Closed Thread
Ðiều Chỉnh
Unread 15-09-2008, 11:43 PM   #1
Default Tư liệu biển , đảo Việt Nam và các vấn đề có liên quan

<FONT face=Arial><B>I. Kết quả phân định và nội dung Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ

1. Các nội dung và yếu tố liên quan đến phân định
a) Các nội dung phân định:
- Phân định lãnh hải của hai nước;
- Phân định vùng đặc quyền kinh tế;
- Phân định thềm lục địa
b) Các yếu tố liên quan:
- Quyết tâm chính trị của hai nước giải quyết vấn đề phân định vịnh Bắc Bộ: Nhận thức chung của Lãnh đạo cấp cao hai nước là giải quyết xong vấn đề phân định vịnh Bắc Bộ trong năm 2000 (thoả thuận trong các chuyến đi thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Đỗ Mười năm 1997 và Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu năm 1999).
- Vấn đề phân định vịnh Bắc Bộ, dù thoả thuận như thế nào cũng phải bảo đảm nguyên tắc công bằng, phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế, đặc biệt là Công ước Luật biển năm 1982.
- Điều kiện cụ thể và hoàn cảnh khách quan của vịnh Bắc Bộ, trong đó chủ yếu là điều kiện địa lý tự nhiên.
- Các lợi ích thực chất gắn với nội dung phân định như: diện tích vùng biển phân định được hưởng (hoặc vấn đề lãnh thổ đảo, nếu có); quyền chủ quyền đối với tài nguyên dầu khí, hải sản; chế độ đi lại trên biển và sông biên giới.
- Đồng thời, giải pháp phân định cần đạt được trên cơ sở thông cảm nhân nhượng lẫn nhau, công bằng và hợp tình, hợp lý.
c) Quan điểm và lập trường chính của mỗi bên
Trong quá trình đàm phán, hai bên tập trung giải quyết một số vấn đề cơ bản như sau:
* Về tỷ lệ phân chia diện tích tổng thể vịnh Bắc Bộ:
- Quan điểm cơ bản của phía Trung Quốc là, do điều kiện "địa lý chính trị" của vịnh Bắc Bộ giữa hai nước là đại để đối đẳng nên kết quả phân chia diện tích vịnh giữa hai nước phải "đại thể bằng nhau", phía Việt Nam có thể hơn một ít nhưng chênh lệch không nhiều. "Đại để bằng nhau" chính là kết quả phân định" công bằng.
Để bảo đảm yêu cầu này, phía Trung Quốc sử dụng phương pháp phân định tổng hợp, trong đó có chỗ sử dụng điểm và đoạn trung tuyến bờ - bờ để thể hiện đường phương án phân định của mình

thay đổi nội dung bởi: fantasy87, 15-09-2008 lúc 11:58 PM. Lý do: Lỗi font
fantasy87 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn  
Unread 15-09-2008, 11:59 PM   #2
Default

- Quan điểm của Việt
Ta đề nghị dùng phương pháp đường trung tuyến, là phương pháp phổ biến trong thực tiễn quốc tế, có tính đến hiệu lực của tất cả các đảo, đặc biệt là đảo Bạch Long Vĩ, có sự điều chỉnh cần thiết theo hiệu lực pháp lý và sự quan tâm của mỗi bên.
- Vùng chồng lấn ban đầu của hai bên chiếm khoảng 13% diện tích Vịnh.
* Hiệu lực của đảo, trong đó có đảo Bạch Long Vĩ:
- Phía Trung Quốc không muốn các đảo Việt Nam có hiệu lực trong phân định, đảo Bạch Long Vĩ chỉ có vành đai lãnh hải 12 hải lý (vì mục đích này, họ cũng không cho các đảo của họ có hiệu lực, trừ Hải Nam được coi là lục địa).
Đối với đảo Bạch Long Vĩ, phía Trung Quốc thừa nhận chủ quyền của Việt Nam đối với đảo Bạch Long Vĩ nhưng cho rằng nếu cho đảo có hiệu lực, sẽ làm đường phân định đi lệch quá nhiều về phía Trung Quốc, dẫn đến kết quả không công bằng.
- Phía Việt Nam muốn các đảo Việt Nam có hiệu lực trong phân định. Tuy nhiên, căn cứ vào thực tiễn quốc tế, Việt Nam đề nghị đảo Bạch Long Vĩ của Việt Nam nhất thiết phải có hiệu lực nhất định trong phân định, việc xem xét hiệu lực của đảo phải căn cứ vào Công ước 1982 và thực tiễn quốc tế nhằm bảo đảm giải pháp phân định công bằng.
* Về đường đóng cửa Vịnh:
- Căn cứ vào hiệu lực pháp lý của đảo, ta đề nghị đường đóng cửa Vịnh là đường thẳng nối đảo Cồn Cỏ (Việt Nam và Mũi Oanh Ca (Trung Quốc). Trên cơ sỏ đó xác định điểm biên giới ở cửa Vịnh.
- Phía Trung Quốc đề nghị không tính đảo Cồn Cỏ vào phạm vi Vịnh mà lấy đường thẳng nối Mũi Lay (Việt Nam) với Mũi Oanh Ca (Trung Quốc).
- Hai bên có sự khác nhau khoảng 13 hải lý.
* Về nghề cá:
- Việt Nam đề nghị hai bên phân định rạch ròi ranh giới vùng đặc quyền kinh tế giữa hai nước trong Vịnh, trên cơ sở đó giải quyết tiếp vấn đề hợp tác nghề cá. Vấn đề đánh cá là vấn đề thuộc lĩnh vực kinh tế - kỹ thuật, phụ thuộc nhiều vào yếu tố tài nguyên, môi trường nên không thể gắn vào Hiệp định phân định là vấn đề lâu dài về biên giới.
- Phía Trung Quốc nêu nguồn tài nguyên sinh vật trong vịnh Bắc Bộ là chung, có tính chuyển dịch, không thể chia cắt. Từ lâu ngư dân hai nước đều cùng đánh bắt trong Vịnh. Vịnh Bắc Bộ là ngư trường đánh cá truyền thống của cả ngư dân hai nước. Khi phân định cần bảo đảm "quyền đánh cá truyền thống" của ngư dân Trung Quốc trong vùng đánh cá truyền thống ở Vịnh. Nếu không bảo đảm quyền đánh cá của ngư dân Trung Quốc thì sẽ không thể phân định. Vấn đề quyền đánh cá liên quan trực tiếp đến sự sinh sống của nhiều ngư dân Trung Quốc. Trong quá khứ, hai bên đã ký các Hiệp định hợp tác đánh cá. Phía Trung Quốc muốn đưa vấn đề nghề cá vào trong Hiệp định phân định.
* Vấn đề Tổng đồ phân định vịnh Bắc Bộ và bản đồ chuyên đề cửa sông Bắc Luân:
- Để có thể xác định đường phương án phân định, hai bên phải thống nhất một bản đồ chung. Hai bên không đồng ý sử dụng bản đồ nước thứ ba cũng như bản đồ đơn phương của mỗi bên nên đã đồng ý cùng nhau thiết lập một bản đồ chung. Vấn đề nổi lên trong việc thành lập bản đồ chung là phương pháp thiết lập bao gồm đo sâu, bay chụp và đo khống chế mặt đất và vấn đề thể hiện đường bờ biển trên tổng đồ.
- Hai bên thống nhất lập tổng đồ vịnh Bắc Bộ phục vụ phân định tỷ lệ 1/500.000 theo phương pháp bay chụp và đo khống chế mặt đất, thể hiện đồng thời hai đường bờ thấp và cao trên tổng đồ.
- Để xác định điểm cơ sở cuối cùng của mỗi bên tại ngấn nước triều thấp nhất, đường đóng cửa sông và phân biệt vùng cửa sông thuộc biên giới trên bộ và vùng cửa sông thuộc phân định vịnh Bắc Bộ và địa hình cụ thể của khu vực cửa sông biên giới phục vụ phân định, hai bên đồng ý cùng đo đạc và lập bản đồ chuyên đề khu vực cửa sông Bắc Luân tỷ lệ 1/10.000.
fantasy87 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn  
Unread 16-09-2008, 12:00 AM   #3
Default

