niên hiệu Hồng Đức thứ 4 (1473). Đời thứ hai của mẫu giáng sinh vào nhà thái công họ Lê tại xã Vân Cát huyện Vụ Bản phủ Nghĩa Hưng, thái công họ Lê tên húy là Đức Chinh. Tới tuổi trưởng thành được gả cho Trần Đào Lang ở thôn An Thái (sau đổi là Tiên Hương), sinh được một con trai tên là Nhâm. Ở kiếp này mẫu tại thế từ năm Đinh Tỵ niên hiệu Thiên Hựu nguyên niên (1555) cho tới năm Đinh Sửu niên hiệu Gia Thái thứ 5 (1577). Đời thứ ba của mẫu giáng sinh tại xã Tây Mỗ huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa, lấy chồng họ Mai (là tái hợp với hậu thân của Đào Lang), sinh được một con trai tên là Cổn, được hơn một năm mẫu quay gót trở về đế hương. Sau Ngọc hoàng chuẩn cho mẫu được trắc giáng xuống cõi trần thường xuyên tiêu dao khắp nơi, được miễn vòng sinh tử luân hồi
+ Mẫu Thượng Ngàn (còn gọi là Mẫu Đệ Nhị) cai quản miền rừng núi.
Mẫu Thượng Ngàn gắn bó với con người cùng cỏ, cây, chim, thú. Đền thờ Mẫu Thượng Ngàn có ở nhiều nơi, nhưng có hai nơi thờ phụng chính là Suối Mỡ (Bắc Giang) và Bắc Lệ (Lạng Sơn).
Theo truyền thuyết, bà nguyên là La Bình công chúa, con của Sơn Tinh. Nàng thường theo cha đi khắp các núi non hang động. Đi đến đâu nàng cũng quyến luyến với phong cảnh, làm bạn với hươu nai, cây cỏ. Các vị Sơn thần ở các núi non đều quý mến nàng và thường được nàng bảo ban giúp đỡ.
Thượng đế hay tin như vậy rất khen ngợi Tản Viên và Mị Nương, rồi phong cho La Bình làm Thượng ngàn công chúa, cai quản tất cả 81 cửa rừng cõi Nam Giao.
+ Mẫu Thoải
Bà Mẫu Thoải (Thoải là đọc tranh chữ Thủy mà ra) tức là bà mẹ Nước. Sự tích của bà đến nay chưa được rõ ràng, vì mỗi nơi hiểu theo một cách. Có thuyết nói bà là một vị thần lưỡng tính, cả nam cả nữ, có tên là Nhữ Nương. Tuy là đực cái chung nhau bóng âm tính nặng hơn, nên bà được kết hôn với vị vua dưới nước là Thủy Tề. Thượng đế phong cho bà làm Như Nương Nam Nữ Nam Hải Đại Vương. Nơi chính được hân hạnh thờ bà làm thành hoàng là làng Viêm Xá, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
Có thuyết lại nói mẫu Thoải không phải là một bà mà chính là nhiều bà. Các bà đều là con của Lạc Long Quân. Trong số con cái sinh ra, Lạc Long Quân đã chọn ba người giao cho việc quản lĩnh sông biển nước Nam, đóng dinh cơ ở sông Nguyệt Đức. Một bà có hiệu là Thủy tinh động đình Ngọc nữ công chúa. Bà thứ hai có hiệu là Hoàng Bà đoan khiết phu nhân, và bà thứ ba là Tam giang công chúa
Công việc của các bà là coi sóc các sông biển, làm mưa và chống lụt giúp nhân dân. Những năm hạn hán, nhân dân cầu đảo là viện đến sự phù hộ của các bà. Các bà có nhiều bộ hạ, giao cho mỗi người trấn thủ một nơi. Như ở Thăng Long, tướng tá của các nữ thần đều chia nhau ở các làng Nhật Chiêu, Quảng Bố, Tây Hồ, Yên Phụ. Đời Lê Vĩnh Thọ có lần thuỷ quái gây loạn, dâng cao nước sông Nhị đã tràn vào Yên Phụ, sau phải cầu đến các mẫu Thoải mới khỏi được nạn lũ lụt.
- Tứ Phủ là hệ thống dựa trên Tam phủ nhưng lại có sụ bổ xung thêm 1 phủ thứ tư. Có nhiều quan điểm cho rằng Phủ thứ 4 là Nhân phủ của Mẫu Liễu Hạnh, cũng có người cho rằng Liễu Hạnh đại diện cho Mẫu Thượng Thiên nên phủ thứ 4 là của Địa mẫu. Địa Mẫu cai quản đất đai và sự sinh sôi của các sinh vật.
=> Hệ thống Tam Phủ, Tứ Phủ đã khẳng định quyền năng của các nữ thần. Do ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa mà Ngọc Hoàng, Thổ Công, Hà Bá ( các nam thần) xuất hiện, tuy nhiên trong văn hóa của người Việt Nam thì hệ thống Tam Phủ, Tứ phủ không hề mất đi, nó vẫn song song tồn tại và chiếm được tín ngưỡng của đa số người dân Việt Nam.