2. Kết quả đàm phán và nội dung Hiệp định phân định
Căn cứ vào Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982, các nguyên tắc luật pháp và thực tiễn quốc tế được công nhận rộng rãi, trên cơ sở suy xét đầy đủ mọi hoàn cảnh hữu quan trong vịnh Bắc Bộ, theo nguyên tắc công bằng, qua thương lượng hữu nghị, hai bên đã đi đến ký kết Hiệp định phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa hai nước bao gồm 11 điều khoản với các nội dung cụ thể như sau:
(1) Hai bên khẳng định các nguyên tắc chỉ đạo công tác phân định là tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi, cùng tồn tại hoà bình; củng cố và phát triển mối quan hệ láng giềng hữu nghị truyền thống giữa hai nước, giữ gìn sự ổn định và thúc đẩy sự phát triển của vịnh Bắc Bộ; thông cảm, nhân nhượng lẫn nhau, hiệp thương hữu nghị, giải quyết một cách công bằng hợp lý.
(2) Hai bên xác định phạm vi phân định vịnh Bắc Bộ:
- Trong Hiệp định này, vịnh Bắc Bộ là Vịnh nửa kín được bao bọc ở phía Bắc là bờ biển lãnh thổ đất liền của hai nước Việt Nam và Trung Quốc, phía Đông là bờ biển bán đảo Lôi Châu và đảo Hải Nam của Trung Quốc, phía Tây là bờ biển đất liền Việt Nam và giới hạn phía Nam là đoạn đường thẳng nối liền từ điểm nhô ra nhất của mép ngoài cùng của mũi Oanh Ca, đảo Hải Nam của Trung Quốc có tọa độ địa lý là vĩ tuyến 18030'19'' Bắc, kinh tuyến 108041'17'' Đông, qua đảo Cồn Cỏ đến một điểm trên bờ biển của Việt Nam có tọa độ địa lý là vĩ tuyến 16057'40'' Bắc và kinh tuyến 107008'42'' Đông.
- Đường đóng cửa sông Bắc Luân là đường nối hai điểm nhô ra nhất của cửa sông tự nhiên trên bờ sông hai nước, tại ngấn nước triều thấp nhất;
- Qua đàm phán, phía Trung Quốc đồng ý với đề nghị của ta là đường đóng cửa Vịnh ở phía Nam là đường thẳng nối mũi Oanh Ca (Trung Quốc) qua đảo Cồn Cỏ và cắt thẳng vào một điểm trên bờ biển Việt Nam.
(3) Xác định đường biên giới lãnh hải và ranh giới đơn nhất cho cả vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa hai nước trong vịnh Bắc Bộ:
- Hai bên đồng ý xác định đường phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa hai nước trong vịnh Bắc Bộ bằng 21 điểm có toạ độ địa lý xác định, nối tuần tự với nhau bằng các đoạn thẳng.
- Đường phân định từ điểm số 1 đến điểm số 9 quy định tại Điều II của Hiệp định là biên giới lãnh hải của hai nước trong Vịnh Bắc Bộ. Mặt thẳng đứng đi theo đường biên giới lãnh hải của hai nước phân định vùng trời, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải hai nước.
- Đường phân định từ điểm số 9 đến điểm số 21 là ranh giới giữa vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của hai nước trong vịnh Bắc Bộ.

- Đường biên giới này đi cách đảo Bạch Long Vĩ điểm gần nhất về phía Đông là 15 hải lý, dành cho đảo khoảng 25% hiệu lực. Đảo Cồn Cỏ được tính 50% hiệu lực trong phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Bãi Bạch Tô Nham (Trung Quốc) và các đảo Chàng Đông, Chàng Tây (Việt
fantasy87 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn  
Unread 16-09-2008, 12:03 AM   #4
Default

có hiệu lực nhất định trong phân định lãnh hải.
Theo đường phân định, phía Việt Nam được hưởng 53,23% diện tích vịnh, phía Trung Quốc được 46,77% diện tích, Việt Nam hơn Trung Quốc 6,46% diện tích Vịnh, tức là khoảng 8.205 km2 biển. Căn cứ vào việc áp dụng nguyên tắc công bằng trong phân định và tiến hành đánh giá tính tỷ lệ giữa bờ biển của hai nước (tỷ số là 1,1:1) với tỷ lệ diện tích được hưởng (tỷ số là 1,135:1), có thể nhận thấy rằng đường phân định trong vịnh Bắc Bộ quy định trong hiệp định ký kết giữa hai nước là một kết quả công bằng, phù hợp với hoàn cảnh khách quan của vịnh Bắc Bộ và có thể chấp nhận.
(4) Về chế độ pháp lý:
Hai bên cam kết tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mỗi bên đối với lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong vịnh Bắc Bộ được xác định theo hiệp định.
(5) Về mặt tài nguyên:
Hiệp định quy định rõ trong trường hợp có các cấu tạo mỏ dầu, khí tự nhiên hoặc cấu tạo mỏ khác hoặc tài nguyên khoáng sản khác nằm vắt ngang đường phân định, hai bên ký kết thông qua hiệp thương hữu nghị để đạt được thoả thuận về việc khai thác hữu hiệu nhất các cấu tạo hoặc khoáng sản nói trên cũng như việc phân chia công bằng lợi ích thu được từ việc khai thác.
Hai bên cũng đồng ý tiến hành hiệp thương về việc sử dụng hợp lý và phát triển bền vững tài nguyên sinh vật trong vịnh Bắc Bộ cũng như hợp tác liên quan đến bảo tồn, quản lý và sử dụng tài nguyên sinh vật ở vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa hai nước trong vịnh Bắc Bộ.
(6) Về cơ chế giải quyết tranh chấp. Hai bên cam kết mọi tranh chấp giữa hai bên ký kết liên quan đến việc giải thích và thực hiện hiệp định này sẽ được giải quyết một cách hoà bình, hữu nghị thông qua thương lượng.
Việc phân định vịnh Bắc Bộ hai nước theo hiệp định này không ảnh hưởng hoặc phương hại đến lập trường của mỗi bên đối với quy phạm luật pháp quốc tế về luật biển.
fantasy87 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn  
Unread 16-09-2008, 12:05 AM   #5
Default

II. Kết quả và ý nghĩa của việc ký kết các hiệp định trong vịnh Bắc Bộ giữa Việt
1. Việc ký kết các hiệp định trên được đánh giá là một trong 10 sự kiện nổi bật của Việt Nam trong năm 2000. Trước mắt, hai nước còn phải tiến hành các thủ tục phê chuẩn và trao đổi thư phê chuẩn thì các Hiệp định này mới có hiệu lực.
2. Việc ký kết các hiệp định này mở ra một trang mới trong lịch sử quan hệ Việt Nam - Trung Quốc cũng như trong lịch sử xác định biên giới biển và hợp tác nghề cá trên Biển Đông, là một sự kiện quan trọng đối với nước ta cũng như quan hệ Việt - Trung.
Tuyên bố chung Việt Nam - Trung Quốc ngày 25/12/2000 nhấn mạnh: Việc hai nước ký kết "Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa hai nước Cộng hoà xã hội chủ ngĩa Việt Nam và nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa", "Hiệp định phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong vịnh Bắc Bộ giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa", "Hiệp định hợp tác nghề cá ở vịnh Bắc Bộ giữa Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa" có ý nghĩa lịch sử sâu rộng, sẽ thúc đẩy hơn nữa quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện giữa hai nước phát triển mạnh hơn nữa trong thế kỷ XXI. Hai bên cam kết sẽ nghiêm chỉnh thực hiện các thoả thuận liên quan đã ký kết giữa hai nước, tích cực hợp tác, nỗ lực xây dựng biên giới hai nước thành biên giới hoà bình, hữu nghị.
3. Với việc ký kết Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ, chúng ta đã giải quyết dứt điểm được vấn đề thứ hai trong ba vấn đề biên giới lãnh thổ tồn tại lâu nay với Trung Quốc (biên giới trên bộ, vịnh Bắc Bộ và Biển Đông).
Lần đầu tiên, giữa ta và Trung Quốc đã có một đường biên giới biển rõ ràng bao gồm biên giới lãnh hải, ranh giới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa hai nước trong vịnh Bắc Bộ có giá trị pháp lý quốc tế, được hai bên cùng thoả thuận.
Hiệp định quy định rõ hai bên cam kết tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của mỗi nước đối với các vùng biển và thềm lục địa của mỗi bên căn cứ vào luật pháp quốc tế và nội dung cả Hiệp định.
Nội dung của Hiệp định là một giải pháp và kết quả công bằng, có cơ sở luật pháp và thực tiễn quốc tế, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh khách quan của vịnh Bắc Bộ, đáp ứng một cách hợp tình, hợp lý lợi ích chính đáng của mỗi bên.
4. Các Hiệp định về phân định trong vịnh Bắc Bộ và Hiệp định về hợp tác nghề cá đã các định rõ phạm vi và tạo ra được một khuôn khổ pháp lý quốc tế rõ ràng, thuận lợi cho việc mỗi nước bảo vệ, quản lý, sử dụng, khai thác, phát triển kinh tế các vùng biển và thềm lục địa của mình trong vịnh Bắc Bộ, đồng thời cũng tạo điều kiện cho hai bên có cơ sở thúc đẩy hợp tác nhằm phát triển bền vững vịnh Bắc Bộ, duy trì sự ổn định trong Vịnh, tăng cường sự tin cậy và phát triển quan hệ chung giữa hai nước.
Cùng với việc giải quyết các tranh chấp trên biển khác với các nước láng giềng có liên quan, việc ký kết hai hiệp định này là bước tiến mới trong việc xây dựng môi trường hoà bình, ổn định, hợp tác xung quanh nước ta, tạo điều kiện cho chúng ta tập trung sức lực xây dựng và phát triển đất nước, góp phần tích cực vào việc củng cố hoà bình và ổn định trong khu vực.
5. Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ cũng có những đóng góp trong thực tiễn áp dụng và phát triển luật quốc tế về phân định như vấn đề phân định giữa hai nước có bờ biển vừa đối diện vừa tiếp giáp, vai trò của các đảo, các bãi nửa nổi nửa chìm trong phân định, vấn đề cửa sông biên giới với các địa hình đáy sông, đáy biển, vấn đề cửa vịnh, vấn đề eo biển quốc tế, giá trị của bản đồ trong hiệp ước biên giới... Hiệp định về hợp tác nghề cá cũng là một mô hình có giá trị đối với việc nghiên cứu, giải quyết các vấn đề về nghề cá trong khu vực Biển Đông trong tương lai.
6. Việc ký kết các hiệp định này một lần nữa đã thể hiện chính sách đúng đắn và thiện chí của nước ta sẵn sàng cùng các nước liên quan thông qua thương lượng trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, toàn vẹn lãnh thổ, phù hợp với luật quốc tế và thực tiễn quốc tế, giải quyết các vấn đề về biên giới lãnh thổ, các vùng biển và thềm lục địa có liên quan, phát triển quan hệ hợp tác, hữu nghị với các nước, góp phần giữ gìn hoà bình, ổn định trong khu vực và thế giới.
fantasy87 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn  
Dưới đây là những người đã click Thanks fantasy87 về bài viết hay này:
Unread 16-09-2008, 04:26 PM   #6
Default

thế các anh em thấy vụ chia vịnh bắc bộ này VN có bị thiệt ko
NVHUNG vẫn chưa có mặt trong diễn đàn  
Unread 16-09-2008, 10:22 PM   #7
Default