2.2. Hệ Thống Tứ Pháp
Phật giáo đã du nhập vào nước ta từ sớm và đã có ảnh hưởng lớn đến đời sống văn hóa, tín ngưỡng của nhân dân ta trong 1 thời gian dài. Tuy nhiên, khi du nhập vào Việt Nam. Tín ngưỡng thờ Mẫu đã ảnh hưởng đến Phật giáo và hình thành hệ thống Tứ Pháp ( Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện) đây là 1 hệ thống mà chỉ Phật giáo Viên Nam mới có. Nó được coi là sự kết hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu.
Chuyện kể rằng ở vùng Thuận Thành, Bắc Ninh, có cô gái 12 tuổi Man Nương đến chùa Phúc Nghiêm học đạo. Trụ trì chùa này là một nhà sư người Ấn Độ tên là Khâu-đà-la. Một hôm, nhà sư tình cờ bước qua người Man Nương lúc nàng nằm ngủ, và nàng thụ thai một cách thần kỳ. Sau 14 tháng, nàng Man Nương sinh hạ một bé gái, đứa bé được nhà sư Khâu-đà-la dùng phép chú đưa vào cây Dung Thụ già. Sau đó, nhà sư trao cho Man Nương một cây gậy thần có thể làm mưa cứu hạn hán cho dân làng. Khi Man Nương 80 tuổi, cây đổ trôi về bến sông Dâu thì không trôi nữa. Thái thú Sĩ Nhiếp nằm mộng phải tạc tượng Phật từ cây Dung Thụ đó nhưng bằng cách nào cũng không kéo được cây lên bờ, chỉ khi có dải yếm của Man Nương kéo vào bờ thì mới kéo cây lên được. Cây Dung Thụ được tạc thành 4 pho tượng Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện mang vào chùa thờ tự. Trong thân cây, con của Man Nương đã hóa thành đá và được gọi là “Thạch Quang Phật”, hiện được thờ tại chùa Dâu. Man Nương mất vào ngày mồng tám tháng tư, cũng chính là ngày đản sinh của thái tử Tất-đạt-đa (theo truyền thống xưa của Phật giáo). Sau khi mất, bà được người đời xưng tụng là Phật Mẫu Man Nương.

- Pháp Vân (nữ thần mây) được thờ ở chùa Bà Dâu
- Pháp Vũ ( nữ thần mưa) thờ ở chùa Bà Đậu
- Pháp Lôi ( nữ thần sấm) thờ ở chùa Bà Tướng
- Pháp Điện ( nữ thần chớp) thờ ở chùa bà Dàn.
=> Hệ thống Tứ Pháp được nhân dân ta tin tưởng đến mức vào thời Lí, nhiều lần triều đình phải rước tượng nữ thần Pháp Vân về cầu đảo và thâm chí còn mang theo quân đội đi đánh giặc để củng cố sĩ khí.



2.3. Tín ngưỡng thờ các nữ anh hùng, các “bà chúa”
Trong lịch sử nước ta, có không ít các nữ anh hùng đã có công lao to lớn với đất nước. Và để tưởng nhớ nhân dân ta đã lập các đền thờ để đời sau mãi không quên công ơn của các bà. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ Mẫu mà 1 số đền thờ dần “ biến tướng” không chỉ đơn thuần là nơi tưởng niệm các bà mà còn là nơi để cầu may, cầu tiền tài……
- Một ví dụ điển hình là đền ‘Bà Chúa Kho”. Đền Bà chúa kho là nơi nơi tưởng niệm một người phụ nữ đã khéo tổ chức sản xuất, tích trữ lương thực, trông nom kho tàng quốc gia trong thời kỳ trước và sau chiến thắng Như Nguyệt. Vào đời nhà Lý, Bà có công giúp triều đình trông coi kho lương thực tại Núi Kho (tỉnh Bắc Ninh) và đã hi sinh trong cuộc kháng chiến chống quân Tống vào ngày 12 tháng giêng năm 1077 .Nhà vua thương tiếc phong cho Bà là Phúc Thần. Người dân nhớ thương Bà lập nên đền thờ tại kho lương thực cũ của triều đình ở Núi Kho và gọi Bà với một niềm tôn kính là: Bà Chúa Kho.
Bà Chúa Kho xuất thân từ một gia đình nghèo khó ở làng Quả Cảm gần đó. Sau khi lấy vua Lý, thấy ruộng đất ở đây bị hoang hoá, bà xin vua cho về làng chiêu dân lập ấp, khai khẩn ruộng hoang. Không ai biết tên bà, khi bà qua đời, nhân dân lập đền thờ để ghi lại công ơn bà là đã hết lòng chăm lo cho dân ấm no, trông coi các kho tàng của Nhà nước. Công lao của bà đã được triều đại phong kiến ghi nhận qua việc sắc phong đền thờ bà là "Chủ khổ linh từ" (Đền thiêng thờ bà Chúa Kho). Ở thôn Cổ Mễ còn một ngôi đình và ngôi chùa cổ. Chùa Cổ Mễ có từ lâu đời. Ngày nay trong chùa còn ba pho tượng đá khá đẹp mang rõ phong cách điêu khắc thời Mạc.