Nếu đúng theo hiệp định thì TQ phải bàn giao lại cho ta 1 số đảo mà hiện nay TQ đang đồn trú ( chiếm đóng). Ngư dân TQ phải có sự đồng ý của ta mới được phép đánh bắt thủy sản ở vịnh bắc bộ( cái này có thể châp nhận vì trong lịch sử từ xưa đến nay ngư dân TQ và ta vẫn đánh bắt chung trong vịnh). Còn việc TQ đề nghị chia đôi nguồn khai thác dầu khí thì ta giữ vững lập trường " hồn ai nấy giữ, của ai nấy xài". Chính vì vậy mà hiện nay TQ còn dang phản đối và không thực hiện 1 số mục trong hiệp định( đập đầu bọn nó) . Vì thế mà vẫn luôn xảy ra những tranh chấp thậm chí là giao tranh giữa ta và TQ( không đc công bố chính thức, chỉ có 1 số tài liệu lưu hành nội bộ trong hải quân và 1 số cục, ban , ngành )
Tôi sẽ post tiếp 1 số bài nữa về vịnh Thái Lan, và các tranh chấp khác trong khu vực Biển Đông
fantasy87 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn  
Unread 21-09-2008, 03:47 AM   #8
Default

PHÂN ĐỊNH BIỂN VIỆT NAM - THÁI LAN

Ngày 9/8/1997, tại Băng Cốc Thái Lan, Bộ trưởng Ngoại giao Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nguyễn Mạnh Cầm và đồng nghiệp, Ngài Prachuab Chaiyasan, Bộ trưởng Ngoại giao Vương quốc Thái Lan đã đặt bút ký Hiệp định về biên giới biển Việt Nam - Thái Lan, chấm dứt một phần tư thế kỷ tranh cãi giữa hai nước về giải thích và áp dụng luật biển trong phân định vùng chồng lấn Việt Nam - Thái Lan.
Vịnh Thái Lan (còn gọi là vịnh Xiêm) là một biển nửa kín, với diện tích khoảng 300.000 km2, giới hạn bởi bờ biển của bốn nước Thái Lan (1.560 km), Việt Nam (230 km), Malaixia (150 km) và Campuchia (460 km). Vịnh thông ra Biển Đông ở phía Nam bằng một cửa duy nhất hợp bởi mũi Cà Mau và mũi Trenggranu cách nhau chừng 400 km (215 hải lý). Vịnh khá dài (chừng 450 hải lý) nhưng có diện tích nhỏ, chiều rộng trung bình là 385 km (208 hải lý). Do đó, căn cứ vào các quy định mới Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982, toàn bộ Vịnh là đối tượng của các yêu sách mở rộng quyền tài phán của các quốc gia ven biển ra tới hạn 200 hải lý. Thái Lan và Việt Nam là hai nước có bờ biển đối diện, cùng có quyền mở rộng vùng biển của mình, do đó đã tạo ra một vùng chồng lấn rộng khoảng 6.074 km2.
Trong Vịnh, Thái Lan là nước đầu tiên đã thăm dò và khai thác dầu khí. Ngày 18/5/1973, Thái Lan đơn phương vạch ranh giới ngoài của thềm lục địa Thái Lan trong Vịnh và công bố các tọa độ của con đường này. Ranh giới này là đường trung tuyến giữa một bên là các đảo quan trọng của Thái Lan như Ko Phangun, Ko Samui và bờ biển Thái Lan... và bên kia là các đảo quan trọng và bờ biển của các quốc gia liên quan như đảo Rong, Xalem của Campuchia, Phú Quốc, mũi Cà Mau của Việt Nam... Đây là yêu sách tối đa của Thái Lan, khai thác việc xác định các "hoàn cảnh đặc biệt" theo Điều 6 của Công ước Giơnevơ năm 1958 về thềm lục địa mà Thái Lan là một bên phê chuẩn. Để vạch ranh giới này, Thái Lan đã bỏ qua các đảo xa bờ như đá Ko Kra, Ko Losin của Thái Lan, đảo Poulo Wai của Campuchia và quần đảo Thổ Chu của Việt Nam.
Đường yêu sách do chính quyền Việt Nam cộng hoà đưa ra năm 1971 được coi là đường trung tuyến được vạch giữa một bên là Hòn Khoai, Thổ Chu và Poulo Wai và bên kia là bờ biển Thái Lan và đảo Ko Phangun, không tính đến các đảo đá nhỏ Ko Kra và Ko Losin của Thái Lan.
Sở dĩ các bên có yêu sách khác nhau là do lập trường có tính đến vị trí của các đảo, quần đảo Thổ Chu nằm cách đảo Phú Quốc 55 hải lý trong khi các đá Ko Kra và Ko Losin của Thái Lan nằm cách bờ biển Thái Lan 26 và 37 hải lý tương ứng. Đảo xa bờ tuỳ theo vị thế của nó đều có hiệu lực trong phân định ranh giới biển giữa hai nước có bờ biển đối diện.
Trong thời gian từ năm 1977 đến năm 1982, Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua một loạt các văn kiện pháp lý liên quan đến phần biển Việt Nam trong Vịnh. Đó là Tuyên bố của Chính phủ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 12/5/1977 về các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam, Tuyên bố của Chính phủ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 12/11/1982 về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải ven bờ lục địa Việt Nam và Hiệp định về vùng nước lịch sử Việt Nam - Campuchia ngày 7/7/1982. Trong các văn kiện này, Việt Nam đã không vạch một ranh giới chính thức nào cho thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế. Việt Nam nhấn mạnh sẽ cùng các quốc gia liên quan thông qua thương lượng trực tiếp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, phù hợp với luật pháp và tập quán quốc tế, giải quyết các vấn đề về các vùng biển và thềm lục địa của mỗi bên.
Ngày 22/11/1982, Bộ Ngoại giao Thái Lan tuyên bố phản đối tuyên bố đường cơ sở của Việt Nam và "bảo lưu mọi quyền mà luật quốc tế giành cho mình liên quan đến các vùng biển này và vùng trời trên đó".
Ngày 19/8/1992, Thái Lan bổ sung các đá Ko Kra (8023'49" B 1000 44' 13'' Đ) và Ko Losin (70 10' 14'' B, 1010 59' 59'' Đ) vào hệ thống đường cơ sở của tuyên bố ngày 11/6/1970. Bang Cốc dường như đã đòi hỏi phải tính đến các đảo đá nhỏ chỉ nhô trên mặt nước 1,5 m, không người ở và không có một đời sống kinh tế riêng này trong phân định, trong khi lại tìm cách làm giảm tầm quan trọng của các đảo xa bờ thuộc quốc gia khác như đảo Thổ Chu có diện tích khoảng 10 km2 và 500 - 600 dân, xứng đáng phải có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng.

<FONT color=blue>Trong vịnh Thái Lan, các phay chạy theo hướng Bắc - Nam tính từ Tây sang Đông bao gồm: bồn Champon, thềm Samui, bồn Tây, bồn Kra, đứt gãy ngầm Ko Kra và rãnh sâu Pattani có độ dày trầm tích 6 km được coi là khu vực triển vọng có dầu. Đường yêu sách năm 1971 do chính quyền Việt Nam Cộng hoà vạch bao gồm phần lớn phía Bắc và rìa ngoài của bồn Mã Lai, trong khi yêu sách của Thái Lan bao phủ phần Tây - Bắc. Phía Tây các lô 15, 16 và cấu trúc B, nơi có những phát hiện lớn về khí đều nằm chồng lên vùng Việt Nam yêu sách. Do vậy, các hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí trong các lô này bị tạm thời gác lại. Nhằm khai thông quá trình thăm dò và khai thác dầu khí, Thái Lan đề nghị mở đàm phán với Việt
fantasy87 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn  
Unread 21-09-2008, 03:54 AM   #9
Default

Nam về vấn đề phân định biển. Thông cáo chung Việt
Tháng 6/1990, Thái Lan cấp đặc nhượng 8.000 km2 cho CFP - Total, bao gồm lô Total-1-B14, Total-1-B15 và Total-1-B16 nằm chồng lên các lô 40, 46, 51, 54, 55 và 58 mà Việt Nam đã cấp cho Petrofina (Bỉ) vào cùng thời gian đó. Tháng 6/1993, Total đã khoan giếng Ton Sak - 1, một cấu tạo nằm ở phía Đông của mỏ Bongkot và nằm sát đường yêu sách 1971 của Việt Nam. Trong năm 1994, tổ hợp công ty này đã khoan tiếp các giếng Ton Sak - 3, 4, 5, gặp khí condensat. Tranh chấp giữa hai nước lại đẩy hai bên một lần nữa tới bàn đàm phán. Hơn nữa, sự thay đổi tình hình chính trị trong khu vực và nhu cầu khai thác tài nguyên thiên nhiên đặt ra những vấn đề cần giải quyết thông qua một giải pháp cho tranh chấp. Ngày 15/11/1990, Bộ trưởng Phủ Thủ tướng Thái Lan trong chuyến thăm chính thức Việt Nam đã đề nghị với Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch một sự hợp tác chung phát triển dầu khí trong khu vực tranh chấp. Chuyến thăm Việt Nam ngày 17/9/1991, Thủ tướng Vương quốc Thái Lan cũng biểu lộ mong muốn giải quyết vấn đề phân định thềm lục địa giữa hai nước.
Tháng 10 năm 1991, trong lần gặp đầu tiên tại Băng Cốc Thái Lan của Uỷ ban hỗn hợp Việt - Thái về hợp tác kinh tế, khoa học và kỹ thuật, hai bên đã thông qua biên bản liên quan đến vấn đề phân định các vùng biển như sau:
a) Hai bên cần hợp tác xác định ranh giới các vùng biển do hai nước yêu sách;
b) Hai bên cần cố gắng phân định biên giới biển trong khu vực chồng lấn giữa hai nước; và
c) Một sự phân định như vậy không nên bao gộp các vùng chồng lấn do bất kỳ một nước thứ ba nào yêu sách.
Hai bên cũng đồng ý rằng, trong khi chờ đợi một sự phân định như vậy, không có một hoạt động phát triển hay đặc nhượng nào trong khu vực chồng lấn cho bất kỳ nhà thầu nào. Hai bên sẽ thông báo cho nhau không có một hoạt động phát triển hay đặc nhượng nào trong khu vực Việt Nam yêu sách chồng lên vùng phát triển chung giữa Thái Lan và Malaixia.
Trong bối cảnh đó, phía Thái Lan đề nghị trong trường hợp các cố gắng nêu ở điểm (b) thất bại thì hai bên có thể xem xét áp dụng khái niệm vùng phát triển chung phía Thái Lan.
Phân định vùng đặc quyền kinh tế cũng nằm trong mối quan tâm của chính phủ hai nước. Việc đánh bắt cá bất hợp pháp của ngư dân Thái Lan trong các vùng biển của các nước láng giềng đã gây tổn hại không chỉ tới nguồn tài nguyên thiên nhiên của các quốc gia này mà còn cả thanh danh của Chính phủ Thái Lan. Trong quan hệ với Việt Nam, Thái Lan đã nhiều lần thể hiện nguyện vọng ký kết một hiệp định về nghề cá và xác định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế. Đó là những biện pháp hữu hiệu nhất để ngăn chặn nạn đánh bắt cá bất hợp pháp. Ngày 23/2/1988, Vương quốc Thái Lan tuyên bố về vùng đặc quyền kinh tế của mình. Tuyên bố này không đưa ra một ranh giới thật sự nào của vùng đặc quyền kinh tế Thái Lan.
Như vậy, giữa Thái Lan và Việt Nam có hai vấn đề cần giải quyết, đó là phân định thềm lục địa và phân định vùng đặc quyền kinh tế. Vịnh Thái Lan không sâu và có bề rộng không vượt quá 300 hải lý nên bản thân nó đã tạo ra một hoàn cảnh hữu quan. Đường phân chia sẽ được xác định chủ yếu căn cứ vào các hoàn cảnh địa lý.
Do được đánh giá có tiềm năng dầu khí trên một thềm lục địa duy nhất trong Vịnh, hai bên hữu quan, Việt Nam và Thái Lan, đều có nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào việc sản xuất dầu khí, có cùng mối quan tâm giành được phần thềm lục địa nhiều nhất có thể. Hơn nữa, các bên không quên giành được sự kiểm soát tối đa cột nước phía trên thềm lục địa phân chia, một vùng biển quan trọng đối với công nghiệp đánh bắt cá. Rõ ràng vùng đặc quyền kinh tế đóng một vai trò không thể bỏ qua trong phân định thềm lục địa.