Ngoài ra còn có vô số đền thờ các nữ anh hùng được coi như thần thánh: như đền Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Bà Tấm ( Nguyên Phi Ỷ Lan) ….
3. Đặc điểm của tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt
- Việc tôn thờ Đạo Mẫu Việt Nam trên cả phương diện đồng đại và lịch đại. Về phương diện lịch đại, Đạo Mẫu Việt Nam được hình thành và phát triển trên cái nền thờ Nữ thần và Mẫu thần bản địa, rồi tiếp thu những ảnh hưởng của Đạo giáo Trung Hoa để đạt đến đỉnh cao là đạo thờ Mẫu Tam phủ Tứ phủ. Tới thế kỷ 17-18, khi mẫu Tam phủ Tứ phủ đã được hình thành và phát triển thì nó lại Tam phủ, Tứ phủ hóa tục thờ Nữ thần, Mẫu thần
+ Thực tế của hệ thống Tam Phủ, Tứ Phủ là sự kết hợp giữa các truyền thuyết của Việt Nam cộng với các tác nhân bên ngoài như kết hợp với Đạo giáo ở hệ thống Tam Phủ, Tứ Phủ, kết hợp với ảnh hưởng của Phật giáo để xây dựng hệ thống Tứ Pháp.
+ Do là sự kết hợp của nhiều yếu tố nên tín ngưỡng thờ Mẫu có 1 số “dị bản” về sự tích của các nữ thần. Đôi khi không có sự thống nhất.
- Tín ngưỡng thờ mẫu có sự khác biệt trong các vùng văn hóa lớn khác nhau trên đất nước.
+ Ở Bắc Bộ, các nữ thần, các mẫu được thờ đều bắt nguồn từ tục thờ nữ thần có nguồn gốc xa xưa từ thời tiền sử, tới thời phong kiến một số nữ thần đã được cung đình hoá và lịch sử hoá để thành các Mẫu thần tương ứng thời kỷ từ thế kỷ 15 trở về trước với việc phong thần của nhà nước phong kiến, hình thức thờ Mẫu thần với các danh xưng như Quốc Mẫu, Vương Mẫu, Thánh Mẫu như hiện tượng thờ Ỷ Lan nguyên phi, Mẹ Thánh Gióng, Tứ vị Thánh nương. Từ khoảng thế kỷ 15 trở đi, hình thức thờ mẫu Tam phủ, Tứ phủ được định hình và phát triển mạnh, đây cũng là thời kỳ xuất hiện Thánh Mẫu Liễu Hạnh với các nghi thức ảnh hưởng từ Đạo giáo.
+ Trong khi đó ở Trung Bộ, đặc biệt là vùng Nam Trung Bộ ít chịu ảnh hưởng của văn hóa Bắc Bộ thì các mẫu, các nữ thần không có sự hiện diện của mẫu Tam phủ, Tứ phủ mà chỉ có hình thức thờ Nữ thần và Mẫu thần. Văn hóa Ấn Độ thể hiện rõ nét qua hình thức thờ Nữ thần như thờ Bà Ngũ Hành và hình thức thờ Mẫu thần như thờ Thiên Y A Na, Po Inư Nưgar
+ Nam Bộ là vùng đất mới được khai phá nên sự phân biệt giữa hình thức thờ Nữ thần và Mẫu thần ít rõ rệt hơn, hiện tượng này được giải thích với nguyên nhân Nam Bộ là vùng đất mới của người Việt, khi di cư vào đây họ vừa mang các truyền thống tín ngưỡng cũ lại vừa tiếp nhận những giao lưu ảnh hưởng của cư dân sinh sống từ trước tạo nên bức tranh không chỉ đa dạng trong văn hoá mà còn cả trong tín ngưỡng.
- Tín ngưỡng thờ Mẫu của Việt Nam chưa từng bị ngăn cấm dù trong thời kì Phong kiến trọng nam khinh nữ, các nữ thần vẫn được tôn thờ. Và việc hình thành 1 hệ thống thờ Mẫu trong các thế kỉ XV đến XVIII đã cho thấy đạo Mẫu là nơi người phụ nữ Việt Nam thời phong kiến gửi gắm ước mơ về 1 xã hội bình quyền.

=> Qua các đặc điểm trên ta có cái nhìn đa chiều hơn về tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam. Từ đó ta có thể khẳng định tín ngưỡng thờ Mẫu ở nước ta là 1 tín ngưỡng bản địa, truyền thống nhưng có sự giao thoa, tiếp thu của các tôn giáo, tín ngưỡng, nền văn hóa khác. Chính điểm này đã tạo ra nét đặc sắc trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt Nam.
_kiem_ vẫn chưa có mặt trong diễn đàn