Ngày 7 - 10/9/1992, cuộc họp cấp chuyên viên đầu tiên về phân định thềm lục địa giữa hai nước đã được tiến hành tại Băng Cốc. Phía Việt Nam đề nghị phân chia vùng chồng lấn hình thành giữa hai đường 1971 và 1973, phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế, đặc biệt với Điều 74 và 83 của Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982 về phân định theo nguyên tắc công bằng. Phía Thái Lan đòi hỏi lấy đường 1973 làm cơ sở phân định, đòi hỏi Việt Nam phải điều chỉnh đường 1971. Nói cách khác, Thái Lan không chấp nhận sự tồn tại vùng chồng lấn giới hạn bởi các đường 1971, 1973 và hiệu lực của đảo Thổ Chủ trong phân định. Cuộc họp tiếp theo tại Hà Nội từ ngày 20 - 23/5/1993, nhằm thúc đẩy đàm phán, phía Việt Nam đã đề nghị chia 50/50 vùng chồng lấn 1971 - 1973, nhưng phía Thái Lan vẫn giữ lập trường cũ.
Tới vòng đàm phán III từ ngày 10 - 13/1/1995, phía Thái Lan đã thể hiện có chuyển biến tích cực khi không bác bỏ đường 1971, và nêu nguyên tắc "mọi đường phân chia phải phản ánh một giải pháp công bằng" - nguyên tắc mà phía Việt Nam đã đề cập đến ngay từ đầu.
Như vậy, hai bên đã thống nhất cần áp dụng nguyên tắc công bằng trong phân định để đi đến một giải pháp công bằng. Hai bên đều đồng ý áp dụng phương pháp trung tuyến trong phân định. Tuy nhiên, hai bên lại có bất đồng sâu sắc trong việc giải thích thế nào là công bằng, cần phải tính đến các yếu tố công bằng nào trong phân định và đường trung tuyến được tính giữa bờ và bờ hay giữa đảo và đảo. Phân định thềm lục địa Việt Nam - Thái Lan chính là giải quyết sự không thống nhất giữa các bên về xác định hiệu lực của các đảo. Điều này thể hiện cuộc đấu tranh pháp lý dai dẳng giữa các bên trong suốt các vòng đàm phán tiếp theo: vòng IV từ ngày 5 - 9/6/1995, vòng V từ ngày 28 - 31/8/1995. Phía Việt Nam, căn cứ Điều 121 Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982 cho rằng, quần đảo Thổ Chu mà đảo lớn nhất là đảo Thổ Chu có diện tích khoảng 10 km2 và 500 - 600 dân xứng đáng phải có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng. Các đá Ko Kra và Ko Losin của Thái Lan chỉ nhô trên mặt nước 1,5 m, không có người ở và không có một đời sống kinh tế riêng, nên không thể được coi như đảo Thổ Chu. Các đá này nằm cách bờ biển Thái Lan 26 và 37 hải lý. Phía Thái Lan cho rằng vị trí quần đảo Thổ Chu, nằm cách đảo Phú Quốc 55 hải lý, tạo một hiệu lực sai lệch đường biên giới biển có thể. Thái Lan công nhận đảo có quyền có hiệu lực nhưng không phải là một hiệu lực toàn phần. Theo Thái Lan, vấn đề xác định hiệu lực đảo trong phân định còn rất khác nhau, chưa có một tiêu chuẩn thống nhất, thể hiện qua thực tiễn quốc tế và các phán quyết của Tòa án pháp lý quốc tế. Thái Lan đề nghị cho đảo Thổ Chu hưởng 25 - 30% hiệu lực và chấp nhận dành tối đa cho phía Việt Nam 30% diện tích vùng chồng lấn. Tuy nhiên tới vòng VI, những biến chuyển chính trị trên chính trường Thái Lan đã tác động đến tình hình đàm phán.
Sau khi quan hệ giữa hai nước phát triển thêm với chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Thái Lan tháng 3 năm 1997 và kết quả kỳ họp lần thứ nhất của Uỷ ban Hỗn hợp Việt - Thái về hợp tác kinh tế cũng như thiết lập trật tự trên biển và nghề cá, đàm phán đã tiến triển trở lại. Trong cuộc đàm phán nối lại vòng VIII tại Đà Lạt, từ ngày 30/5 - 3/6/1997, hai bên đã đồng ý giải quyết đồng thời cả hai vấn đề phân định thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế bằng một đường ranh giới duy nhất.
Khu vực phân định mà Hiệp định ngày 9/8/1997 điều chỉnh được xác định trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc không nên bao gộp các vùng chồng lấn do bất kỳ một nước thứ ba nào yêu sách. Khu vực này được giới hạn ở phía Bắc và phía Nam bằng các đường yêu sách 1971, 1973. Phía Tây được giới hạn bởi đường "dàn xếp tạm thời" giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Campuchia năm 1991 trong một tuyên bố chung thoả thuận hai bên không tiến hành bất kỳ hoạt động phát triển dầu khí nào ở ngoài đường trung tuyến giữa Thổ Chu và Poulo Wai cho đến khi có một giải pháp cuối cùng. Phía Đông được giới hạn bởi ranh giới khu vực phát triển chung Thái Lan - Malaixia năm 1979. Tuy nhiên Việt Nam bảo lưu quyền của mình trong vùng chồng lấn ba bên Việt Nam - Th ái Lan - Malaixia. Việc lấy ranh giới khu vực phát triển chung Thái Lan - Malaixia làm ranh giới cho vùng cần giải quyết chỉ có ý nghĩa là mọi giải pháp giữa Việt Nam và Thái Lan không gây ảnh hưởng gì tới yêu sách của Malaixia, bên thứ ba, trong vùng này.
Sau chín vòng đàm phán, hai bên đã đi đến thoả thuận:
1. Đường phân chia thoả thuận là một đường thẳng kẻ từ điểm C (70 49'0" B, 103002'30" Đ), tới điểm K (8046'54"B; 102012'11"Đ). Điểm C chính là điểm nhô ra nhất về phía Bắc của khu vực phát triển chung Thái Lan - Malaixia được xác định rõ trong bản ghi nhớ ngày 21/2/1979, và trùng với điểm 43 của đường yêu sách thềm lục địa của Malaixia năm 1979. Điểm K nằm trên đường thẳng cách đều Thổ Chu và Poulo Wai, đây là đường "dàn xếp tạm thời" Việt Nam - Campuchia năm 1991. Với hiệu lực 32,5% của đảo Thổ Chu, đường phân định thoả thuận này trên thực tế cho thấy Việt Nam được hưởng 1/3 diện tích và Thái Lan được hưởng 2/3 diện tích vùng chồng lấn.
2. Đường biên giới biển CK tạo thành biên giới phân định thềm lục địa giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc Thái Lan, đồng thời cũng là đường phân định vùng đặc quyền kinh tế giữa hai nước. Mỗi bên ký kết đều thừa nhận các quyền chủ quyền và tài phán của bên kia trên vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế nằm trong phạm vi đường biên giới biển được xác lập bởi Hiệp định.
3. Trong trường hợp có cấu trúc dầu hoặc khí duy nhất hoặc mỏ khoáng sản có tính chất bất kỳ nào nằm vắt ngang đường biên giới thì hai bên phải có trách nhiệm trao đổi thông tin, cùng tìm kiếm thoả thuận sao cho các cấu trúc hoặc mỏ này được khai thác một cách hiệu quả nhất và chi phí cũng như lợi tức từ việc khai thác sẽ được phân chia một cách công bằng.
4. Hai bên cũng cam kết sẽ tiến hành đàm phán với Malaixia về khu vực yêu sách thềm lục địa chồng lấn giữa ba nước, nằm trong vùng phát triển chung Thái Lan - Malaixia được xác định bởi Bản ghi nhớ giữa Vương quốc Thái Lan và Malaixia về thành lập cơ quan quyền lực chung khai thác tài nguyên đáy biển trong khu vực thềm lục địa xác định của hai nước trong vịnh Thái Lan, ký tại Chiềng Mai ngày 21/2/1979.
Hiệp định ngày 9/8/1997 đã mở ra một trang mới không chỉ trong lịch sử quan hệ giữa Việt Nam - Thái Lan mà cả trong lịch sử phân định vịnh Thái Lan. Hiệp định bao gồm những điểm nổi bật sau:
- Đây là hiệp định phân định biển đầu tiên đạt được trong vịnh Thái Lan. Ngoài tranh chấp giữa Việt Nam và Thái Lan, vẫn tồn tại vấn đề phân định biển giữa Việt Nam - Campuchia, Campuchia - Thái Lan, Việt Nam - Thái Lan - Malaixia và Việt Nam - Campuchia - Thái Lan.
- Đây là hiệp định về phân định biển đầu tiên được ký kết tại khu vực Đông Nam Á sau khi Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982 có hiệu lực, đồng thời cũng là hiệp định về phân định toàn bộ các vùng biển đầu tiên trong khu vực. Trong khu vực, đã có Hiệp định về phân định thềm lục địa giữa Inđônêxia và Malaixia ngày 27/10/1969 và ngày 21/12/1971, phân định thềm lục địa giữa Inđônêxia và Thái Lan ngày 17/12/1971 và phân định thềm lục địa giữa Thái Lan và Malaixia ngày 21/12/1971; Bản ghi nhớ Thái Lan - Malaixia ngày 21/2/1979 về thiết lập Cơ quan quyền lực chung nhằm khai thác tài nguyên đáy biển trong khu vực xác định trong vịnh Thái Lan, Hiệp định về khai thác chung Việt Nam - Malaixia ngày 5/6/1992, nhưng đây là lần đầu tiên có một hiệp định phân chia cả thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế giữa hai nước thành viên ASEAN có tranh chấp biển.
- Hiệp định này đã khẳng định xu thế có thể thoả thuận về một đường biên giới biển duy nhất phân định đồng thời thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế trong các vùng biển không rộng quá 400 hải lý giữa các bờ biển đối diện nhau.
- Cùng với việc ký kết Hiệp định về phân định, hai Chính phủ còn đạt được thoả thuận về hợp tác bảo đảm an ninh trên biển và bảo vệ nguồn tài nguyên sinh vật trong vịnh thông qua việc tổ chức tuần tra chung giữa Hải quan Thái Lan và lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam; tổ chức tuyên truyền, giáo dục ngư dân hai nước tôn trọng quy định về đánh cá và bảo vệ nguồn tài nguyên sinh vật.
- Quá trình yêu sách kéo dài từ những năm 1971, 1973, nhưng quá trình đàm phán để đạt được hiệp định giải quyết vấn đề đã được tiến hành trong một thời gian ngắn. Trong vòng năm năm, từ 1992 đến 1997, với chín vòng đàm phán, hai bên đã nhanh chóng đi đến kết quả cuối cùng, thể hiện thiện chí của cả hai nước Việt Nam - Thái Lan, tinh thần hợp tác phát triển giữa các nước thành viên ASEAN. Nên nhớ Thái Lan và Malaixia đã mất hơn 10 năm đàm phán để tìm một giải pháp cho tranh chấp thềm lục địa giữa họ trên vùng chồng lấn rộng 7.250 km2. Năm 1979, họ mới đạt được một thoả thuận về thành lập Cơ quan quyền lực chung phát triển chung vùng chồng lấn đó và phải tới năm 1992 cơ quan này mới được thành lập và chính thức đi vào hoạt động. Việc giải quyết một cách nhanh chóng và chính xác vấn đề phân chia vùng chồng lấn đã thể hiện quyết tâm của hai nước trong khu vực trong việc thực thi Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982, mà Việt Nam và Thái Lan đều là các nước thành viên.
- Đối với Việt Nam, đây là Hiệp định phân định biển đầu tiên đạt được với các nước láng giềng. Việt Nam là nước có số lượng các tranh chấp biển liên quan nhiều nhất trong số các tranh chấp biển của khu vực. Hiệp định ngày 26/7/1997 có tác động nhất định thúc đẩy các cuộc đàm phán giải quyết tranh chấp biển giữa Việt Nam với các nước hữu quan trên tinh thần khoản 7, Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 12/5/1977 về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam.
- Hiệp định phân định biển này tạo ra môi trường thuận lợi cho việc phát triển tình đoàn kết hữu nghị giữa hai nước Việt Nam - Thái Lan, góp phần đảm bảo ổn định an ninh trật tự trên biển, đẩy mạnh sản xuất dầu khí giữa hai nước. Nó mãi mãi là một mốc son trong lịch sử quan hệ giữa hai nước.
fantasy87 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn  
Unread 21-09-2008, 03:58 AM   #10
Default

HIỆP ĐỊNH VỀ VÙNG NƯỚC LỊCH SỬ
VIỆT NAM - CAMPUCHIA
I. Tình hình tranh chấp về chủ quyền các đảo và ranh giới biển trước khi ký kết Hiệp định vùng nước lịch sử năm 1982
1. Khái quát
Việt Nam và Campuchia là hai nước láng giềng có vùng biển kế cận nhau. Trong lịch sử, hai bên có vấn đề tranh chấp chủ quyền đòi hỏi một số đảo ven bờ và chưa tiến hành đàm phán phân định ranh giới lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.
Năm 1982, hai bên đã ký Hiệp định về vùng nước lịch sử, trong đó xác định rõ chủ quyền đảo của mỗi bên theo một đường mà Toàn quyền Đông Dương Jules Brévié đề xuất năm 1939, thiết lập một vùng nước lịch sử chung hai bên cùng nhau kiểm soát và quản lý; các hoạt động đánh bắt hải sản được thực hiện theo tập quán như cũ; mọi hoạt động liên quan đến thăm dò dầu khí trong vùng nước lịch sử phải có ý kiến nhất trí của bên kia mới được tiến hành.
Hai bên còn phải tiếp tục đàm phán để xác định ranh giới biển trong vùng nước lịch sử, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Năm 1983, hai bên đã ký Hiệp ước về nguyên tắc giải quyết vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Campuchia, trong đó nêu rõ hai bên sẽ tiếp tục giải quyết vấn đề tồn tại trên theo tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, vì lợi ích quan hệ hợp tác hữu nghị giữa hai nước, phù hợp với pháp luật quốc tế và thực tiễn quốc tế.
2. Giải quyết vấn đề tranh chấp chủ quyền đảo
Giữa bờ biển Việt Nam và Campuchia có trên 150 hòn đảo lớn và nhỏ, được chia thành bẩy cụm và một số đảo lẻ. Ngoài một số đảo lớn như Phú Quốc có diện tích 573 km2, Phú Dự - 25 km2, Thổ Chu - 10 km2 và một số đảo như Hòn Dứa, Nam Du trên dưới 5 km2, còn lại các đảo đều nhỏ có diện tích dưới 1 km2.
Cho tới đầu thế kỷ XVII, các đảo trên còn hoang vu chưa có người đến ở. Có một số đảo là sào huyệt của cướp biển từ Triều Châu và Quảng Đông (Trung Quốc) tới.
Năm 1671, Mạc Cửu, người Quảng Đông (Trung Quốc) đã chiêu mộ nhân dân ra khai khẩn, bình định cướp biển và lập nên một trấn gồm bẩy xã, trong đó bao gồm phần lớn các đảo ven bờ của Campuchia hiện nay. Năm 1708, Mạc Cửu được Chúa Nguyễn phong làm Tổng binh cai quản trấn Hà Tiên (1714). Từ đó, việc khai phá đất hoang và quản lý các đảo cũng được triều đình nhà Nguyễn tích cực xúc tiến.
Sau khi chiếm xong Nam Kỳ, từ năm 1869, Pháp đã tiến hành khảo sát các đảo trong vịnh Thái Lan. Căn cứ vào kết quả khảo sát, ngày 25/5/1874, Thống đốc Nam Kỳ ra Nghị định số 124, tổ chức các đảo ven bờ Việt Nam và Campuchia thành một quần đảo trực thuộc tỉnh Hà Tiên, Nam Kỳ.
Từ năm 1913 bắt đầu nảy sinh các tranh chấp về thẩm quyền đặc nhượng khai thác tài nguyên và quyền thu thuế, việc bảo vệ trị an trên các đảo nằm dọc theo bờ biển Việt Nam - Campuchia.
Để giải quyết các mâu thuẫn về quản lý giữa Khâm sứ Cao Miên và Thống đốc Nam Kỳ và bảo đảm an ninh trật tự trên vùng biển này, ngày 31/1/1939, toàn quyền Đông Dương đã viết một bức thư, số 867 - API (sau này có ý kiến lầm tưởng đó là Thông tư Brévié) quyết định vạch một đường phân chia quyền quản lý hành chính và cảnh sát giữa hai bên. Đường này được mô tả trong thư như sau: "...tôi quyết định rằng tất cả các đảo nằm ở phía Bắc một đường vuông góc với bờ biển xuất phát từ đường biên giới giữa Cambodge và Nam Kỳ và lập thành một góc 1400 G với kinh tuyến Bắc, đúng theo bản đồ kèm theo đây, từ nay sẽ do Cambodge quản lý. Đặc biệt, chính quyền bảo hộ sẽ đảm nhiệm vấn đề cảnh sát của các đảo này. Tất cả các đảo ở phía Nam con đường này, kể cả toàn bộ đảo Phú Quốc, sẽ tiếp tục do Nam Kỳ quản lý. Đã quyết định con đường được vạch như vậy chạy vòng qua Bắc đảo Phú Quốc, cách các điểm nhô ra nhất của bờ biển phía Bắc đảo Phú Quốc 3 km".
Bức thư cũng nêu rõ: "Đương nhiên là ở đây chỉ đề cập vấn đề hành chính và cảnh sát, còn vấn đề quy thuộc lãnh thổ của các đảo này hoàn toàn được bảo lưu".
Điều cần nói nữa là, đến nay cả hai bên Việt Nam và Campuchia đều không có bản đồ thể hiện đường Brévié kèm theo bức thư này. Theo lời văn này, có nhiều cách thể hiện các đường Brévié theo các cách hiểu khác nhau (ít nhất là có bốn cách vẽ đường Brévié khác nhau) và không thể khẳng định được cách vẽ nào là đúng.
Nghị định số 104/1368 của Bollaert, Cao uỷ Pháp ở Đông Dương ban hành ngày 13/4/1948 về hành hải và đánh cá cũng không coi đường Brévié là đường ranh giới trên biển. Nội dung này quy định rõ tại Điều 7 "Vùng biển Nam Kỳ bao gồm lãnh hải và vùng tiếp giáp của đảo Phú Quốc thuộc Nam Kỳ". Trong Điều 6 của văn bản này cũng quy định, lãnh hải có chiều rộng 3 hải lý và vùng tiếp giáp là 20 km tính từ mực nước triều thấp nhất.
Các học giả trên thế giới trong đó có Sarin Sahk (sau này là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Campuchia) cũng không coi đường Brévié là đường biên giới biển. Trong luận án tiến sĩ của mình, được Hoàng thân Sihanouk viết lời tựa và xuất bản tại Pari năm 1966, Sarin Sahk đã viết "Câu cuối cùng của thông tư này quá rõ ràng. Vấn đề chủ quyền được bảo lưu. Nhưng nếu vấn đề này được bảo lưu thì điều đó không có nghĩa là nó được coi như có lợi cho nước này hay nước kia. Vấn đề còn treo lại, hoàn toàn được treo lại."
Trong suốt quá trình lịch sử của hai nước qua các chế độ khác nhau ở Campuchia và miền Nam Việt Nam, đường Brévié chưa bao giờ được thừa nhận là đường phân chia chủ quyền các đảo và đường biên giới biển.
Như vậy, từ đầu thế kỷ XVIII cho đến trước năm 1939, về lịch sử và pháp lý, toàn bộ các đảo giữa Việt Nam và Campuchia thuộc chủ quyền của Việt Nam. Chỉ từ năm 1939, Campuchia mới chính thức quản lý về mặt hành chính và cảnh sát các đảo ở phía Bắc đường Brévié. Tuy vậy, chính quyền Nam Kỳ và sau đó là chính quyền Sài Gòn không chấp nhận, vẫn coi các đảo Wai, Phú Dự, Tiên Mối và nhóm Bắc Hải Tặc thuộc chủ quyền Việt Nam. Đến năm 1956, Campuchia đưa quân ra chiếm đảo Phú Dự, chiếm nhóm đảo Bắc Hải Tặc năm 1958 và đảo Wai năm 1966.
Năm 1957, Quốc vương Campuchia ra sắc lệnh quy định đường cơ sở thẳng của Campuchia là đường nối liền các điểm chuẩn trên đất liền và các đảo ven bờ của Campuchia và quy định lãnh hải của Campuchia là 5 hải lý. Sắc lệnh này cũng quy định ranh giới trên biển với các quốc gia kế cận là đường vuông góc với đường cơ sở kéo ra biển 5 hải lý (đối với Việt Nam, đường này còn lệch về phía Việt Nam hơn so với đường Brévié), ranh giới ngoài thềm lục địa của Campuchia là đường đẳng sâu 50 m.

<FONT color=red>Trong năm 1972, chính quyền Lonnol ra Sắc lệnh về ranh giới thềm lục địa (số 439 - 72/PRK, ngày 1/7/1972) và Sắc lệnh quy định hệ thống đường cơ sở và lãnh hải Campuchia (số 518 - 72/PKR, ngày 12/8/1972) quy thuộc các đảo Phú Quốc và Thổ Chu của Việt
fantasy87 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn  
Closed Thread

Ðiều Chỉnh

Chuyển đến


Bây giờ là 07:33 AM. Theo múi giờ GMT +7.